Bắc Hàn chấn động sau đổi tiền

Bắc Hàn chấn động sau đổi tiền
Marcus Noland

Viện Kinh tế Quốc tế Peterson

Việc Bắc Hàn đột nhiên đổi tiền đã gây bất ổn cho nền kinh tế, nhưng liệu nó có làm biến động cả bầu chính trị nước này nữa hay không?

Hôm 30/11/2009, Bắc Hàn bất ngờ tung ra đợt cải cách trưng thu tiền tệ, nhằm trấn áp các thị trường tư đang manh nha và vực dậy chủ nghĩa xã hội.

Hành động này đúng như dự kiến đã gây ra hỗn loạn, và giờ đây, có vẻ như chính phủ đã phải lùi bước, đồng ‎ý với việc tái mở lại các chợ tư.

Câu hỏi giờ đây là chuyện này sẽ có tác động như thế nào tới việc chuyển giao lãnh đạo sắp tới của Bắc Hàn?

Trong thập niên 1990, nhà nước Bắc Hàn thấy rằng họ không còn khả năng hoàn tất các nghĩa vụ của hệ thống kế hoạch hóa tập trung. Kết quả là nền kinh tế Bắc Hàn bị buộc phải chấp thuận một số nguyên tắc của thị trường tự do.

Các đơn vị xã hội quy mô nhỏ – như các hộ gia đình, đơn vị lao động, văn phòng chính quyền địa phương và cơ quan đảng – thậm chí cả các đơn vị quân sự nhỏ, bắt đầu phải kinh doanh để tồn tại.

Áp lực thị trường tự do từ người dân bên dưới được thúc đẩy mạnh thêm trong thời kỳ diễn ra nạn đói vào giữa những năm 90, khi có khoảng từ 600 ngàn đến một triệu dân, tức 3 đến 5% dân số khi đó, thiệt mạng.

Chính quyền Bắc Hàn cảm thấy hết sức không an tâm về các hậu quả chính trị trong nước do thay đổi kinh tế. Đôi khi, họ đồng ý đánh giá tình hình thực địa, nhưng đôi khi họ lại đảo ngược cả tiến trình.

Xu hướng trong 5 năm qua thường xuyên là tiêu cực, và biện pháp cải cách trưng thu tiền tệ vừa qua có thể được hiểu là biện pháp mới nhất trong một loạt các động thái nhằm tái khẳng định sự kiểm soát của nhà nước đối với kinh tế.

Không báo trước

Trên nguyên tắc, cải cách tiền tệ không phải là chuyện xấu.

Các chính phủ thường sử dụng biện pháp này để ra dấu sau một thời gian lạm phát cao là những ngày tồi tệ đã qua, và họ sẽ theo đuổi các chính sách kinh tế vĩ mô hợp lý hơn trong tương lai.

Thông thường, một chính phủ sẽ đưa ra một loại tiền tệ mới với lượng số thập phân nhất định hoặc bỏ bớt đi các số 0, và thường liên hệ mệnh giá tiền mới với một loại tiền thông dụng như dollar hay euro.

Trong những năm gần đây, các nước như Thổ Nhĩ Kỳ, Romania và Ghana đã thực hiện những biện pháp cải cách tương tự.

Biểu đồ về chi phí gia tăng tại Bắc Hàn

Trường hợp Bắc Hàn lại đặc biệt khác với thông lệ, ở chỗ hành động này bị áp đặt lên dân chúng mà không có khuyến cáo từ trước; và nghiêm trọng nhất, người ta áp đặt một hạn chế lớn đối với khả năng chuyển đổi tiền mặt.

Trên thực tế, điều này xóa đi một lượng lớn tiền tiết kiệm của các hộ gia đình cũng như vốn hoạt động của rất nhiều công ty tư nhân.

Người dân được lệnh là trong một tuần, họ phải đổi một lượng tiền cũ hạn chế thành tiền mới, với tỉ lệ 100 ăn 1 (có nghĩa là một won mới bằng 100 won cũ).

Tuy nhiên, mức hạn chế này có nghĩa là số tiền họ được phép đổi chỉ mua được chừng 50kg gạo với giá thị trường.

Tuyên bố này khiến cho người dân hốt hoảng đổ xô đi mua sắm, vì họ phải làm sao tiêu nhanh số tiền chẳng mấy chốc sẽ không còn giá trị. Họ phải mua ngoại hối hoặc các hàng hóa, đồ đạc có khả năng giữ giá.

Khi giá đồng won của Bắc Hàn suy sụp tại các chợ đen, chính phủ ra thêm sắc lệnh cấm sử dụng ngoại tệ, đặt mức giá chính thức đối với các mặt hàng, và hạn chế thời gian mà các chợ và hàng hóa được phép mua bán một cách hợp pháp.

Vật tế thần

Tuy nhiên, khi xã hội bắt đầu đưa ra phản kháng lại các hành động này, chính phủ buộc phải thoái lui, đưa ra đề nghị tăng lương bồi thường, đôi khi là trả lương công nhân vẫn ở mức cũ nhưng bằng tiền mới, có nghĩa là tăng gấp 100 lần thu nhập.

Kết quả là các chợ bị tan rã, do các thương nhân cảm thấy bị đe dọa vì quy định thay đổi đã quyết định giữ lại hàng hóa cung cấp, khiến cho nhiều người dân được biết phải áp dụng phương thức hàng đổi hàng.

Chính phủ nay phải nới lỏng hạn chế về thị trường tự do

Tin tức – vốn rất khó nếu không nói là không thể kiểm chứng được – cho hay đã có các biểu tình, bất ổn dân sự, thậm chí cả các vụ tấn công nhân viên chính phủ đang tìm cách áp đặt các biện pháp hạn chế mới này.

Trong diễn biến mới nhất, chính phủ có vẻ như lùi bước, giảm bớt hạn chế thị trường và theo một số nguồn tin, đã đưa ông Pak Nam-gi, Giám đốc Tài chính của đảng Lao động Bắc Triều Tiên, làm con vật tế thần vì chính sách thất bại.

Tính chính trị của vấn đề này vẫn còn để lại quá nhiều câu hỏi chưa có câu trả lời.

Cho dù thực tế là đợt đổi tiền vừa rồi là sự kiện kinh tế lớn nhất trong năm, nó không được nhắc gì tới trong các ấn bản chính thức hay xã luận ngày đầu Năm mới.

Một số tin tức từ các mạng lưới của người Bắc Hàn hải ngoại cho biết chính sách này được đưa ra bởi Kim Jong-eun, con trai thứ ba của lãnh đạo Bắc Hàn, người được cho là sẽ lên thay bố. Hành động này cũng được cho là để đánh dấu sự xuất hiện của ông ta như một nhân vật chính trị lớn.

Giờ đây, câu hỏi vẫn còn để ngỏ là liệu thất bại thảm hại này sẽ làm tổn hại đến đâu triển vọng kế nghiệp của ông ta tại một nhà nước tuy thất bại nhưng lại có vẻ có khả năng hạt nhân.
BBC

Bàn về phúc lộc thọ

ĐÃ PHÚC, ĐÃ LỘC, LẠI CÒN THỌ!
Trần Huy Thuận

Năm hết Tết đến, mọi người lại tiến hành việc trang hoàng nhà cửa để đón xuân! Bộ Tam đa Phúc – Lộc – Thọ thế nào cũng được chủ nhân chăm chút nhiều nhất. Cũng là điều hiển nhiên, bởi “Phúc”, “Lộc”, “Thọ” là ba điều mơ ước thường nhật của mỗi người, mỗi nhà! Vì lẽ này mà cũng có người chê bai, bình phẩm rằng:
Đã Phúc, đã Lộc lại còn Thọ!
Sao tham nhiều thế hỡi nhân gian?
Chẳng trách Đảng ta “xây, chống” mãi
Mà phường tham nhũng vẫn trơ gan!
Chẳng qua tức cảnh mà nói đùa thôi, chứ ai chẳng mong cha mẹ, ông bà và bản thân trường thọ? Còn phúc và lộc thì biết mức nào là đủ? Xưa các cụ dạy: “Một con một của ai từ?”! Cái cần nói là hưởng sao cho chính đáng, cho hợp đạo Trời, lòng người!
***

Lộc
Trước hết xin bàn về chữ Lộc. Lộc dù là tranh, là tượng hay là chữ, cũng không bao giờ đứng riêng một mình. Bao giờ cũng đứng cùng hai ông Phúc, Thọ thành bộ tam đa! Phải chăng người ta, nhất là các quan không muốn cái ham muốn của mình nó thể hiện ra một cách lộ liễu quá? Cũng không phải ngẫu nhiên mà người xưa đặt Lộc vào vị trí trung tâm, hai bên là Phúc và Thọ. Đấy chính là ý răn dậy sâu xa của Tiền nhân với hậu thế: Hưởng Lộc phải nghĩ đến tạo Phúc, cầu Thọ. Nhắm mắt thu Lộc bất minh, bất chấp Phúc, Thọ, thì thật nguy hại!
Trong bộ tam đa, ông Lộc được hình tượng bằng một vị quan “cân đai bối tử” đề huề! Điều đó thể hiện một điều: đã làm quan, tất có lộc; lộc tức là quan! – Như vậy, có thể khẳng định, từ xa xưa, dân ta đã biết, đã hiểu: lộc với chức quan, là một! Các Quan cũng không nên cho nhận định như thế là xúc phạm đến bản thân!
Lộc, có thứ của vua ban, có loại của dân biếu. Vua ban để úy lạo bầy tôi của mình, đã chí công vô tư, thay vua cai quản, chăn dắt đám dân chúng dưới quyền! Còn dân kính biếu quan, để bày tỏ lòng biết ơn về một công việc gì đó, quan đã vì quyền lợi chính đáng của dân, mà làm. Như vậy hoàn toàn có thể nói Lộc chính là sự ghi nhận công lao các quan: công lao với dân và công lao với vua, với nước. Có công lao thì có lộc! Và đấy cũng là tiêu chí để phân biệt quà “biếu” với “hối lộ”! Không công lao, mà nhận quà, nhận thưởng, thì đó là thứ hưởng thụ bất minh, bất chính! Ví như ai đó lợi dụng chức quyền mà o ép, bắt nạt dân lấy tiền; hoặc nhận tiền của kẻ bất lương rồi bỏ qua luật lệ, phép tắc, đạo lý, chà đạp lên quyền lợi chính đáng của dân lành – thì những đồng tiền như thế làm sao có thể gọi là Lộc được? Mà có cố tình ngụy biện đó là lộc thì thứ lộc ấy cũng không bền, hưởng nó sẽ chuốc họa vào thân – không chóng thì chầy, không nhãn tiền thì cuối đời, như cách nói của dân gian, cũng lãnh đủ. Xem ra, điều này hầu như không hề có ngoại lệ! Thực tế cuộc sống đã từng kiểm chứng!
Hưởng Lộc phải nghĩ đến tạo Phúc, cầu Thọ. Phải chăng cũng chính vì lẽ ấy mà người ta bao giờ cũng thờ cùng một lúc ba vị tam đa Phúc – Lộc – Thọ!

Phúc
Thế nào là có phúc?
Quan niệm phổ biến xưa kia đều cho rằng người nào có con (trai) cháu (trai) tức có người nối dõi tông đường, là người có Phúc. Vì lẽ này mà Phúc có hình tượng một cụ già có đàn con cháu đông đúc vây quanh! Đó là suy nghĩ lỗi thời, nhiều năm trước tưởng đã rơi vào quên lãng; ai ngờ gần đây lại phục hồi và phát triển khá mạnh mẽ, dẫn đến nguy cơ mất cân bằng giới tính! Có con có cháu mà chúng lại bất hiếu, thậm chí lại mắc vào nghiện ngập ma túy, trộm cắp, tham nhũng, thì bất hạnh đó còn lớn gấp nhiều lần nỗi bất hạnh không con!
Một quan niệm khác cũng khá phổ biến: “Con hơn cha là nhà có phúc” có thật đúng như vậy không? Bởi vì nếu công nhận điều ấy, thì, tất cả những nhà mà con cái không vượt qua được cái bóng của người cha, đều vô phúc cả sao? Cái mệnh đề này hiểu theo nghĩa tương đối thì có thể chấp nhận, chứ quyết đoán tuyệt đối thì e không thông! Đấy là chưa suy xét tới nội dung của cái hơn đó là gì! Bởi nếu sự hơn lại ở chỗ ăn chơi, hưởng thụ thì đấy chắc chắn là sự vô phúc rồi, chứ đâu còn là phúc?
Học thuyết Phong thủy thì cho rằng, việc đặt mồ mả tổ tiên có ý nghĩa quyết định đến việc ai trong dòng tộc được hưởng Phúc (gọi là âm phúc). Vì lẽ này mà nhiều khi sinh ra nghi ngờ động cơ của nhau, cho rằng người đề xướng có thể chỉ nghĩ đến lợi cho phía đằng mình. Thế là mâu thuẫn nặng nề, thậm chí dẫn đến từ nhau trong gia tộc, sau khi xây mộ gia tiên!
Làm việc thiện, giúp đỡ người khó khăn, người hoạn nạn, cũng được coi là làm phúc. Với ý nghĩa này thì phúc và đức thường gắn chặt, đi đôi với nhau.
Mỗi khi ai đó thoát khỏi một mối nguy cơ nào đấy, như vượt qua được một căn bệnh hiểm nghèo; một tai nạn khủng khiếp. Hoặc thoát khỏi sự liên lụy tới một vụ bê bối về tài chính, một vụ làm ăn phi pháp vừa bị đổ bể! Trong những trường hợp như thế, người ta thường xoa tay: “Phúc quá, không thì chết, chết cả nút!” – Phúc đây là “Phúc ấm của Tổ tiên!”.
Phổ biến nhất là quan điểm: Tạo phúc là một quá trình của nhiều đời, nhiều thời gian (phúc dày). Chính vì thế mà có câu: “Nhờ phúc bảy mươi nhăm đời nhà nó, chứ không…!”. Đã có những người con dâu hiếu thảo, khi vợ chồng làm ăn phát đạt, đem tiền biếu cha mẹ chồng, đã nói rất hay rằng: “Chúng con có được như ngày nay, là nhờ phúc của cha mẹ, chứ không hoàn toàn của chúng con”. – Khéo không! Thế thì cha mẹ nào còn nỡ từ chối? Làm việc Phúc là phải quên như chưa hề làm, là không bao giờ được kể lể công lao, khoe khoang thành tích thì may ra mới có phúc – ấy là điều các cụ xưa vẫn dạy!
Điều cần ghi nhớ: Phúc, không dễ mà có được, cũng không phải cứ cầu là được. “Phúc bất trùng lai” chứ không như họa, họa thường không đến một mình: “Họa vô đơn chí!”.
Cho nên ai ai cũng cần chăm lo tạo phúc, cho mình và hơn thế nữa, cho con cháu mình. Tạo phúc phải đặt lên trước hết, trên hết, là cách hiểu đúng đắn nhất, của mọi thời đại và trong mọi hoàn cảnh. Người xưa khuyên: “Hãy ăn ở thế nào để có thể để phúc lại cho con, cho cháu!”. Phúc là tài sản để lại mang ý nghĩa bền chặt nhất! Một khi đã vô phúc thì tiền của chả còn ý nghĩa gì nữa!

Thọ
Không rõ thực vật thế nào chứ trong giới động vật thì có thể đoan chắc điều này: Không có con nào lại không ham sống, sợ chết nghĩa là đều muốn… thọ! Con người lại càng thế. Nhưng người khác con ở chỗ, khi cần thiết, dám hy sinh mạng sống của mình vì đại nghĩa, vì Tổ quốc, vì cả người khác nữa! (đôi khi con cũng chiến đấu xả thân, nhưng đa phần vì miếng ăn, tức vẫn chỉ vì sự sống của bản thân hoặc con cái chúng mà thôi!).
Mọi người hẳn đều thuộc nằm lòng câu: “Sinh có hạn, tử bất kì”. Vâng, quả là thiên nhiên vĩ đại thật! Nếu như tử cũng tính được hạn định cụ thể như sinh, thì e rằng cuộc sống sẽ giảm thi vị đi nhiều lắm. “Bất kì” mới tạo nên sức hấp dẫn đến cùng và niềm hy vọng khôn nguôi, đối với cuộc sống tất cả chúng ta! Người ta còn phân biệt: một ai đó chết trẻ, thì khi cáo phó phải dùng chữ hưởng dương, chứ không được dùng chữ hưởng thọ. Cho nên thọ chính là một trong những tiêu chí của hạnh phúc – đối với bản thân người thọ cũng như với con cháu… người ấy. Thọ cũng là đặc trưng của xã hội tiến bộ, bởi sự đóng góp to lớn của những phát minh vĩ đại về công nghệ nói chung và y học nói riêng.
Nhưng con người chúng ta thường khi về già hay tự đặt câu hỏi: “Thọ thế nào thì vừa? Thọ có thực sự là một điều hạnh phúc không?”. Trả lời câu hỏi này thật không đơn giản chút nào!
Ý tưởng của câu hỏi trên không nằm ở chỗ muốn tìm giới hạn của sự sống, mà chính là muốn bàn xem sống đến khi nào, sống trong tình trạng thể xác và tinh thần ra sao, xứng đáng gọi là thọ? Bởi vì thọ luôn luôn gắn với hạnh phúc. Một khi đã không còn hạnh phúc, thì thọ chả còn ý nghĩa gì cả! Thọ, trong trường hợp ấy, để làm gì? Trong thực tế, không một ai muốn chết cả; già yếu ốm đau đến mấy, với suy nghĩ “còn nước còn tát”, cũng vẫn muốn được cứu chữa để sống. Ngược lại, cũng có người tự thấy mình… “đã đến cõi”, bệnh quá hiểm nghèo, không nên làm phiền con cháu, thanh thản chấp nhận ra đi, về cõi vĩnh hằng. Mong rằng chỉ ốm qua loa đôi ba tuần, đủ để con cháu trả nghĩa, rồi được theo về với Tổ tiên là hạnh phúc nhất!
Gần nhà tôi, xưa, có một cụ bà, khi sống thì suốt ngày còng lưng làm lụng hết nuôi con lại nuôi cháu. Đến lúc già yếu, ốm đau phải nằm liệt một chỗ, lại không có lương hưu. Con cháu cho dọn dẹp cái bán mái vốn xưa là chuồng lợn, để đưa cụ xuống nằm đấy… chờ chết! Con cháu nói lý: “Phải đưa xuống đấy thôi! Suốt ngày cụ đái dầm ỉa rề, thối ai mà chịu nổi!”. Và: “Cụ sống, nhưng cũng phải để cho con cháu sống với nữa chứ?”. Có lý lắm! Nhưng khốn nạn thay, những trường hợp như thế lại rất khó chết; nghĩa là lại rất thọ! (Thật lạ lùng, ăn ở với mẹ đẻ nhẫn tâm đến vậy, mà tay quý tử này vẫn thăng quan tiến chức đều đều, trong mấy năm liền sau đó?).
Một vụ khác, không ở tổ dân phố tôi, mà ở tổ bên cạnh. Đó là một cụ ông. Cụ là một cựu chiến binh, lương đại tá bốn năm triệu gì đó. Cụ mắc chứng cao huyết áp, bị đột quỵ, rồi nằm suốt trên giường, sống đời sống thực vật mười mấy năm trời nay! Cụ không nghe thấy gì (hay là giả đò làm ra như thế?), không nói và do đó cũng không đòi hỏi gì trong suốt ngần ấy năm. Những năm đầu còn có họ hàng, bạn bè, người thân qua lại hỏi thăm; sau cứ thưa dần. Mấy năm nay thì chỉ mình cụ nằm bất động như chết trên chiếc giường quen thuộc với lủng củng mấy đường ống dẫn ra và dẫn vào cơ thể cụ. Vợ con vẫn chăm sóc cụ hằng ngày rất chu đáo. Không chu đáo thì sao cụ sống được ngần ấy năm? Vả lại có nặng nề gì lắm đâu mà không chu đáo? Việc ăn, uống, tiểu tiện, đại tiện của cụ đều qua đường ống tất; rút ra thay rửa là xong! Năm nay cụ đã ngoài tám mươi, và cứ tình trạng này, chắc cụ còn thọ chưa biết đến bao giờ? Cụ càng thọ, con cháu càng mừng, vì lương cụ rất cao!
“Thọ thế nào thì vừa? Thọ có thực sự là một điều hạnh phúc không?” – Giá như có ai đó trả lời được câu hỏi này!

Gặp gỡ cuối năm – phóng sự ảnh kỷ niệm

Cuộc gặp cuối năm của nghệ sỹ điện ảnh do Hội điện ảnh VN tổ chức tối 5 – 2 – 2010 tại Cung văn hóa hữu nghị Việt Xô. Khai mạc 17 h, kết thúc 19 h

Ra về


Ra về

Ra về

Giữa: Đạo diễn Phim tài liệu Quốc Ánh

Tiệc


Tiệc

Bùi Viên, nhạc sỹ Hồng Đăng

Diễn viên Hoàng Thắng và ông Bùi Viên - cựu biên dịch tiếng Nga cho khóa 1 trường điện ảnh VN thời kỳ 1959 - 1963


Trái sang: Hoàng Thắng, Ngọc Thu, Đặng Minh Liên, Bùi Viên


Đạo diễn Nguyễn Thanh Vân và biên kịch Đinh Thiên Phúc

Nhiều nghệ sỹ điện ảnh ngồi ngoài lối vào

Tôi - Đặng Minh Liên, Đinh Thiên Phúc


Đào Thanh Tùng, Lê Hồng Chương, Đỗ Minh Tuấn...

Đỗ Minh Tuấn - Nguyễn Anh Nông

Đạo diễn - diễn viên Đường Minh Giang

Trái sang: Họa sỹ Trịnh Thái,Diễn viên Hoàng Thắng


Trái sang: Đạo diễn Tự Huy, Hoàng Nhuận Cầm, diễn viên Hoàng Thắng, Biên kịch Đinh Thiên Phúc

Cuộc gặp cuối năm tại Tạp chí điện ảnh sáng 3 – 2 – 2010

Anh chị em tòa soạn

Nhà báo Giang Hà Vỵ phát biểu

Anh Hưng phóng viên TTXVN phát biểu

Tôi phát biểu tại Tạp chí Điện ảnh

Sự tích Táo quân

(VnMedia) – Không khí Tết nhộn nhịp bắt đầu kể từ ngày tiễn Táo quân về chầu trời vào ngày 23 tháng Chạp. Táo Quân; Táo Vương hay Ông Táo trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam và Trung Hoa được xem là vị Thần cai quản việc bếp núc trong mỗi nhà, Táo (tiếng Hán) có nghĩa là bếp.
Táo Quân trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích 2 ông 1 bà – vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo do kết quả của thuyết tam vị thất thế (thuyết Ba ngôi) khá phổ biến trong các tín ngưỡng, tôn giáo. Bếp là bản nguyên của nhà khi người nguyên thủy có lửa và đều dựa trên nền móng là đất. Ở Việt Nam, sự tích Táo Quân được truyền khẩu, rồi ghi chép lại như sau:
Ngày xưa có hai vợ chồng nhà nọ rất nghèo khổ. Chồng tên là Trọng Cao, vợ là Thị Nhi. Họ lấy nhau đã lâu mà không có con, cho nên thường buồn phiền cãi lẫy với nhau.
Một hôm Trọng Cao quá tức giận mà đánh vợ. Tức mình, Thị Nhi bỏ nhà ra đi, rồi gặp một chàng trai là Phạm Lang, anh này đã dùng lời ngon ngọt và khéo léo quyến rũ được Thị Nhi. Hai người ăn ở với nhau thành vợ chồng. Khi Trọng Cao hết giận, thấy vợ bỏ đi mất, liền đi tìm kiếm khắp nơi, nhưng không thấy tăm hơi, buồn rầu bỏ công ăn chuyện làm, ra đi làm người hành khất để đi tìm vợ.
Một hôm, Trọng Cao đến một nhà khá giả xin ăn, bà chủ nhà đem cơm ra cho. Thì ra đó là Thị Nhi. Hai người nhận ra nhau, tình xưa nghĩa cũ dễ nào quên. Thị Nhi hối hận vì đã lấy Phạm Lang. họ đang hàn huyên thì bất ngờ người chồng mới là Phạm Lang từ ngoài đồng đi làm về, Thị Nhi mới nói Trọng cao vào ẩn trong đống rơm. Phạm Lang về nhà để cốt lấy tro bón ruộng, nên đốt đống rơm lấy tro. Trọng Cao đang say ngủ trong đống rơm vì đường xa mỏi mệt ấy bị chết cháy, người vợ cũ là Thị Nhi, thấy vậy cũng lao vào lửa chết theo. Phạm lang thấy vợ chết cũng lao mình vào đống rơm đang cháy ấy mà chết.
Cũng có tích khác: sau khi Thị Nhi lấy Phạm Lang, một hôm trong nhà cúng đốt mã ngoài sân, có một hành khất vào ăn xin. Thị Nhi nhận ra người chồng cũ của mình, động lòng thương đem gạo ra cho. Bị Phạm Lang nghi ngờ, Thị Nhi lấy làm xấu hổ đâm đầu vào đống lửa đang đốt mã mà tự tử. Trọng Cao cảm tình ân nghĩa cũng lao vào lửa mà chết theo, Phạm lang vì mối tình thương vợ, cũng nhảy vào cùng chết.
Thượng đế thấy ba người có nghĩa mới phong cho làm Táo Quân, và phân chia mỗi người một việc.
-Phạm Lang là Thổ Công trông lo việc bếp.
-Trọng Cao là Thổ Địa trông nom việc nhà.
-Thị Nhi là Thổ Kỳ trong nom việc chợ búa.
Người Việt quan niệm ba vị Thần Táo định đoạt phước đức cho gia đình, phước đức này do việc làm đúng đạo lý của gia chủ và những người trong nhà. Bàn thờ thường đặt gần bếp, cho nên còn được gọi là Vua Bếp. Hàng năm, đúng vào ngày 23 tháng Chạp là ngày Táo quân sẽ lên thiên đình để báo cáo mọi việc lớn nhỏ trong nhà của gia chủ với Thượng Đế (hay Ông Trời), nên có nơi gọi ngày này là Tết ông Công. Vị Táo quân quanh năm chỉ ở trong bếp, biết hết mọi chuyện trong nhà, cho nên để Vua Bếp phù trợ cho mình được nhiều điều may mắn trong năm mới, người ta thường làm lễ tiễn đưa ông Táo về chầu Trời rất trọng thể. Lễ vật cúng Táo quân gồm có: mũ ông Công ba cỗ hay ba chiếc: hai mũ đàn ông và một mũ đàn bà. Mũ dành cho các ông Táo thì có hai cánh chuồn, mũ Táo bà thì không có cánh chuồn. Những mũ này được trang sức với các gương nhỏ hình tròn lóng lánh và những giây kim tuyết màu sắc sặc sỡ. Để giản tiện, cũng có khi người ta chỉ cúng tượng trưng một cỗ mũ ông Công (có hai cánh chuồn) lại kèm theo một chiếc áo và một đôi hia bằng giấy.
Những đồ vàng mã này (mũ, áo, hia, và một số vàng thoi bằng giấy) sẽ được đốt đi sau lễ cúng ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp cùng với bài vị cũ. Sau đó người ta lập bài vị mới cho Táo Công.
Theo tục xưa, riêng đối với những nhà có trẻ con, người ta còn cúng Táo quân một con gà luộc nữa. Gà luộc này phải thuộc loại gà cồ mới tập gáy (tức gà mới lớn) để ngụ ý nhờ Táo quân xin với Ngọc Hoàng Thượng Đế cho đứa trẻ sau này lớn lên có nhiều nghị lực và sinh khí hiên ngang như con gà cồ vậy!
Ngoài ra, để các ông và các bà Táo có phương tiện về chầu trời, ở miền Bắc người ta còn cúng một con cá chép còn sống thả trong chậu nước, ngụ ý cá hóa long nghĩa là cá sẽ biến thành Rồng đưa ông Táo về trời. Con cá chép này sẽ phóng sinh (thả ra ao hồ hay ra sông sau khi cúng).
Ở miền Trung, người ta cúng một con ngựa bằng giấy với yên, cương đầy đủ. Còn ở miền Nam thì đơn giản hơn, chỉ cúng mũ, áo và đôi hia bằng giấy là đủ.
Tùy theo từng gia cảnh, ngoài các lễ vật chính kể trên, người ta hoặc làm lễ mặn (với xôi gà, chân giò luộc, các món nấu nấm, măng…v…v) hay lễ chay (với trầu cau, hoa, quả, giấy vàng, giấy bạc..v…v..) để tiễn Táo quân.

(nguồn: www.vnmedia.vn)

Vì sao đàn ông sợ phụ nữ tuổi dần

Vì sao đàn ông sợ phụ nữ tuổi Dần?
VnExpress -
Theo truyền thống Á đông, các cô gái sinh năm Dần thường bị xem là tai ương. Họ bị coi là mang lại điềm gở cho chính mình, cho gia đình và thậm chí cho gia đình chồng.

Nhưng có thật họ “đáng sợ” thế không? Hãy nghe tâm sự của một cô gái Trung Quốc, tuổi hổ, trên Chinadaily:

“Tôi, một ‘cô gái tuổi Dần’ khá bực mình với quan điểm này. Mặc dù không tin những điều người xưa nói, nhưng tôi không thể không tự hỏi tại sao tổ tiên xưa lại có suy nghĩ tiêu cực như vậy với các cô gái tuổi Hổ từ hàng nghìn năm trước. Rồi sau đó, tôi đọc một giả thuyết về “những cô gái dư thừa”, ám chỉ đến những người đang bước vào tuổi 30.

Theo giả thuyết này, tất cả đàn ông và đàn bà được xếp vào 4 hạng: A, B, C và D, từ cao nhất đến thấp nhất. Và nó vận hành như sau: đàn ông hạng A cưới phụ nữ hạng B, đàn ông hạng B kết hôn với phụ nữ hạng C, rồi đàn ông hạng C chọn phụ nữ hạng D.

Cuối cùng, phụ nữ hạng A hoặc là phải cô đơn, hoặc đi với đàn ông hạng D. Nếu họ không muốn làm tổn thương mình bằng các anh chàng hạng D, họ trở thành nhóm “những cô gái dư thừa”.

Hóa ra, lý do chính khiến “các cô gái dư thừa” trở thành “thừa ra” là vì họ đã quá thành công.

Nếu lý thuyết này đúng, tất cả các công trình nghiên cứu chỉ việc đặt các cô gái ấy lên tàu tốc hành đi đến địa ngục.

Tôi không thể hiểu tại sao đàn ông không thích phụ nữ hạng A cho đến khi bạn tôi kể với tôi kinh nghiệm mà cô ấy gặp phải gần đây khi tham gia một cuộc hẹn hò. Trong cuộc hẹn đó, cô bạn học rộng, lương cao của tôi đã thành công khi khiến các anh chàng phải chạy xa. Nhìn vào bảng giới thiệu trên người bạn tôi, các anh chàng chỉ hỏi một câu duy nhất: “Em có nghĩ là tôi đủ giỏi với em không?”.

Cái vòng luẩn quẩn với các bạn quen và không quen của tôi là: những phụ nữ thông minh, thành công và tham vọng đều gặp phải vấn đề như nhau. Họ ngang hàng, thậm chí vượt trội hơn hầu hết những người đàn ông trong đời họ. Đối diện với những thành công của các cô gái này, hầu hết đàn ông sẽ kết luận rằng các cô gái ấy ắt phải có tiêu chuẩn bạn đời rất cao, và họ chắc là kén cá chọn canh lắm.

Giả thuyết ấy giống với số phận các cô gái tuổi Dần. Những thiếu nữ sinh vào năm được cho là hung dữ, hoang dã và có thể kiểm soát mọi thứ – kể cả chồng.

Đã đến lúc đàn ông hiện đại cần nhận ra rằng phụ nữ thành công vẫn là phụ nữ”.

T. An

Nói chuyện xem tướng

CUỐI NĂM THỬ CÙNG NHAU XEM… TƯỚNG?
Trần Huy Thuận

Tôi không định tuyên truyền mê tín dị đoan, nhưng quả thật, các Cụ xưa đã dậy: “Trông mặt mà bắt hình dong / Con lợn có béo, miếng lòng mới ngon!” – nhận định này đúng tới chín mươi phần trăm, không thể trông cậy có miếng lòng ngon ở một con lợn gầy ốm tong teo được! Cho nên từ đó chúng ta suy ra, các bộ phận trong cơ thể con người cũng vậy, bản thân cái vẻ bề ngoài từng bộ phận và các mối quan hệ của chúng với nhau, luôn luôn báo trước tình trạng “tâm lý”, “tính cách”,… – tức cái nội dung bên trong của mỗi một con người. Xin dẫn ra đây một vài thí dụ:

Quan hệ của mắt – miệng: “Thấy sao, nói vậy” là biểu hiện một kẻ đại khái đến vô trách nhiệm.
Quan hệ của mắt – tai: “Mắt thấy, tai nghe” hoặc “Mắt thấy, tai nghe, tay sờ” là biểu hiện của người chín chắn, thân trọng, không võ đoán hồ đồ, hấp tấp.
Quan hệ của mắt – … lông mày: “Mắt la mày lém” là biểu hiện của kẻ gian giảo!
Quan hệ của mắt – mặt: “Mặt đỏ tía tai”, “mắt long sòng sọc” là biểu hiện sự tức tối đến tột đỉnh của người có quyền thế. Gặp trường hợp này nên im lặng … chấp hành, kẻo chuốc vạ vào thân!
Quan hệ của đầu – tai: “vò đầu rứt tai” là biểu hiện của sự bế tắc.

Nhưng đáng chú ý nhất là các mối Quan hệ của miệng – tay: “Miệng nói, tay chém chém” là biểu hiện của người tự tin. “Miệng nói tay làm” là biểu hiện của “người của quần chúng”, rất lo cho dân và rất gần dân. “Mồm miệng đỡ chân tay” là biểu hiện của kẻ láu cá, cơ hội! “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ” là bệnh kinh niên của riêng kẻ nghèo (người giầu thì khác, càng giầu càng ít vận động chân tay!).

Các bộ phận cơ thể con người ta thường hoạt động phối hợp, “ăn ý” nhau, rất có tính “tập thể” chứ hiếm khi “làm ăn riêng rẽ”, “cá nhân chủ nghĩa”! Trong đó, ăn ý nhất có lẽ là “cặp” chân – tay: không ai có thể đi mà không “đánh” tay, mà phải là chân này bước thì tay kia đánh; chứ nếu chân phải bước mà tay phải đánh theo cùng hướng, hoặc chân trái bước mà tay trái đánh theo cùng hướng, thì … cũng đi được đấy, nhưng trông cứng lắm, lại buồn cười nữa! Cặp mắt – mắt cũng thế. Hai mắt cùng nhìn một hướng là người bình thường, không thế, nếu mỗi mắt lại nhìn một hướng, thì như dân gian gọi là “mắt nọ chửi mắt kia”, ắt là người dị tướng (lác!).

Nhưng cũng có những bộ phận không chịu ăn ý nhau như vậy. Đó là các “cặp” MIỆNG – BỤNG: miệng nói thế nhưng bụng không “nghĩ” thế! “Miệng nam – mô, bụng một bồ dao găm”! Bà con Nam Bộ gọi đó là kiểu “nói dậy mà không phải dậy”. MIỆNG – TIM : miệng Phật tâm sà; miệng sà tâm Phật!, MIỆNG – ĐẦU : miệng nói thế này, đầu nghĩ thế kia! MIỆNG – TAY: nói một đàng, làm một nẻo; cũng tức là nói không đi đôi với làm! Than ôi! Thờì buổi này, cái sự nói không đi đôi với làm, nó mới phổ biến làm sao! Đi đến đâu cũng thấy! Ở cấp nào cũng thấy! Công việc gì cũng có! Môi trường nào cũng có!.. Sinh thời Bác Hồ đã cảnh báo căn bệnh này, căn dặn đi căn dặn lại cán bộ đảng viên luôn luôn phải ghi nhớ “nói phải đi đôi với làm”; ấy vậy mà đến nay nó vẫn là căn bệnh nan y phổ biến! Dân chúng thường chỉ được nghe những lời nói rất hay chứ hiếm gặp việc làm tương ứng trong cuộc sống thực tế! Hay gặp nhất là loại người Nói xong, bỏ đấy. Lâu lâu, lại mở ra … nói lại. Lâu nữa, lại tiếp tục mở ra nói lại! Thế đấy, người nói cứ “vô tư” nói, cứ ngộ tưởng mình đang nói toàn điều mới. Cho nên nói không biết chán, không thấy “ngượng mồm”! Còn người nghe thì quen rồi, nghe cũng như không nghe; bỏ ngoài tai hết!

Ứơc sao mọi bộ phận cơ thể con người chúng ta đều có quan hệ hợp lý và luôn luôn ăn ý. Nói như Đông y: một cơ thể khoẻ mạnh thì mọi bộ phận trong cơ thể phải hoà hợp, cân bằng âm – dương! Suy rộng ra, cũng có thể nói: cơ thể một xã hội cũng vậy!

Nợ ODA phải trả ngày càng tăng

Cầu Cần Thơ - công trình vay vốn ODA của Nhật Bản - ảnh sưu tầm

Nợ ODA phải trả ngày càng tăng

Năm vừa rồi, Việt Nam trả cho Nhật Bản 210 triệu USD nợ gốc các khoản vay ODA của nhiều năm trước. Thời gian tới số nợ phải trả sẽ tiếp tục tăng lên, mỗi năm từ 200 đến 250 triệu USD.

Năm 2009, tổng số vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) mà Nhật Bản thực hiện giải ngân cho Việt Nam đạt 121,5 tỷ yên. Tuy nhiên, tổng thực giải ngân chỉ là 100,7 tỷ yen sau khi đã trừ đi số tiền Việt Nam trả nợ. Năm ngoái, số nợ gốc Việt Nam đã trả là 21 tỷ yen, tương đương khoảng 210 triệu USD.

Nhật Bản bắt đầu nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam từ 1992 với các khoản vay có thời hạn 10 đến 40 năm, với 10 năm ân hạn. Trong 10 năm ân hạn, Việt Nam chỉ phải trả lãi, tính từ năm thứ 11 trở đi mới trả cả gốc lẫn lãi.

Quá trình Việt Nam trả nợ cho Nhật Bản đã bắt đầu trong những năm gần đây. Số tiền trả trong năm 2009 là tích lũy nợ gốc và lãi từ 1992 đến 1998. “Với các khoản tích lũy năm, số nợ phải trả sẽ ngày càng tăng”, ông Tsuno Motonori, Trưởng đại diện của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam cho biết. Hồi 2007, số tiền Việt Nam trả nợ cho Nhật là 127 triệu USD. Theo tính toán sơ bộ của JICA, trong những năm tới, số nợ Việt Nam phải trả hàng năm khoảng từ 20 đến 25 tỷ yen, tương đương từ 200 đến 250 triệu USD.

Phía Nhật Bản quyết tâm sẽ hoàn thành cầu Cần Thơ vào tháng 3/2010 năm nay, sau sự cố gây gián đoạn hồi tháng 9/2007. Ảnh: PV

Trong những năm qua, vốn cam kết ODA của Nhật Bản cho Việt Nam luôn trong xu hướng đi lên. Năm nay, Việt Nam tiếp tục là nước nhận hợp tác vốn vay lớn nhất của Nhật Bản. Đây cũng là một trong những lý do khiến nợ phải trả ngày càng tăng. Tuy vậy, ông Tsuno Motonori cho biết Nhật Bản không lo lắng về khả năng trả nợ của Việt Nam. “IMF và World Bank không tỏ ra quan ngại về khả năng trả nợ của Việt Nam nên chúng tôi cũng không lo lắng. Hơn nữa, quy mô nền kinh tế của Việt Nam ngày càng lớn với tăng trưởng hàng năm ở mức cao. Do đó trả nợ không phải là vấn đề lớn của Việt Nam”, ông nhận xét.

Trong năm 2009, tổng cộng có 7 dự án vốn ODA Nhật Bản được thực hiện, bao gồm 4 dự án trong tháng 3 có tổng vốn 83,1 tỷ yen, và 7 dự án trong tháng 11 có tổng vốn 119,8 tỷ yen, nâng tổng số vốn cam kết năm 2009 lên 202,3 tỷ yen, tương đương 2,2 tỷ USD. Đây là con số kỷ lục kể từ khi Nhật Bản nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam hồi 1992 và cao hơn cam kết 1,64 tỷ USD cho năm 2010 được công bố hồi cuối 2009 vừa rồi.

4 dự án vốn ODA mới năm nay bao gồm dự án Nhà ga mới cho sân bay quốc tế Nội Bài, dự án đường bộ cao tốc Bắc Nam đoạn Đà Nẵng – Quảng Ngãi. Vào tháng 3/2010, hai phía Việt Nam và Nhật Bản sẽ ký Hiệp định vốn vay giai đoạn 1 cho dự án Khu công nghệ cao Hòa Lạc. Cũng trong năm nay, dự án cảng Lạch Huyện, mô hình mẫu đầu tiên kết hợp giữa Nhà nước và Tư nhân (PPP) sẽ được đưa vào thực hiện.

Các dự án đang triển khai dở dang cũng được đẩy nhanh tiến độ trong năm nay. Dự án Đường sắt đô thị Hà Nội tuyến 1 (Gia Lâm – Giáp Bát) và tuyến 2 (Nam Thăng Long – Trần Hưng Đạo) đang trong giai đoạn thiết kế chi tiết và chuẩn bị đấu thầu. Tại TP HCM, việc dìm hầm Thủ Thiêm qua sông Sài Gòn sẽ được bắt đầu vào tháng 3, hướng tới hoàn tất Đại lộ Đông Tây. Trong tháng 1/2010, dự án Xây dựng tàu điện ngầm tuyến 1 (Bến Thành – Suối Tiên) sẽ bắt đầu thủ tục đấu thầu. Hai bên đặt mục tiêu sẽ ký được hợp đồng xây dựng trong năm nay.

Tại Cần Thơ, phía Nhật Bản đặt quyết tâm sẽ hoàn thành xong cầu Cần Thơ vào tháng 3/2010, để có thể đóng góp cho sự phát triển của thành phố và nhằm đền đáp cho những người đã ngã xuống trong sự cố hồi tháng 9/2007.

Thanh Bình

THƯƠNG CHO PHẬN NGHÈO ( chó cắn áo rách)

Tuổi Trẻ Chủ Nhật
Cà phê chủ nhật

Thương cho phận nghèo

“Đêm ấy, bác Lê lên cơn sốt. Những cái rùng mình lạnh lẽo nối nhau lướt trên da bác, manh chiếu rách không đủ đắp ấm thân. Trong lúc mê sảng, bác Lê tưởng nhớ lại cả cuộc đời mình, từ lúc còn bé đến bây giờ, chỉ toàn những khổ sở, nhọc nhằn. Cái nghèo nàn không biết tự bao giờ đã vào nhà bác.

Lúc sinh ra, bác đã thấy nó rồi, và từ đấy, nó cứ theo liền bác mãi. Bác mơ thấy vàng son chói lọi trong nhà ông Bá, thấy nét mặt gian ác và tinh nghịch của cậu Phúc, con chó tây nhe nanh chồm đến…

Hai hôm sau, bác Lê lại lên cơn mê sảng rồi chết. Người trong phố chợ gom góp nhau mua cho bác một cỗ ván mọt, rồi đưa giúp bác ra cánh đồng, chôn vào bãi tha ma nhỏ ở đầu làng.

Khi trở về, qua căn nhà lạnh lẽo âm u họ thấy mấy đứa con nhỏ bác Lê ngồi ở vỉa hè, con Tý đang dỗ cho thằng Hy nín khóc, nói dối rằng mẹ nó đi chợ một lát sẽ về. Nhưng họ biết rằng bác Lê không trở về nữa và họ thấy một cảm giác lo sợ đè nén lấy tâm can họ, những người ở lại, những người còn sống mà cái nghèo khổ cứ theo đuổi mãi không biết bao giờ dứt”.

Thạch Lam viết như thế từ những năm 1940, trong truyện ngắn đau buồn và ám ảnh “Nhà mẹ Lê”. Những cô cậu học sinh phổ thông suốt mấy thập kỷ đã được nghe thầy cô giảng trong giờ học văn rằng những cảnh ấy chỉ có ở nông thôn VN thời thuộc địa phong kiến, chỉ còn trong văn chương hiện thực phê phán hay Tự lực văn đoàn.

Nhưng mẩu tin hôm kia trên các báo thì bảo không phải thế.

“Người phụ nữ xấu số đó là bà Phạm Thị Ngắn (55 tuổi, trú tại buôn H’drát, xã Ea Kao, TP Buôn Ma Thuột, Đắc Lắc). Bà bị đàn chó bécgiê thuộc trang trại cà phê của một công ty cùng địa phương cắn chết khi mót cà phê rụng ở trang trại này chiều 21-1.Các nhân chứng cùng đi mót cà phê với bà Ngắn cho biết khi đang mót thì một đàn chó bécgiê lao ra, những người khác nhanh chân leo lên cây, còn bà Ngắn bị chó táp quật ngã xuống đất. Một người đàn ông của trang trại chứng kiến sự việc nhưng không can thiệp dù nạn nhân kêu la. Tại hiện trường, hầu hết các phần cơ đều bị chó cắn nát và ăn mất, toàn bộ da đầu, mặt bị mất”.

Chuyện của ngày hôm nay, ở xứ ta mà nghe cứ như của thời nào, ở xứ nào. Người đàn bà ấy chắc chắn là nghèo, vì không nghèo thì ai phải đi mót cà phê.

Chắc chắn nhà chức trách sẽ vào cuộc, công luận sẽ căm phẫn và thương xót. Nhưng có sự trừng phạt, sự lên án, sự thương xót hay chia sẻ nào trả lại mẹ cho con của bà Ngắn, như đã không trả lại được cho chín đứa con của mẹ Lê người mẹ mà chúng ngóng đợi. Sự trừng phạt có thể đến với kẻ đã nhẫn tâm thả đàn chó ra rồi đứng nhìn đàn chó xâu xé người mẹ tội nghiệp kia mà không thèm lên tiếng. Nhưng lẽ ra đã chẳng cần đến trừng phạt hay thương xót nếu bà Ngắn đừng nghèo đến thế để không phải đi mót cà phê trong vườn nhà người khác, nếu bà cũng có một mảnh vườn con con của mình, nếu bà có một cái nghề yên ổn hơn “nghề” mót cà phê…

Thương cho phận nghèo…

THU HÀ

Giải thưởng Hội nhà văn VN 2009 gây sốc?

GIẢI THƯỞNG HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM 2009: GÂY SỐC ?
Thiên An ghi

Lao Động số 21 Ngày 26/01/2010 Cập nhật: 8:25 AM, 26/01/2010

“Cho tôi một vé đi tuổi thơ” (Nguyễn Nhật Ánh) – Giải vàng Sách hay 2009 của Hội Xuất bản, nhưng lại thiếu đúng “một vé” để được trao giải thưởng chính thức theo nguyên tắc “quá bán”.
(LĐ) – Không chỉ có thơ mất mùa – như chính đề xuất gây tranh luận trước đó của Ban sơ khảo – mà lần đầu tiên, giải thưởng Hội Nhà văn VN đã để trống gần như tất cả các hạng mục: Văn xuôi, thơ, dịch thuật; chỉ duy nhất tập tiểu luận phê bình Tản mạn nghiệp văn của nhà văn Đinh Quang Tốn là đoạt giải thưởng chính thức. Một kết quả gây sốc!
Ngay lập tức, công bố đã nhận được nhiều dư luận trái chiều. Báo Lao Động ghi lại một vài ý kiến trong số đó:
Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên – Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội: Bất bình thường!. Cái bất bình thường nhất ở đây theo tôi là tương quan giữa các thể loại, khi chất lượng văn, thơ, dịch thuật trong năm qua dù có thể là không được như mong muốn, nhưng cũng không thể nói là thua kém lý luận phê bình – một mảng xưa nay yếu và không dễ gì chọn mặt gửi vàng.
Nói cách khác, nếu lý luận phê bình có giải, thì không có lý gì văn xuôi, thơ, dịch thuật lại phải ra về tay trắng. Đồng ý, một giải thưởng mỗi năm có thể bỏ trống một hạng mục nếu xét thấy chất lượng tác phẩm quá yếu (như Hội Nhà văn Hà Nội năm ngoái đã để trống giải phê bình và năm nay là thơ), nhưng nếu bỏ trống đến những 2 – 3 trên tổng số 4 hạng mục thì quả là không nên một chút nào!
Đến to như giải Oscar, Grammy mà có năm nào người ta chịu bỏ trống một hạng mục nào đâu! Hay giả như bên bóng đá cũng vậy, vô địch thì vẫn cứ là vô địch, vì nó là nằm trong khuôn khổ của một năm, một giải. Không ai lại đi đặt lên bàn cân giữa năm nay và năm khác để xét giải cho một năm cả!.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – Uỷ viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn VN – thành viên Ban sơ khảo – nơi đầu tiên đưa ra đề xuất để khuyết giải thưởng thơ: Bình thường!. Không thể so sánh giải Hội Nhà văn VN với Oscar và Grammy, vì cả hai giải thưởng đó đều được đặt trên một nền tảng rất vững: Một nền điện ảnh/âm nhạc phát triển và một công nghệ sản xuất hàng đầu, nên cho dù chất lượng năm nay có đuối hơn một chút so với năm kia thì luôn luôn, họ vẫn có thể chọn ra được những lựa chọn xứng đáng cho năm đó và vẫn tạo ra được những hiệu ứng, dư chấn đáng nể.

Trong khi đó, giải thưởng Hội Nhà văn VN có những năm, cụ thể là năm nay, lại được đặt trên một nền đất yếu, chưa cho thấy nhiều đột phá. Tuy nhiên, không loại trừ, qua nhiều năm đứng trước những luồng dư luận nhiều chiều, những người xét giải cũng có thể ít nhiều có tâm lý thiếu tự tin hơn về những quyết định của mình. Tâm lý đó nếu có, thì cũng không đến nỗi dẫn đến kết quả này, vì rõ ràng việc từ chối trao giải đâu phải là một giải pháp an toàn.
Trái lại, nếu đời sống văn học trong năm qua của chúng ta thực sự có được những đột phá, thì ít nhất, cũng đưa lại cho những người chấm giải 50% tự tin. Một giải thưởng chỉ an toàn khi người trao giải cảm thấy tự tin vào quyết định của họ, dù rằng sự an toàn ở đây không có nghĩa là sự cầu toàn.
Về quyết định (được cho) là gây bất ngờ năm nay của Hội đồng chung khảo, cá nhân tôi lại cảm thấy rất bình thường và không có gì quá bất ngờ. Tôi cũng không nghĩ nó sẽ tạo ra những tiền lệ (xấu hay tốt) về sau.
Ít nhất là trong mùa giải tới, khi mà năm nay là năm đầu tiên bước sang thập kỷ mới, trong một tâm thế mới, biết đâu văn học VN sẽ có được sự khởi sắc. 2010 cũng là năm diễn ra đại hội Hội Nhà văn VN, ít hay nhiều cũng sẽ có những thay đổi về thành phần ban chung khảo, sơ khảo… và mỗi ban xét giải sẽ có những cái nhìn và lựa chọn khác nhau….
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo: Cảm giác đầu tiên của tôi là: Rỗng!. Và hụt hẫng! Tại sao cả một năm với bao cuốn sách thuộc bao thể loại được ra đời, mà từng ấy con mắt xanh lại không chọn ra nổi quá một cuốn để trao giải? Để đến nỗi, rốt cuộc chỉ có được một cuốn đứng trơ trọi, chơ vơ, khiến bức tranh giải thưởng sao mà tiêu điều! Xét giải kiểu này tôi thấy không ổn. Nếu là nghiêm khắc, muốn dễ bề kén cá chọn canh thì có giỏi, mười năm lại trao giải một lần đi! Nếu xét giải từng năm, thì chuyện của năm nào phải ra năm nấy. Còn chuyện tác phẩm được giải có đáng mặt anh tài hay không thì còn cần phải đợi thời gian, công chúng phán xét, chứ đâu phải chỉ mỗi mình hội đồng xét giải gật là xong!.

Nguồn: laodongonline

Hà nội bia hơi ký

Quán bia hơi Hà Nội ngày nay - ảnh sưu tầm

Bia kèm lạc - ảnh sưu tầm

HÀ NỘI BIA HƠI KÝ
Vũ Duy Chu

Tôi là dân quê mùa thứ thiệt, may mắn được về Hà Nội tạm trú vài năm, từ 1976. Lúc đó mới biết đến ngụm bia hơi Hà Nội. Nói thật, bây giờ cuối mỗi cuộc nhậu phải cầm lon bia hay chai bia đã mở trong lúc bụng chữ O rồi, tôi lại nhớ đến ngụm bia hơi Hà Nội khó nhọc ngày nào. Nhớ để ráng uống cho hết, kẻo phí phạm.
Ngày ấy, góc đường Khâm Thiên – Nam Bộ( nay là đường Lê Duẩn) có Nhà ăn tập thể của Toa xe Tổng cục Đường sắt. Thi thoảng, tôi và lão Thập bạn tôi, buổi trưa thả bộ từ khu Tập thể Nhà Dầu Kim Liên sang nhà ăn này. Mỗi phiếu cơm trưa đổi bằng tem gạo loại 250gr và nộp thêm ba hào. Chừng hai lưng bát cơm độn mì sợi vón cục, bát canh rau lõng bõng nước, hai miếng đậu phụ, hai miếng thịt lợn thái kiểu lưỡi lam Gillette. Hôm nào cơm ít thì thêm nửa cái bánh mì. Lùa vài đũa hết veo. Nhưng quan trọng nhất là cái vại bia hơi( dân Hà Nội gọi cái cốc to là vại). Phải có phiếu cơm mới mua được một vại bia ba hào. Mỗi vại bia phải mua kèm ít nhất một gói lạc rang cuộn sâu kèn giá một hào, nhỏ hơn cái kem Walls bây giờ. Trước cửa nhà ăn, dưới mấy tán dù vải bố, các anh giai Hà thành ngồi chầu hẫu hút thuốc cuốn, chờ bác xích lô cởi trần nhễ nhại chở mấy bom bia về. Cái cách mấy anh giai nhạt miệng chẹp chẹp do thèm bia cũng rất gợi. Có anh xách bình toong theo đựng bia mang về nhà, có anh đem phích Rạng Đông. Anh nào cũng làm ra vẻ quen cô phục vụ bia kiêu kiêu của nhà ăn.
Tháng sáu, phố phường Hà Nội nắng khét lẹt. Tóc trên đầu như khô giòn, hầm hập. Cái gì của Hà Nội cũng phả ra hơi nóng. Mặt đường nhựa làm mềm cả dép nhựa Tiền phong thời thượng. Tường phố vỉa hè mấy ông ngồi đồng quán nước chè không dám tựa lưng. Quạt nan phành phạch. Yên xe đạp muốn bỏng đít. Cái cần tiếp điện của tàu điện nẹt lửa xẹt…xẹt muốn nổ đom đóm mắt. Tất tần tật cái cảm giác ghê rợn này chỉ cần giải quyết bằng một cốc bia hơi ướp lạnh là…nguôi ngoai.
Cuộc sống tằn tiện đã dạy người Hà Nội biết cách kéo dài sự sung sướng với vại bia. Chẳng có lão nào ngớ ngẩn mà dzô…dzô trăm phần trăm như bây giờ. Lạc rang thì mua vô tư, nhưng bia, đừng có mơ! Lần đầu tiên giữa trưa nắng đổ lửa, khát quá, tôi vội vàng làm ực một phát gần hết nửa vại bia. Lão râu xồm ngồi bên nhìn tôi lạ lắm, cái nhìn mấy em xã hội đen ngày nay gọi là “ nhìn đểu”. Uống xong thì tôi biết mình sai lầm.
Lão râu xồm nhắc khéo cô em phục vụ phải để bia chảy vào vại của lão từ từ, chứ xả ào ra bọt không thì bia của người ta còn mấy tý. Phải đặt nghiêng vại, bia vào đến đâu, dựng dần vại lên tới đó. Lão thành kính đưa vại bia lên miệng, nhấp một ngụm, dường như để bia thấm đều lên cặp môi dầy của lão cái đã. Đặt vại bia xuống bàn, thư thả châm điếu Sông Cầu nạp khói, cho khói nhin nhín ra hai lỗ mũi, lão xoe xoe mấy hạt lạc rang bong vỏ, cho vào miệng. Lão chậm chạp đưa lưỡi lia những đám bọt bia trắng xóa bám trên bộ râu rậm rạp. Gọn ghẽ, sạch sành sanh, đừng hòng thất thoát đi đâu một giọt bia nào…
Bia với tôi, nói không ngoa, hiếm ngang mật ong. Sinh viên, làm gì có tiền. Uống một vại đâm nhớ. Bia hơi Hà Nội ngon cực. Vàng sóng sánh, thơm dịu, chạm tay vào miệng vại dính dâm dấp. Những giọt bia rơi trên ngực áo về nhà vẫn còn thơm phảng phất chứ không có mùi hũ hèm như nhiều loại bia hơi bây giờ. Nghe nói nước mạch ngầm khu vực nhà máy bia Hà Nội rất tốt nên bia ngon hơn ở nơi khác, dù cùng loại thiết bị máy móc sản xuất. Người thì bảo úi giời, bia thời ấy hiếm, uống ít thì thấy ngon, thấy thèm. Người thì bảo thời ấy mấy cô bán bia chưa biết cách pha chế làm cho bia dôi ra kiếm lời. Chứ thời buổi bây giờ, tìm đâu ra bia hơi nguyên gốc?
Cũng có lý. Không ai thống kê nổi Hà Nội hôm nay có bao nhiêu quán bia hơi. Quán nào cũng trương biển Bia hơi Hà Nội thứ thiệt, Bia hơi Hà Nội nguyên chất… Mà thượng đế Hà Nội đã ranh ma lắm rồi. Mỗi lần ra Hà Nội, lũ bạn lại kéo tôi lên quán bia hơi quen trên khu Quần Ngựa, gần nhà máy bia, có đắt hơn quán khác một chút. Chủ quán bảo cái sự đắt ấy là các anh mua bảo hiểm ngon cho bia đấy chứ.
Bia của lão rót ra vại gốm màu nâu, cao lêu đêu, quai sần sùi, nửa lít, nhìn rất bắt mắt. Ghé miệng vào vại là sực nức men bia. Quán bài trí sơ sài nhưng ấn tượng. Lối dẫn lên quán, một cái xe ngựa cũ kỹ, một con ngựa bằng gốm lên dốc dáng mệt mỏi. Đỉnh dốc là quán của lão thì ngựa nghỉ ngơi và người uống bia là đương nhiên. Hai ba cái mũ rộng vành treo trên vách quán cùng cuộn dây thừng, khẩu súng săn và một cái yên sờn cũ. Lão chủ quán có vẻ kết phim cao bồi miền Viễn Tây nước Mỹ chăng? Tôi rất khoái bia và không gian cái quán này, nhưng đã lâu lắm rồi không thấy bạn bè rủ rê đến đó nữa.
Có thể, quán này và các quán bia hơi nhỏ khác cạnh tranh không nổi, nên tự giải tỏa không có bồi thường, nhường chỗ cho các đại gia. Bạn đã nghe nói đến Bãi bia mà phát ngợp bao giờ chưa? Ngôn ngữ đặc sản vỉa hè của Hà Nội mô tả về sự hoành tráng của một địa chỉ bia không ngoa tí nào. Bãi bia Thái Hà rộng như một sân tập bóng đá. Người uống bia chen chúc ồn ào như vỡ chợ, kể có cả bốn năm trăm dư. Tiếng xe chạy ngoài đường dội vào, tiếng người chuyện trò cười đùa không dứt. Tiếng người gọi điện thoại di động như quát. Người phục vụ hớt hải chạy tới chạy lui như ma đuổi giữa các bàn. Tôi không thể nào nghe được các bạn tôi nói những gì, chỉ thấy một vị nào đó nâng vại bia lên ngang mày thì tất cả đồng thanh dzô…dzô khí thế.
Bàn bên cạnh còn khí thế hơn. Nhân viên phục vụ chậm nên các ông kêu một lần mấy chục vại bia để uống dần cho bõ tức. Bia đầy bàn, thức ăn đầy bàn, hả hê…
Bãi bia toàn đàn ông mặt đỏ, loáng thoáng vài bóng hồng. Dưới sàn nhà, lối đi giữa các bàn ngoài trời lép nhép bia, lép nhép lá rau củ quả, la liệt tàn thuốc lá, giấy lau…Cảm giác nhờn nhợn.
Lối vào toa lét tấp nập, tiếng nước xả như suối, có vị ăn uống bao nhiêu trả ra bấy nhiêu trên máng chảy. Kết thúc cuộc bia, ra bãi gửi xe, tôi không tài nào nhớ được xe mình để chỗ nào. Xe gửi đã tầng tầng lớp lớp. Ba mươi phút tôi mới tìm được xe dắt ra khỏi bãi.
Người ta nói bia hơi Hà Nội bây giờ chủ yếu phục vụ giới bình dân. Điều đó chỉ đúng một phần. Bia hơi Hà Nội vẫn ngon như thường, nếu bạn tìm đến đúng địa chỉ. Và uống với cái cách nhâm nhi, thưởng thức, chuyện trò tâm sự với bạn bè, vừa đủ nghe trong một không gian nhỏ nhưng thoáng. Thế thì bạn mới tận hưởng được hương vị bia hơi Hà Nội. Giờ tan tầm mỗi chiều tháng sáu nóng nực, khi mới vừa cảm thấy đói bụng và khát, bạn sẽ thấy một vại bia hơi ướp lạnh và một nhúm lạc rang húng lìu thú vị biết chừng nào.
Bãi bia Thái Hà không phải là không gian của bia. Làm sao còn hương vị bia trong hơi nước vừa cay vừa nồng nghi ngút bốc lên từ nồi lấu trên bàn, các món thịt rán thịt nướng còn xèo xèo mỡ, trong khói thuốc lá mù mịt… Thái Hà có thể là không gian của lễ hội Bia hơi Hà Nội truyền thống chẳng hạn, nghe có vẻ hợp lý hơn. Nhưng trước hết phải đẹp đẽ, trật tự và vệ sinh cái đã.

***
Sài Gòn cũng vô khối quán bia hơi. Trước đây còn có cả quán bia hơi đối chứng nổi tiếng của Nhà máy bia Sài Gòn, góc Hai Bà Trưng-Tôn Đức Thắng, quận 1. Bia hơi bình dân quán Cây Trúc, đường Lê Quí Đôn, quán Hội Văn nghệ trên đường Trần Quốc Thảo, quận 3. Sang hơn có bia tươi Tiệp quán Hoa Viên tên tuổi trên đường Mạc Đĩnh Chi, quận 1. Bia hơi cạnh sân quần vợt Lan Anh, quận 10. Bia hơi Đức nữa…Nhưng thời bây giờ, chỉ cái sự ngon thôi, chưa chắc đã nên một cuộc nhậu.
Tôi và một anh bạn gốc Hà Nội thường rủ nhau đến quán bia hơi Hà Nội trên đường Hồng Hà, quận Tân Bình, gần sân bay Tân Sơn Nhất. Quán rộng rãi, lão chủ quán vui tính, rất sành bia, nói chuyện về bia quên cả phục vụ khách. Những câu chuyện tiếu lâm hiện đại sinh ra bên những vại bia thời khốn khó lão kể vanh vách, cười chảy nước mắt.
Lão cũng có bộ râu xồm, hệt như bộ râu của cái lão đã “ nhìn đểu” tôi cách đây mấy chục năm ở nhà ăn Toa xe đường sắt, góc phố Khâm Thiên. Có khi chính lão “nhìn đểu”, chứ còn ai nữa?
Có thể lắm chứ!…
Sài Gòn, tháng 1.2009
V.D.C

THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM VẪN LAN TRÀN???

Cụ Lê Hiển Đức


..Tham nhũng ở Việt Nam vẫn lan tràn?

Bà Lê Hiền Đức được cả Việt Nam và quốc tế vinh danh vì cố gắng chống tham nhũng

Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng Trung ương của Việt Nam hồi giữa tháng này nói rằng ‘tham nhũng được kiềm chế và giảm’, theo truyền thông trong nước.

Nhưng các con số cũng do truyền thông trong nước trích đăng nói số vụ tham nhũng tăng gần 2,5% và số người nghi tham nhũng tăng gần 1,5%.

Bà Lê Hiền Đức, 80 tuổi, là người đã được cả Việt Nam và quốc tế vinh danh vì có công chống tham nhũng. Bà nói chuyện với Nguyễn Hùng khi được biết các thống kê mới về tham nhũng:

“Theo tôi thì con số đó là do các vị ở trên nghe báo cáo rồi tổng hợp, đúc kết thôi. Còn sự thật nếu qúy vị trực tiếp lắng nghe dân, mà cụ thể tôi là người thay mặt dân tôi xin gặp chỗ nọ, xin gặp cơ quan kia, cán bộ cấp này, cấp khác để báo cáo kiến nghị những việc tham nhũng, tiêu cực của các ngành, các cấp kéo dài bao nhiêu năm nhưng không được giải quyết, tôi xin gặp nhưng rất khó khăn.

“Chỉ có một số ông cán bộ nghiêm túc, liêm khiết lắng nghe. Còn số lớn, các cấp, đặc biệt là các cấp trung gian thì nó bao che cho nhau, nó bảo kê cho nhau, không thể nào cựa được… Bởi vì há miệng mắc quai, bởi vì chính họ cũng dây chuyện này, dây chuyện kia.”

Nhân dân hỏi bà chống tham nhũng thế nào mà chẳng thấy lay chuyển gì cả…

Bà Lê Hiền Đức
“Hiện nay trong nhà tôi đơn từ của nhân dân 63 tỉnh thành phố đầy đủ các mặt, đất đai, nhà cửa, các ngành, các cấp, ngành nào tôi cũng nhận được đơn tố cáo hết, hàng không, bưu điện…

“…Vụ PCI thì hiện nay cứ chìm vào im lặng. Nhân dân hỏi bà chống tham nhũng thế nào mà chẳng thấy lay chuyển gì cả, nhưng bà con không hiểu cho tôi rằng một mình cái bà già này lên tiếng thì rất khó.

“Tôi là một trong 10 người được nhà nước vinh danh chống tham nhũng nhưng bây giờ gọi đến đâu (người ta) cũng trốn tôi.

“Tôi gọi cho ông Tổng Thanh tra Trần Văn Truyền thì ông Truyền bảo tôi là ‘cơ quan chúng tôi làm việc theo sự chỉ đạo của chính phủ vậy thì cái gì cũng phải qua báo cáo lên chính phủ cả.’

“Trong nhà tôi hiện nay có nhiều vụ, hàng mấy trăm vụ, thì thanh tra nhà nước cũng đã đến nhà tôi chở đi hồ sơ của 214 vụ rồi, tôi vẫn đang theo dõi nhưng chưa thấy thống báo nào gửi tôi là việc này, việc kia đã được giải quyết.

“Có những việc dân đi kiện, người ta đi kiện từ năm 27 tuổi và bây giờ là 54 tuổi rồi, quá nửa đời người. Thế mà dân vẫn kiên trì nhưng vẫn không được giải quyết.”

Đất đai và giáo dục

“Hiện nay nặng nề nhất là vấn đề đất đai và nữa là tiêu cực nhiều nhất là trong ngành giáo dục. Về đất đai, có những vụ nhân dân đã gửi tới hàng ngàn lá đơn chưa được giải quyết. Hôm tôi vào thành phố Hồ Chí Minh, bà con nông dân Long An, cái tỉnh có rất nhiều chuyện về đất đai, người ta mất bao nhiêu công khai hoang (từ) cái thời mới giải phóng Miền Nam, bao nhiêu năm trồng cấy, sinh sống, bây giờ thu hồi và đền bù với giá rất rẻ. Nói là dự án này, dự án kia, nhưng không phải dự án gì hết mà họ chia lô, họ bán cho nhau.

“Tôi đã đi vào một vài tỉnh miền Nam tôi điều tra thì nó như vậy đấy. Dân khổ quá mức rồi. Có những người gọi điện thoại cho tôi 12h đêm nói ‘Cụ ơi, cụ cứu chúng con với, ngày mai họ đến họ cưỡng chế rồi’. Nhưng thưa anh có dự án gì đâu, toàn chia lô bán cho nhau thôi.

“Về giáo dục thì tiêu cực kinh khủng. Những người họ có quyền, có chức, trưởng phòng giáo dục còn cầm đầu đường dây chạy trường.

Họ còn bảo nếu thích đi kiện thì ’sẽ chỉ đường cho đi kiện’, thích thì kiện lên Obama.
“Rồi thậm chí còn đưa việc chạy trường này ra bàn tập thể với nhau. Điều này do một ông chủ nhiệm ban kiểm tra đảng của thành phố Hồ Chí Minh đã gặp tôi hôm 19/11 trao đổi và thông tin cho tôi nên tôi mới biết vấn đề này. Ông nói và tôi đã ghi lại ‘thành phố Hồ Chí Minh có hơn 20 quận huyện, chỉ có sáu huyện xa xôi quá không có trường hợp chạy trường’. Vậy thì chạy trường này nó trở thành chuyện đương nhiên, không ai giải quyết được hết.

“Một thầy giáo, đứng ra tố cáo đường dây chạy trường, hàng ngàn đô để vào một suất học… bị cấp trên của anh ấy không phân công đứng lớp, nói một cách vui đùa là ‘mất dạy’, không được dạy nữa. Trong khi đó 28 năm người thầy này dạy tốt, học sinh thi đỗ kết quả cao, là đảng viên tốt.

“Nay mai sắp tới đây có thể phải đuổi ra khỏi ngành, bị trù dập và thi hành kỷ luật đảng nữa.

“Đó là thầy giáo Phan Văn Hướng, giáo viên Trường Phổ thông Trung học Cơ sở Hồng Bàng, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh đã tố cáo đường dây chạy trường từ niên học 2004-2005.

“Có danh sách trong tay tôi đây này, toàn con ông, cháu cha và mấy chục triệu vào một suất cả, hơn 200 suất tất cả, … nếu chạy như thế thì con em nhân dân nghèo làm gì có chỗ học nữa.

“Tôi đã phải cắn răng mua vé máy bay bay vào thành phố Hồ Chí Minh để tìm hiểu trường hợp này và thực chất cho đến bây giờ thì thầy giáo tố cáo này không được dạy nữa… và thầy ấy đang khiếu nại. Như thế nó bất công quá.

“Họ còn bảo nếu thích đi kiện thì ’sẽ chỉ đường cho đi kiện’, thích thì kiện lên Obama.”

‘Gian dối’

Tối nay (15/1/2010), lúc 8h thì có một cháu sinh viên đến khóc lóc với tôi: ‘Bà ơi bà, cháu biết chuyện này và định tố cáo từ cách đây hai năm, nhưng cháu đang là sinh viên của Đại học Ngoại thương nên cháu không dám nói sợ bị ảnh hưởng đến kết quả của cháu.

Bà Lê Hiền Đức nói bà không hài lòng với cách giải quyết của Thanh tra Hà Nội và Bộ Giáo dục

“Nhưng hôm nay cháu đến cháu trình bày với bà, bây giờ mỗi một học kỳ là trưởng lớp phải đứng ra thu mỗi người mấy chục nghìn, mấy trăm nghìn để gom lại, đưa cho thầy giáo dạy bộ môn này hay chủ nhiệm khoa kia để xin điểm. Thế thì thưa anh thì còn gì là chất lượng nữa.

“Rồi một viên hiệu trưởng, kiêm bí thư chi bộ mà gian dối về bằng cấp.. nhưng bây giờ vẫn nhơn nhơn, vẫn là hiệu trưởng, mặc dù tham ô, tham nhũng của học sinh rồi, nhả tiền ra trả rồi nhưng kỷ luật thì tôi nói là chỉ là phủi bụi.

“Từ hiệu trưởng Trường Tiểu học Nguyễn Khả Trạc quận Cầu Giấy chuyển sang là hiệu trưởng Trường Tiểu học Nam Trung Yên, vẫn là quận Cầu Giấy.

“Cái Quận Cầu Giấy, ông bí thư huyện ủy biết bao tội trong quận, tôi báo báo với thành ủy từ ba năm nay rồi nhưng tháng Tám vừa rồi, nhân dân thanh niên hay dùng từ là ‘đã bị bật bãi’, tức là chuyển đi nơi khác rồi.

Bí thư Thành ủy nói với tôi một câu qua điện thoại ‘Bác ạ, bác cứ yên tâm. Bất cứ cấp nào, chức vụ gì, nhưng nếu sai phạm thì Đảng cũng xử lý.
“Tôi nói với bí thư thành ủy rằng nếu những cán bộ thành ủy viên hay cấp nọ, cấp kia có sai phạm mà các đồng chí lãnh đạo thành ủy không xử lý thì chính các đồng chí bôi nhọ vào mặt đảng đấy.

“Thì anh Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy nói với tôi một câu qua điện thoại ‘Bác ạ, bác cứ yên tâm. Bất cứ cấp nào, chức vụ gì, nhưng nếu sai phạm thì Đảng cũng xử lý. Tôi rất tin tưởng câu nói ấy của đồng chí bí thư.

“Tháng Sáu tôi gọi điện hỏi đồng chí Bí thư thì tháng Tám cái ông bí thư quận ủy ấy đã được chuyển đi nơi khác. Tôi gọi đây là một kẻ bảo kê cho chuyện tham nhũng, cụ thể là bảo kê cho cô hiệu trưởng đó. Vậy tôi nói bất cứ cấp nào tham ô, tham nhũng nó cũng có ô dù cả.

“Ở đây là bí thư quận ủy và cả chánh thanh tranh Hà Nội nữa, hàng bao nhiêu cú điện thoại gọi nhưng không bao giờ tiếp tôi. Và thực tế thì thành ủy cũng đã chuyển chỗ (chánh thanh tra Trần Văn Trực) rồi.

“Hôm nọ tôi có nói với thứ trưởng giáo dục, những chuyện về cái cô hiệu trưởng gian dối bằng cấp này, một trẻ con lớp một cũng có thể hiểu được. Hai năm đang làm hiệu trưởng, suốt cả thời gian ấy…, có làm mới chỉ đạo ăn bớt tiền ăn của học sinh, có ăn bớt thì mới có chuyện nhả tiền ra trả, rồi có tội mới bị kỷ luật, chứng tỏ đang làm hiệu trưởng suốt hai năm liền. Mà chính hai năm ấy lại đang đi học cao học (tập trung) để lấy bằng cao học.”

“Chuyện này là chuyện nhỏ thôi, nhưng nó thể hiện sự bao che. Đã tham nhũng, đã tiêu cực thì bất kể chuyện gì tôi đã nhúng vào là tôi phải tìm ra lẽ phải,” bà Lê Hiền Đức nói.
BBC

CÓ THỂ GIẢI THÍCH KHOA HỌC CHO CÂU CHUYỆN TÂM LINH?

CÓ THỂ GIẢI THÍCH KHOA HỌC CHO CÂU CHUYỆN TÂM LINH?
Vũ Cao Đàm

Tôi có cảm giác thật thú vị khi thấy số lượng người đọc bài “Chuyện Tâm Linh” của Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi (trên trannhuong.com) đã lên tới trên 2700 người. Nó cho thấy một sắc thái văn hóa, một xu hướng trong các mối quan tâm của cộng đồng cư dân mạng…
Thì ra câu chuyện tâm linh vẫn đang chiếm một vị trí khá đặc biệt trong mối quan tâm ấy. Vì nghĩ như vậy, cho nên tôi cũng xin góp vài lời “nói leo” để góp phần với Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi về câu chuyện tâm linh.
Có lần lên lớp cho sinh viên về Lý thuyết Hệ thống, một sinh viên đặt cho tôi câu hỏi có vẻ là đùa vui trong lúc nghỉ giữa giờ: “Thưa thầy, xin thầy thử tìm cách giải thích về “Số phận” của con người. Con người có cái gọi là “Số phận” hay không? Hơn nữa có thể dùng Lý thuyết Hệ thống để giải thích về “Số phận” của con người hay không?”
Câu hỏi hơi đột ngột với tôi. Khựng lại một lát để suy nghĩ, cuối cùng tôi cũng đưa ra được câu trả lời… theo… cách tiếp cận hệ thống (!). Các bạn sinh viên khác tiếp tục đưa nhiều câu hỏi khác nhau. Chúng tôi và các bạn trong lớp đã thảo luận rất sôi động, hoàn toàn dựa trên các cách tiếp cận rất khoa học. Và cũng rất bất ngờ là, câu trả lời của tôi được các bạn sinh viên đó nhắc đi nhắc lại mãi, cho đến nay đã là nhiều năm sau ngày các bạn sinh viên đó đã tốt nghiệp ra trường.
Tôi xin tóm tắt cuộc thảo luận của chúng tôi như sau.
Trước hết, vè mặt sinh học, trình độ khoa học ngày nay biết được, toàn bộ thuộc tính và diễn biến trong cuộc đời một con người được ghi sẵn trong gien (gène). Còn ai đã làm được cái công việc “ghi chép” kỳ diệu đó, thì ngày nay, khoa học vẫn chưa khám phá được. Một số người chỉ biết “quy công” cho Thượng Đế; Một số người khác thì “quy công” cho Mười hai bà mụ.
Nếu khoa học giải mã được gien của một con người nào đó, “phiên dịch” các thông tin chứa đựng trong gien thành ngôn ngữ giao tiếp thông thường, thì chúng ta có thể nhận biết được tất cả những thuộc tính và diễn biến trong cuộc đời của một con người nhờ việc giải mã gien của họ. Rất tiếc, khoa học ngày nay chưa làm được công việc khó khăn đó.
Tuy nhiên, lại có một số người có tài làm cái điều mà khoa học chưa làm được. Đó là các thầy tướng. Đương nhiên không phải tất cả các thầy tướng đều có thể làm được cái công việc kỳ diệu này. Trên thực tế có nhiều thầy nói rất linh tinh.
Chúng ta hãy lý giải sự huyền bí đó. Theo một nguyên lý của Lý thuyết Hệ thống, cái mật mã gien bộc lộ ra bên ngoài, trên tất cả các yếu tố của hệ thống. Có nghĩa, mật mã gien có thể được thể hiện trên bàn tay, ở bộ mặt, ở dáng đi, ở giọng nói, v.v…
Một số người có tài xem tướng mặt, có nghĩa là “giải mã” được những thông tin bí mật của gien qua những nét biểu hiện trên mặt của con người; một số người có tài xem tướng tay, tức là “giải mã” được những thông tin bí mật trên gien qua những đường nét nhằng nhịt trong lòng bàn tay. Tất cả những biểu hiện trong lòng bàn tay, trên nét mặt được các nhà nhân tướng học đã tổng kết qua hàng ngàn năm lịch sử phát triển của ngành nhân tướng học. Ví dụ, người có giọng nói sang sảng thì tính cách ra sao; người có giọng nói lí nhí có tính cách ra sao, người đi ưỡn ngực có tính sách ra sao, người đi khom lưng có tính cách ra sao, v.v…
Như vậy, có thể nói, xem tướng chẳng qua là sự “giải” các “mật mã” (décodification) đã được ghi sẵn trong gien mà thôi. Trên đây, chúng ta đã ghi nhận một thành tựu của khoa học cho rằng, “gien” chẳng qua là một chương trình đã hoạch định sẵn, và được ghi sẵn về thuộc tính bản chất và diễn biến trong cuộc dời một con người.
Ngành y trên thế giới và ngay ở nước ta cũng đã tìm được những ứng dụng quan trọng trong việc xem mặt hoặc xem bàn tay để chẩn đoán và điều trị bệnh, đặc biệt là trong lĩnh vực điều trị bằng bấm huyệt hoặc châm cứu, với các ứng dụng cụ thể, chẳng hạn, thủ châm (châm bàn tay), diện châm (châm trên mặt), nhĩ châm (châm tai), túc châm (châm bàn chân), v.v…
Có thể nói, cái “chương trình” ghi sẵn trong gien chẳng qua là chỉ một con “chip”, trong đó chứa đựng những mật mã quy định toàn bộ sự vận động trong cuộc đời một con người. Theo một cách nói khác trong dân gian, có thể hiểu đó là “Số phận”
Nội dung cách trả lời của tôi trước các bạn sinh viên trong lớp đại loại là như vậy.
Có thể nói vắn tắt, “Số phận” con người hoàn toàn có thể là có. Đó chẳng qua là một “chương trình phần mềm”, được viết dưới dạng những “mật mã” và được “cài” sẵn trong gien. Nó giống như một chương trình máy tính, điều khiển toàn bộ hoạt động của máy tính. Trong câu chuyện chúng ta bàn ở đây, cái máy tính ấy chính là con người. Và cái “chương trình phần mềm” được biểu hiện dưới dạng mật mã được ghi trong gien ấy chính là “văn bản” quy định số phận con người và được một cơ chế nào đó “điều hành” để “thực thi” trong suốt cuộc đời một con người.
Có một câu hỏi được đặt ra: Con người luôn phải sống trong một môi trường xác định. Môi trường có khi làm thay đổi số phận con người. Vậy khái niệm số phận còn đúng không? Còn một câu chuyện khác: Vì sao hai người cùng giờ sinh, ngày sinh, tháng sinh, năm sinh mà số phận lại khác nhau? Rồi đến một câu chuyện lưu truyền trong dân gian: Gọi hồn? và rồi đến việc “Nói chuyện với người âm?” mà Nhà thơ Đỗ Trọng Khởi đề cập trong bài? Đó là những vấn đề thú vị và phức tạp, liên quan nhiều nội dung rất phong phú. Tôi xin được bàn trong một dịp khác.
VCĐ

Ánh sáng và bố cục trong chụp ảnh

Thấy một bài dễ  hiểu, rất có ích cho việc chụp ảnh – đăng lên chia sẻ!

Ánh sáng
Trong bộ môn nhiếp ảnh, ánh sáng giúp chúng ta ghi nhận cảnh vật chung quanh. Nếu chúng ta chịu khó tìm hiểu và học hỏi cách dùng ánh sáng thì sự diễn đạt tư tưởng của chúng ta qua cảnh vật sẽ thành công hơn. Khi chụp hình, phim không ghi nhận chủ đề, mà chỉ ghi nhận ánh sáng phản chiếu từ chủ đề. Ánh sáng cho biết màu sắc, chi tiết, hình thể, vân thể của chủ đề. Bởi vậy không có ánh sáng thì không có nhiếp ảnh.
1 – Nguồn sáng:
- Thiên nhiên (mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao…): chúng ta không thể điều khiển ánh sáng thiên nhiên nhưng có thể thay đổi bằng cách chọn những thời gian và không gian khác nhau (sáng, trưa, chiều, tối, dưới đám mây, trong sương mù, dưới tàng cây …)
- Nhân tạo (đèn cầy, đèn dầu, đèn bóng, đèn flash…): chúng ta có thể điều khiển và thay đổi ánh sáng nhân tạo một cách dễ dàng.
Nhiếp ảnh gia có thể dùng 2 nguồn sáng cùng lúc. Ví dụ dùng đèn flash để phụ thêm ánh sáng thiên nhiên.
2 – Phân loại ánh sáng:
- Ánh sáng thẳng (direct light): đi thẳng từ nguồn sáng đến chủ đề, rất mạnh, bóng đổ sắc cạnh.
- Ánh sáng phân tán (diffuse light): ánh sáng đi qua đám mây, màn sương, lớp vải…và phân tán đi nhiều hướng. Ánh sáng này dịu, bóng đổ không còn sắc nét.
- Ánh sáng phản chiếu (bounce light): ánh sáng chiếu vào mặt phẳng, rồi phản chiếu đến chủ đề. Tùy sự cấu tạo của mặt phẳng, ánh sáng có thể mạnh, yếu hoặc ửng lên chủ đề những màu sắc từ mặt phản chiếu. Ví dụ: màu vàng kim loại của tấm phản chiếu (reflector) làm màu da mặt người mẫu ấm áp hơn.
3 – Hướng đi của ánh sáng:
- Ánh sáng trực diện (front lighting): ánh sáng đi từ sau lưng nhiếp ảnh gia, chiếu thẳng vào chủ đề. Ánh sáng này so rõ các chi tiết, còn gọi là ánh sáng phẳng (flat) vì không có bóng đổ.
- Ánh sáng tạt ngang (side lighting): ánh sáng ngang tạo hình tranh tối tranh sáng, nhờ đó chúng ta có thể trông thấy độ sâu, hình hể, vân thể và bóng đổ. Nói tóm lại, ánh sáng tạo ra không gian ba chiều.
- Ánh sáng ngược (back lighting): ánh sáng chiếu từ sau lưng chủ đề đến ống kính. Lối xử dụng ánh sáng này cần nhiều kinh nghiệm về khẩu độ và tốc độ, hình chụp đúng cách thường rất đẹp, nếu chủ đề là chân dung thì ánh sáng trên mặt rất dịu, tóc có viền sáng, mắt không hấp him, mặt mày không nhăn nhó như lúc được chụp bằng ánh sáng phẳng. Lối chụp hình này rất được nhiều nhiếp ảnh gia lão thành xử dụng. Ánh sáng ngược còn được xử dụng để tạo nên những bóng đen mà hậu cảnh là bình minh hoặc hoàng hôn (silhouette).
- Ánh sáng chếch: ánh sáng chiếu trên chủ đề với góc xiên 30-60 độ. Chụp ảnh chân dung ngoài trời hoặc trong studio, nguồn sáng thường được xếp đặt cỡ 45 độ.
- Ánh sáng tổng hợp: ta có thể phối hợp nhiều nguồn sáng khác nhau để sáng tạo những hình ảnh như ý muốn khi chụp ảnh chân dung ngoài trời hoặc trong studio.
Ngoài những ánh sáng căn bản trên, ta có thể dùng ánh sáng ngược từ dưới lên hoặc từ trên xuống để diễn đạt những sắc thái đặc biệt của chủ đề.
4 – Sự tương phản của ánh sáng:
Sự tương phản (contrast) là sự khác biệt giữa 2 phần sáng và tối của chủ đề.
- Tương phản cao: khi ánh sáng có cường độ mạnh, sức tương phản nhiều làm đường biên giữa sáng và tối rõ ràng, sắc nét.
- Tương phản thấp: khi ánh sáng có cường độ yếu, sức tương phản ít làm sự khác biệt giữa sáng và tối không xa cách nhiều, đường biên giữa tối và sáng không rõ ràng sắc nét.
5 – Màu sắc của ánh sáng:
Màu sắc ánh sáng thay đổi từng giờ trong ngày và thay đổi theo tháng hoặc theo mùa. Màu sắc của ánh sáng được đo bằng độ Kelvin.
Lúc rạng đông hoặc hoàng hôn, ánh sáng có màu vàng, da cam, sắc độ từ 3000 đến 4000 độ Kelvin. Những hình chân dung chụp vào buổi sáng sớm hoặc xế trưa thường có màu vàng cam trên da mặt.
Vào ban trưa , ánh sáng thay đổi thành màu trắng (white light). Màu sắc trắng là một tổng hợp toàn hảo của các màu sắc trong cầu vòng (rainbow). Sắc độ từ 5000-6000 độ Kelvin.
Trong những ngày ánh sáng chói chang, sắc độ có thể lên đến 7000-8000 độ Kelvin.
Ta có thể thay đổi hoặc loại bỏ màu sắc bằng cách dùng kính lọc , loại phim đặc biệt hoặc kỹ thuật phòng tối.
6 – Ý Nghĩa của ánh sáng:
Nếu ta biét cách sử dụng ánh sáng và màu sắc một cách đúng mức ta sẽ truyền thông được nhiều tư tưởng qua tác phẩm nhiếp ảnh.
- Ánh sáng âm u, đen nhiều hơn trắng diễn tả được nỗi huyền bí của cảnh vật, sự bi ai trong tâm tư chủ đề, những bí mật sâu xa trong lòng người…
- Trắng nhiều hơn đen diễn tả được sự ngây thơ trong trắng như khuôn mặt đứa bé, tà áo học trò…
- Mây trắng, trời xanh, hoa đỏ vàng cho thấy sự sinh động của đời sống.
Ngoài ra những nguồn sáng tạo ra trong tác phẩm còn là một cách hướng dẫn khéo léo để đưa ánh mắt người xem tiến về một chủ đề quan trọng trong tác phẩm.

Bố cụcBố cục (composition) là sắp xếp, kết hợp, chọn lựa, tổ chức lại, bổ xung…đường nét, hình thể cấu tạo để nói lên một ý chính. Bố cục là phần vụ then chốt trong ảnh nghệ thuật hay ít nữa, một ảnh có ý nghĩa hơn, dễ xem đẹp mắt hơn.
Cho nên bạn đến đường nét, hình dáng, thể tích, màu sắc, ánh sáng ,bóng tối…của cảnh hoặc vật mình muốn chụp ảnh trước khi bấm máy. Thử duyệt xem những ý nghĩa của phần vừa đề cập được chấp nhận chung trong giới làm nghệ thuật tạo hình.
1 – Đường nét:
Ta dùng đường nét để hướng mắt người xem vào chủ đề.
- Đường thẳng đứng (đường dọc – vertical) cho ta ý cương nghị, trang nghiêm, thẳng thắn, cứng rắn, vững chắc…
- Đường thẳng nằm (đường ngang – horizontal) cho ta ý rộng rãi , bình thản , thanh tịnh…
- Đường cong (curve) cho ta ý mềm mại, gợi cảm, duyên dáng mỹ miều, uyển chuyển, trôi chảy…
- Đường xiên (chéo góc – diagonal) cho ta ý nghĩa sống động, đấu tranh…
- Đường thẳng hội tụ cho ta cảm thấy chiều sâu…
- Đường cong hội tụ (xoáy trôn ốc) cho ta cảm giác cuốn hút mãnh liệt ví dụ con trốt (tornado), nước xoáy, trăn quấn…
- Đường toả ra cho ta ý phát xuất , bung rộng…
- Đưòng lập lại cho ta ý nhịp nhàng, thêm lên, hằng hà sa số…
- Đường ngang, dọc, chéo góc chung nhau cho ta ý nghĩa hỗn loạn, vô trật tự, thiếu tổ chức…
2 – Hình thể:
Theo hình kỷ hà. Những đường thẳng, đường cong góp lại thành hình kỷ hà, những hình này có ý nghĩa quan trọng giúp người chụp ảnh tạo tác phẩm của mình .
- Hình tam giác: vững vàng…
- Hình vuông, chữ nhật: chắc chắn, cứng rắn, nặng nề…
- Hình tròn: di động…
3 – Ánh sáng và bóng đổ:
Tạo hình thể thành khối lượng. Bóng đổ giúp hình thể thêm chiều thứ ba, chuyển một mặt phẳng thành khối có thể tích, có chiều sâu, có xa gần. Ánh sáng và bóng đổ nguyên nó đã là đường nét cho bố cục. Tập quan sát và diễn nghĩa các bóng đổ mình gặp hằng ngày, thử áp dụng vào bố cục tưởng tượng rồi chuyển qua chụp hình thật .
4 – Luật một phần ba:
Nên đặt chủ đề, nhất là chủ điểm vào điểm quan trọng của bố cục nằm ở 1/3 của chiều cao và chiều dài của ảnh, tránh đặt vào giữa ảnh. Đường chân trời cũng theo nguyên tắc này.
- Muốn nói trời rộng mênh mông, đặt đường chân trời vào 1/3 dưới.
- Muốn nói đất hoặc nước mênh mông, đặt đường chân trời ở 1/3 trên.
- Muốn tăng sự mênh mông bát ngát hơn, có thể đặt đường chân trời cao hơn hoặc thấp hơn 1/3 khung ảnh.
- Muốn nói lên sự cao vút, nên dùng bố cục đứng. Muốn nói lên sự rộng bao la bát ngát nên dùng bố cục nằm.
- Nên cho khoảng trống nhiều hơn ở phía trước của hướng người hay vật di chuyển tới. Điều này cũng áp dụng cho hướng nhìn của người nếu chụp ảnh bán thân hay chân dung nhìn ngang của người.
- Tuy nhiên nếu muốn nói hướng đến đích sau khoảng đường dài đã qua, có thể áp dụng ngược lại điều ghi ở trên.
- Ở trên chúng ta có đề cập đến điểm mạnh để đặt chủ đề là 1/3 của khung ảnh. Nhưng muốn nói lên sự tôn nghiêm tối thượng (ảnh Chúa, tượng Phật, Tổng thống nói chuyện với dân, mục sư đang giảng đạo hay hoà thượng đang thuyết pháp…) chủ đề cần đặt vào giữa ảnh.
- Nếu lỡ sơ xuất hoặc hoàn cảnh không cho phép nguời chụp ảnh bố cục theo ý muốn ta có thể cứu vớt ảnh bằng cách cắt xén lại ảnh đã chụp bằng bố cục lần thứ hai.
- Nếu chụp ảnh trừu tượng hoặc ảnh chỉ dùng màu sắc mà không cần hình thể , ta cần chú ý đến màu chính và màu phụ, sự tương phản của màu sắc, cũng như kích thước của từng mảng màu để định chủ đề và đưa vào chủ điểm cho bố cục vững vàng./

 

Bên bờ vịnh Stockhom

Bên bờ vịnh Stockhom

 

Picnic cùng Svetlana

Picnic cùng Svetlana

 

Bái tử long

Bái tử long

  Bài sưu tầm

  Ảnh của tôi

Xem thêm chuyện lạ Nhiếp ảnh:

Chụp Nude trên tàu điện ngầm NY

Actress Jocelyn Saldana

Cách làm của họ là lên một toa tàu đông người, rồi chỉ trong 30 giây, cô người mẫu nhanh chóng thoát y để chụp đúng 10 kiểu ảnh trong khi tất cả hành khách không kịp phản ứng.

The photographer Zach Hyman

Thế nhưng vẫn có một hành khách nữ hét lên, trong khi đó thì một người đàn ông lớn tuổi ngồi kế bên run lên bần bật.

Theo Hyman, “việc chụp ảnh phụ nữ ở nơi công cộng kiểu này dễ hơn chụp nam giới. Mọi người nhìn thấy một người đàn bà khỏa thân và họ mỉm cười”.

Jocelyn

Anh ta còn dàn cảnh để chụp những kiểu đặc biệt này ngay giữa Quảng trường Thời đại và khu Phố Tàu.

Mỗi khi thực hiện những màn này, anh ta thường phải đảm bảo có đủ tiền để nộp phạt hoặc phải coi chừng cảnh sát tới.

Hyman cho rằng loạt ảnh của anh là đầy sáng tạo dựa theo những bức tranh khỏa thân kiểu cổ điển và khẳng định là chúng không mang tính khiêu dâm.

Bài sưu tầm

Tư duy và lối sống người Việt trước yêu cầu đổi mới

  Đặc trưng của tư duy truyền thống Việt Nam thiên về tình hơn lý. Người Việt thường lấy đạo đức làm cơ sở trong quan hệ ứng xử giữa người với người, tình làng nghĩa xóm sâu nặng đã che mờ quan hệ pháp lý – vốn được coi trọng trong các xã hội phát triển.

 

Đồng lúa một chiều thu - ảnh: Đặng Minh Liên

Đồng lúa một chiều thu - ảnh: Đặng Minh Liên

     

“Tư duy và lối sống của người Việt Nam trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế” là một nội dung của đề tài KX.03.07/06 do Viện Triết học (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) thực hiện.

Các đặc trưng nổi bật trong lối sống của con người Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước; tính cố kết cộng đồng gắn liền với tình làng nghĩa xóm, tinh thần đoàn kết tương trợ qua các quan hệ gia đình, dòng họ, làng xã; tinh thần bao dung nhân ái, quý trọng con người… Đây là những giá trị trong văn hóa truyền thống cần được phát huy.

Một số hạn chế cần khắc phục trong tư duy và lối sống người Việt là còn mang đậm nét tâm lý của người sản xuất nhỏ- tâm lý tiểu nông, tự cấp tự túc, đóng cửa, cục bộ và bảo thủ.

Trong xã hội Việt Nam cổ truyền, cái cộng đồng lấn át cái cá nhân, các cá nhân hầu như không có sự tự chủ và bộc lộ cá tính, kìm hãm sự sáng tạo của cá nhân. Trong xã hội hiện đại đây là một nhược điểm cần được khắc phục để cá nhân có thể bộc lộ mình, có thể sáng tạo, dám chịu trách nhiệm về những việc mình làm.

Hiện nay, quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, muốn nâng cao tính sáng tạo, tích cực của quần chúng, phải tiếp tục mở rộng dân chủ. Các nhà khoa học đưa ra giải pháp hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa – một thể chế đảm bảo phát huy một cách hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân.

Tư duy truyền thống Việt Nam có sự ưu trội của tư duy kinh nghiệm, yếu kém về tư duy lý luận. Về mặt phương pháp luận, tư duy truyền thống Việt Nam mang đậm dấu ấn của tư duy biện chứng phương Đông. Tính biện chứng này mang đặc trưng trực quan, trực giác. Lối tư duy đó có độ mềm dẻo cao song lại thiếu tính chặt chẽ, chính xác, chú ý nhiều đến định tính hơn định lượng.

Đặc trưng của tư duy truyền thống Việt Nam thiên về tình hơn lý. Người Việt thường lấy đạo đức làm cơ sở trong quan hệ ứng xử giữa người với người, tình làng nghĩa xóm sâu nặng đã che mờ quan hệ pháp lý – vốn được coi trọng trong các xã hội phát triển. Với cách ứng xử như vậy, các quan hệ pháp lý trở nên trì trệ và tư duy pháp lý của Người Việt trở nên yếu kém. Đây là một nhược điểm cần được khắc phục khi nước ta tham gia vào quá trình hội nhập và giao lưu quốc tế.

Hiện nay, tư duy và lối sống của người Việt còn chịu ảnh hưởng nặng nề của lối sống bao cấp. Tư duy và lối sống bao cấp có những mặt tích cực là góp phần làm nên sự ổn định xã hội, tạo điều kiện và cơ hội cho những người yếu thế, dễ bị tổn thương. Tuy nhiên, nó còn có những hạn chế thể hiện ở tính độc quyền, xin cho, ỷ lại, ngại thay đổi, đùn đẩy và trốn tránh trách nhiệm cá nhân.

Khi nước ta phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, những nhược điểm đó sẽ là trở lực phải khắc phục để mỗi người có cơ hội bình đẳng, phát huy hết sức sáng tạo của mình, đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển đất nước.

Việc hoàn thiện quan hệ sản xuất, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa sẽ góp phần thay đổi tư duy và lối sống của người Việt, khơi dậy sức sáng tạo của nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

 Nguồn: TTXVN

 

Tin bài liên quan:

“Hậu hiện đại” trên 360plus

Entry này như 1 trình diễn vui cuối tuần FR 360plus của tôi

Link nguyên bản có nhiều ảnh minh họa NẮNG TRƯA

Thư mục: Chuyện Nông thôn | Đăng ngày: 23:33 25-03-2009


Nắng trưa, nơi miền quê yên ả

Làng thôn đang giấc nghỉ

Bà con nông dân trốn cái nắng, ngoài đồng vắng tanh

Tại một nếp nhà có vườn cây bao quanh

Ông chủ nhà tuổi trung niên cởi trần, mắt lim dim nằm trên chiếc giường gian đầu đốc của căn nhà xây kiểu một thụt một thò. Chỉ có tiếng quạt điện chạy ro ro

Vợ con ông cũng nghỉ trên giường phía trong

Bất chợt lảnh lót tiếng Gà: – Quác quác, cục ta cục tác!!!!….

Tiếng Chó sủa:- Gâu gâu gâu!!!…

Ông chủ nhà vùng dậy, chạy ra sân

Phía chuồng Gà vẫn vang lên : – Quác, quác, quác, cục ta cục tác!!!…

Ông lao đến, thấy:

Con Diều Hâu vừa chộp được chú Gà con và bay vút lên

Ông nhặt vội hòn sỏi ném theo

Và vung cả hai tay lên trời, kêu to: – U ươ! u ươ, u ươ!!!…

Chú Chó vàng cũng nhẩy lên: – Gâu gâu gâu!!!!…

Ông thất vọng nhìn theo con Diều Hâu quắp con Gà con lông vàng ươm

Đàn Gà : – Cục tác, cục cục tác, oách oách, cục ta cục tác!!!!…

Gà mẹ xõa cánh nhầy chồm chồm:- Cục tác tác, cục cục …tác!!!…Cục ta, cục tác,tác tác tác!!!

*****

Vợ và 2 đứa con ông cũng vừa chạy ra

Hai vợ chồng cùng vẫy tay lên trời và kêu to: – Hươ, hươ, hươ!!!…

Con Diều Hâu quắp chú Gà con non tơ lông vàng ươm đã bay cao

Thằng cu thì có vẻ hớn hở

Con bé út tròn xoe mắt nhìn chưa hiểu chuyện gi!

***** (*)

Bà vợ: – Đã bảo bố mày làm cái phên che chuồng Gà. Bao giờ Gà con lớn cứng hãy thả, cứ lần lữa…

Ông chồng: – Ui dào! trăm thứ việc, chiều nay mới định làm, thì …Đúng là nhanh như Cắt!

Bà vợ: – Mất Bò mới lo làm chuồng! Rõ chán!

Yên tĩnh trở lại buổi trưa miền thôn dã.

Đàn Gà ủ rũ, đàn Chó thiu thiu ngủ (*)

Những đôi cánh Diều Hâu vẫn chao lượn xa xa

Ông chủ nhà bây giờ cẩn thận xích con Chó vào chuồng Gà

Ông mong một ngày đàn Gà sinh sôi, như bức tranh Gà đàn treo trên tường nhà!

Con Bò vô can và thong dong nhất, chủ nghĩa Mắc kê nô!!!
(*)

Link nguyên bản có nhiều ảnh minh họa NẮNG TRƯA

Bài: Đặng Minh Liên

Trích dẫn (0)
Tìm tag: Kí sự nông thôn
Tổng cộng 42 lời bình
Báo cáo —**[Rak]l0v3[DBSK]**f0r3v3r**[DBSK]isN0.1**—
20:56 08-04-2009Woa cảnh làng wê yên bình wá. Mấy con cún dzí đàn gà nhìn yêu ghê Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
21:12 08-04-2009Cảm ơn bạn đã bình trúng!!! Báo cáo boy_hangkhung76
17:08 03-04-2009tôi cá rằng, thế hệ 9X bây giờ xem những cảnh nầy chúng chẳng hiểu gì về cảnh làng quê đâu Bác nhẩy ? chúng làm sao biết được cái đẹp của cảnh “Vườn rau, ao cá, cây mít”, những cây đa đầu làng; cảnh những bà, những cô đi chợ về ngồi nói fét ở gốc cây đa đầu làng… Chúng chỉ hình dung được pần nào qua bài thơ của Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bính …Nhưng bác đặt là nằng trưa sao tôi thấy khó chịu wa. Chúc Bác có nhiều “đứa con tinh thần” ngon hơn nữa cho bọn em được thưởng thức Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
18:51 03-04-2009Đúng thế! sẽ còn viết nhiều về làng quê xưa và nay, chờ đón đọc và ghi còm nha! cảm ơn nhiều
Báo cáo nhoc_ck_8x
11:59 30-03-2009uhm mu muon de nhung chu dong len thi lam the nao ban Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
14:39 30-03-2009Khong hieu ban viet gi ??? Báo cáo hoaxuyenchi
15:08 29-03-2009Bạn Cỏ có nhiều hình độc quá.Thích mấy con cún nay nà Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
01:31 30-03-2009Thì hiện thực nó là như thế! o bố trí nên nó … thanks!!! Báo cáo Vô_Hình
11:42 29-03-2009ua da dạnh quá hi
Báo cáo O’Star lem””’
10:23 29-03-2009cuối tuần tuyệt vời nha chủ nhà ui

Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
10:33 29-03-2009Cảm ơn! have nice day!!! Báo cáo Āķīŗå Ťāķěşħĭ
09:44 29-03-2009Add friend nha
Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
10:12 29-03-2009Chào bạn ! ok! Báo cáo o.O (DANH_VONG) O.o [HNP]
09:01 29-03-2009
HNP nay off sẽ có một ngày thật vui!
Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
09:44 29-03-2009OK! tớ cũng dự, riệu vui nhá!!! Báo cáo Shrek
00:20 29-03-2009Xin con chó con đem về nuôi giữ nhà bác nhé ! Con chó nhà bị “chúng nó” bả rồi .
Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
00:28 29-03-2009Phải mua chứ!!! Chó quý đâu có cho được! hi hi!!! Báo cáo gotta_find_bestfriend_hs
20:08 28-03-2009uj hay thế. cho thêm bạn đc hâm?!!
Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
23:24 28-03-2009Cảm ơn!!! add friend vô tư!!! Báo cáo lonely_boi
12:48 28-03-2009e!Lau Lau nho’ ghe’ blog minh` binh` lua^.n nha!

Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
14:23 28-03-2009Rùi!
Báo cáo cinderella
11:30 28-03-2009Như quay lại một đoạn phim về tuổi thơ nơi miền quê của tui vậy, thư giản cuối tuần. Cám ơn! Chúc bạn cuốc tuần có thêm nhiều ý tưởng hay!!! Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
11:54 28-03-2009OK! Cái nhìn của cảnh phim đấy! cảm ơn!!! Báo cáo NgườiLẩmCẩm@
11:18 28-03-2009Lời dẫn ảnh hay và sâu ! Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
11:55 28-03-2009Cảm ơn bạn!!! Báo cáo Hồng Nhật
10:34 28-03-2009Đạt tiêu chuẩn của một lát cắt. Chỉ mới cắt chứ chưa đủ gia vị. Nhưng có khi ăn thịt luộc (so với đồ xào) cũng có cái hay bác nhỉ?
Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
11:55 28-03-2009OK! Đúng thế HN ạ!!! Báo cáo o.O (DANH_VONG) O.o [HNP]
08:51 28-03-2009Thêm bạn Vào sổ đen

Chúc cuối tuần vui vẻ nha!Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
11:57 28-03-2009Rất hài và có hậu!!! chúc vui nhá!
Báo cáo 2Nteen.co.cc
08:33 28-03-2009cãm ơn bạn đã ghé thăm blog mình chúc bạn luôn vui vẻ và nếu rãnh thì hãy ghé blog mình thường xuyên nhé blog mình luôn cập nhật những tin mới nhất về teen và tin kỳ lạ Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
16:21 28-03-2009OK! thanks! Báo cáo Bé Yêu luôn cười
02:21 28-03-2009Đọc bài của bạn làm mình nhớ lại một bài đồng dao học hồi cấp 1, bài đó hình như tên là “mười cái trứng”, có một cái trứng nở ra gà con rồi bị bắt, giống lắm. Nhớ ngày xưa quá còn đi học quá
Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
11:52 28-03-2009Nó là đề tài như nhau bạn ạ! story là chuyện tui chứng kiến, riêng biệt, không đụng hàng!!! Báo cáo cựu chiến Binh
22:12 27-03-2009kịch bản phim hoạt họa
Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
22:56 27-03-20091 hoạt cảnh phim đấy!
Báo cáo BoyPlay
21:53 27-03-2009 Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
22:57 27-03-2009Chào nhá! Báo cáo O’Star lem””’
20:18 27-03-2009ồ , mấy bức ảnh (*) trông rất tuyệt

Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
20:27 27-03-2009Cảm ơn bạn! Ảnh có (*) tớ chụp khi về miền quê, có cảm xúc nên tâm đắc Báo cáo lonely_boi
19:51 27-03-2009cam’ on ban. Mai mot’ nho’ ghe’ wa binh` lua^.n the^m nhoa! Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
20:02 27-03-2009Ừ, rỗi rãi cứ vào xem tự nhiên!!!
Báo cáo lonely_boi
19:42 27-03-2009Nguoi` we^ cung~ da dang. wa’.Nhung nho’ wa blog minh` binh` lua^n. nha! Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
19:43 27-03-2009Ừ! Sẽ sang!!! chúc vui!!!
Báo cáo thesnow_mylove_9339
18:15 27-03-2009que ngheo nhung thanh binh va am ap fai hong!
Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
18:40 27-03-2009Rồi! các vùng quê bây giờ đa dạng lắm!!! Báo cáo nhoc_ck_8x
15:42 27-03-2009thanks ban nhe.to moi chueyn nha con chua bit su dung kieu j hehe Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
16:19 27-03-2009Dễ ợt bạn ạ!!! dùng tới đi!!! Báo cáo Hồng Nhung xanh
14:42 27-03-2009Chào anh nha! Quê buồn,quê nghèo nhưng quê luôn dịu dàng và cho ta cảm giác thanh bình
Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
15:59 27-03-2009Đúng thế HNX ạ! thanks!
Báo cáo Hoàng hôn tím.
13:04 27-03-2009Đọc bài của anh như là đang được xem phim ấy. Ở đâu cái ác còn tồn tại thì nơi ấy không yên ổn. Em thích hình ảnh con diều hâu(ác), lũ gà (yếu ớt, thấp cỏ bé họng)và con bò(bàng quan với cuộc sống, không ảnh hưởng gì đến mình thì không cần biết)…
Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
15:59 27-03-2009Cảm ơn HHT! phân tích của em rất chuẩn theo kiểu điện ânh Báo cáo Ruồi Trâu
10:50 27-03-2009Nghèo quá, đã thế vẫn còn Diều hâu, rồi còn nghèo. Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
11:00 27-03-2009Ừ! mọi thứ khổ nó đọng ở thôn quê! cảm ơn đã hiểu myentry và chia sẻ!!!
Báo cáo nguyenkimhongtskhnv
10:23 27-03-2009LÀNG QUÊ YÊU DẤU ,! LÀNG QUÊ YÊN BÌNH ! LÀNG QUÊ NGHÈO KHÓ !LANG QUÊ ÍT ĐƯỢC BIẾN ĐỔI . BỨC TRANH QUÊ NAY KHÔNG KHÁC BỨC TRANH QUÊ XƯA !… VUI HAY BUỒN BẠN ƠI ?
Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
10:49 27-03-2009Cảm ơn bạn đã hiểu và chia sẻ!!! Báo cáo jasmin
06:39 27-03-2009Đọc bài của anh thấy rất thân thiện với miền quê,và rất chân chất cảnh thôn quê qua hình ảnh anh lấy vào.Nhưng bài viết đọc mới thấy thấm và làm emsuy nghĩ anh ạ.
Mong anh luôn vui và bình an nhé !Khi nào vè em sẽ hậu tạ anh.Jas nhớ sẽ mang theo rượu tây về và còn cả những bữa nhâu bên hồ tây nữa anh nhé.
Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
10:46 27-03-2009OK! Rất cảm ơn J đã hiểu và chia sẻ! chúc ngày mới vui và kết quả!

Ừ, bao giờ về thì sắp xếp thời gian thích hợp ,cứ nhắn tin để bọn anh đón gặp giao lưu cho vui!!! In thơ của J nữa nhá!!!
Báo cáo Man United FC
23:41 26-03-2009tối zui zẻ và 1 giấc ngủ ngon nha Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
23:44 26-03-2009Cảm ơn!!! Báo cáo 108 lsb
23:04 26-03-2009 Ý bạn nói con bò là…ngu nhứt ? vô can ! Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
23:13 26-03-2009Có phần đúng!!! hi hi… ngu si hưởng thái bình…hi hi!!! Báo cáo Shrek
22:32 26-03-2009Huynh có ẩn ý chi trong bài không vậy ? Tiểu đệ không tin rằng chỉ là bâng quơ với cái trưa hè không đâu đấy ! “Bọn ác” nó cứ rình mò chung quanh bầy gà con huynh nhỉ ? Che chở cho sắp nhỏ đủ lông , cánh để đương đầu với cuộc sống . Mai này mới có một entry trưa hè nơi đâu đó mà thôn quê này đã từng ấp ủ chúng . chắc là vậy huynh nhỉ ?
Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
23:00 26-03-2009À bạn Shrek ạ: ẩn ý hay ý ngoài thì tác giả Tớ không kiểm soát được, bà con hiểu thế nào cũng được!

Tất nhiên chủ đề là hướng tới bảo vệ sự sống chống lại cái ác!!!
Báo cáo Mai Meo HNP
22:27 26-03-2009Bac yeu lang que lam phai khong bac? chau thay bac rat hieu cuoc song, sinh hoat, suy nghi ….nhung nguoi thon que. Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
22:57 26-03-2009Bác hiểu trên 80% MM ạ! vì hay đi hay về các miền, chơi thăm cũng có, làm việc cũng có! Cảm ơn MM đã chia sẻ!!! Bình luận riêng Báo cáo Đây là lời bình riêng Báo cáo Đây là câu trả lời riêng Báo cáo hoaxuongrong892(DTP)
18:42 26-03-2009Cảm ơn nhiều nghen. XR lấy để thêm vào Ablum ảnh cho phong phú ấy mà. Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
18:49 26-03-2009OK! Báo cáo Bui Nhu Lac
17:36 26-03-2009Chuyện đồng quê của bác thật hay và yên ả. nhìn đàn gà trông ngon mắt quá bác ạ thế mà sáng nay trên vietnamnet nói về việc người ta biến gà phế phẩm thành gà ta xịn mà rầu rầu. Chúc bác luôn vui vẻ và có nhiều chuyện hay nữa nhé.
Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
18:18 26-03-2009Ok! Cảm ơn Bùi Như Lạc! Nick của bạn bùi ngậy ngon quá! Báo cáo knight_spk
16:30 26-03-2009
(`*•.¸( `*•.¸´………………………….. . ¸.•*´ )¸.•*´ )
«´`•….HAVE A FANTASTIC DAY..*.•´`»
(¸.•*´( ¸.•*´………..AND…………… `*•.¸ )`*•.¸ )
¤ _____ ¤ A BEAUTIFUL NIGHT ¤ _____ ¤ Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
18:22 26-03-2009Cảm ơn bạn!!! Báo cáo hoaxuongrong892(DTP)
16:12 26-03-2009Cảnh miền quê luôn yên bình nhưng vẫn có những biến động chưa nhìn thấy hết. Mấy cái hình ấy đẹp quá cho XR xin với được không Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
18:28 26-03-2009Đúng thế HXR ạ, nó là bình yên và cả xao động!

Hình có 3 chiếc đánh dấu (*) thì của tôi chụp, lấy thì đề nguồn dangminhlienblog Nhá!!!

Những chiếc khác sưu tầm, lấy thì đề sưu tầm! Nhá!!! Cho nó Pro
Báo cáo Tuỳ Phong
15:52 26-03-2009Entry cho mình một phút thư giãn, cảm ơn bạn
Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
15:53 26-03-2009Ok! chúc vui! have nice monh!!!Như vậy là entry hoàn thành nhiệm vụ!!! Báo cáo Lính Công Binh
12:31 26-03-2009Ông mong một ngày đàn Gà sinh sôi

Thích!!!
Rất Bình yên, rất thôn quê.
Rất ấm áp! dù có hơi tiếng tiếc một chút.
Nhưng gần như là lẽ đương nhiên và họ vẫn luôn hy vọng.
Những người Nông dân của tôi (hình như cha mẹ tôi đấy)…
Cảm ơn bạn!!!

Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
14:23 26-03-2009Cảm ơn LCB đã hiểu và đồng cảm!!!! Báo cáo My family
10:23 26-03-2009Bài hay lắm, rất lôi cuốn và thú vị Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
11:45 26-03-2009Cảm ơn bạn! Báo cáo công chúa mupmip
01:14 26-03-2009nhung hinh anh nay ,lam cho minh them cam giac yen a cua lang que qua ban a.co ve ban yeu thien nhien lam day Báo cáo dangminhlien- friend vannghe
01:17 26-03-2009 Cảm ơn bạn đọc đầu tiên và cho còm!!! rồi! tôi yêu cảnh thôn dã cổ điển!
NẮNG TRƯA

7 việc không nên làm sau khi uống rượu

(Dân trí) – Các chuyên gia sức khỏe Mỹ đã đưa ra lời khuyên về những việc nên làm và không nên làm sau khi uống rượu để hạn chế ảnh hưởng không tốt của rượu đối với sức khỏe.

1. Uống nhiều cà phê

Do cà phê có tác dụng kích thích và đẩy nhanh quá trình tiêu hóa. Uống nhiều cà phê sau khi uống rượu sẽ gây ra tình trạng cơ thể thiếu nước trầm trọng, càng gây ra cảm giác khó chịu.

Lời khuyên: Uống trà (đặc biệt là hồng trà), uống nhiều nước sau khi ngủ dậy có tác dụng nâng cao tinh thần hiệu quả.

2. Uống thuốc hạ sốt

Nếu uống thuốc hạ sốt (Hyroxy phenyl acetamide) ngay sau khi uống rượu có thể sản sinh ra các độc tố dẫn đến viêm gan thậm chí gây tổn thương nghiêm trọng đến gan, có thể dẫn tới tử vong.

Lời khuyên: Nếu thấy người có triệu chứng sốt ngay sau khi uống rượu, không nên uống thuốc hạ sốt ngay lúc đó, mà nên đợi đến sáng sớm ngày hôm sau khi đã tỉnh táo.

3. Ăn nhiều lạp xường và chân giò hun khói (giăm bông)

Thực phẩm chứa nhiều chất béo như: lạp xưởng và chân giò hun khói… cũng có tác dụng nhất định trong việc giải rượu. Tuy nhiên, nếu ăn quá nhiều lại có tác dụng ngược lại. Bởi tại thời điểm này, dinh dướng của những thực phẩm đó không thể hấp thụ. Đặc biệt, các chất béo sẽ làm chậm quá trình tiêu hóa cũng như quá trình “giã rượu”.

Lời khuyên: Chỉ ăn lượng nhỏ những thực phẩm béo nêu trên nếu thấy đói bụng. Tốt nhất nên ăn trứng luộc, trứng muối, hay uống chút trà đặc. Homocysteine trong trứng phát huy tác dụng hiệu quả trong việc phân giải nồng độ cồn (C2H5OH) trong rượu.

4. Vận động mạnh

Sau khi uống rượu, lượng nước trong cơ thể mất đi càng nhanh và nhiều, bởi nó được huy động để điều hòa thân nhiệt, cân bằng nhiệt độ cơ thể do chất cồn sinh nhiệt. Lúc này mà vận động mạnh hay chơi thể thao càng làm tăng nguy cơ mất nước trong cơ thể.

Lời khuyên: Tốt nhất nên nghỉ ngơi ,thư giãn ở những nơi thoáng mát nhưng tránh gió lùa vì có thể dẫn tới cảm đột ngột.

5. Ăn đồ chiên, quay, rán

Những thực phẩm loại này thường khiến bạn nhất thời cảm thấy thoải mái. Tuy nhiên, chỉ cần vài giờ sau sẽ có thể là cảm giác đau bụng, đầy bụng, khó chịu. Bởi lượng dầu mỡ quá nhiều, gây cản trở quá trình tiêu hóa, làm tổn thương dạ dày và ruột.

Lời khuyên: Nên ăn chút bánh bao hay các loại bánh ít đường, ít muối có thể cải thiện lượng đường trong máu, làm giảm cảm giác buồn nôn khó chịu.

Ngoài ra nên ăn 1 vài quả chuối sau khi uống rượu để bổ sung lượng kali (K) kịp thời.

6. Uống thuốc giã rượu

Thuốc giã rượu hoặc những loại thuốc gây nôn nhằm mục đích nhanh chóng “ đánh bật” chất cồn ra ngoài cơ thể. Những loại thuốc này chỉ tạm thời khiến chúng ta nhầm tưởng vì thấy tinh thần tỉnh táo hơn. Tuy nhiên trên thực tế, làm như vậy càng kéo dài thời gian chất cồn hoành hành trong cơ thể. Bởi những tác dụng phụ của thuốc sẽ còn lưu lại, phản ứng dữ dội hơn với dạ dạy và đường ruột, khiến chúng nhanh chóng ngấm sâu vào các cơ quan trong cơ thể, càng gây cảm giác mệt mỏi, khó chịu.

Lời khuyên: Uống nước lọc hay nước hoa quả (nước cam ép có độ chua vừa phải) nhằm duy trì sự cân bằng lượng đường trong máu.

7. Ăn quá nhiều trước khi ngủ

Sau khi uống rượu, nếu thấy đói nên ăn những thực phẩm giàu chất xơ, ít béo để lót dạ. Tuy nhiên không nên đi ngủ ngay sau khi ăn xong, bởi chất cồn sẽ ngấm dần vào thức ăn trong dạ dày gây tiêu hóa kém hay đầy bụng, khó chịu.

Lời khuyên: Trước khi đi ngủ uống chút nước lọc giúp nhanh tỉnh rượu, tránh hiện tượng cháy khát cổ, hay cảm giác khó chịu sau khi tỉnh giấc.
Nguồn : dantri.com

Tôi bổ sung :
8 .tửu nhập ngôn xuất – cần hết sức tránh lời lẽ mất hòa khí
9. Tửu sắc – biết kiềm chế hoặc nhịn khi say xỉn
10. Tửu lượng – non đi thì vui hơn là quá đà

Bình luận phim “Trăng nơi đáy giếng”

Cảnh phim “Trăng nơi đáy giếng” Cảnh phim Trăng nơi đáy giếng

Hồng Ánh vai Hạnh trong: Trăng nơi đáy giếng

Hồng Ánh vai Hạnh  trong: Trăng nơi đáy giếng Tinh đa nghĩa và nghệ thuật thể hiện của phim Trăng nơi đáy giếng ( bài đã đăng trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật của Bộ văn hóa – thể thao và du lịch số tháng 8 – 2009)

Trăng Nơi đáy giếng – giải Cánh diều bạc năm 2008. Biên kịch Châu Thổ (chuyển thể truyện ngắn cùng tên của Trần Thùy Mai), đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn; quay phim Nguyễn Trinh Hoan, Nguyễn Nam, âm nhạc Quốc Bảo. Hãng phim Giải Phóng liên kết cùng Alliance film – Pháp. Hồng Ánh vai Hạnh đoạt giải nữ diễn viên chính xuất sắc trong Liên hoan phim quốc tế Dubai 2008; giải nữ diễn viên chính xuất sắc của giải Cánh diều vàng năm 2008.

Phương ( Hoàng Thanh Đề đóng) là hiệu trưởng một trường PTTH. Anh có gia đình yên ấm với cô giáo Hạnh ( Hồng Ánh đóng). Hạnh chăm sóc Phương rất chu đáo theo lối sống cổ điển chỉn chu của người phụ nữ Huế: lo cơm nước sáng chiều, giặt giũ quần áo; đặc biệt Hạnh còn biết ướp trà sen và pha trà cho chồng uống mỗi sáng.Hạnh bị vô sinh cho nên cả hai đã bí mật bàn cho Phương có người phụ nữ khác. Thắm, một thôn nữ ngoại ô Huế, đồng ý việc này. Trong vai trò chăm sóc mẹ Phương, Thắm đã đẻ 2 đứa con với Phương ở quê. Chuyện vỡ lở, nhà trường họp bàn kỷ luật Phương. Vợ chồng Phương đối phó bằng cách li dị và Phương kết hôn với Thắm. Phương rời đến ở với Thắm, còn Hạnh ở lại ngôi nhà cũ. Thắm mở quán cà phê và lo bán hàng không chăm sóc Phương, đến nỗi Phương phải tự giặt dũ…Hạnh đến thăm, thấy thế rất chán, khuyên Thắm, song Thắm không nghe. Hạnh cũng thôi dạy học rồi buồn sinh ốm nên cô đi cầu đồng. Cô đồng khuyên Hạnh kết hôn với người âm. Một lần Phương tới thăm Hạnh, thấy Hạnh mang thức ăn lên bàn thờ người âm cúng. Phương can ngăn và hứa sẽ xin lại việc làm giáo viên cho Hạnh vì Phương vẫn là hiệu trưởng. Hạnh nổi giận hắt bát nước vào Phương. Phương vội vã ra về. Hạnh đóng hết cửa lại như quyết chí sống cùng người âm.

Nhìn tổng thể: Phim mang đậm chất tâm lý xã hội hiện đại và bản sắc Huế nói riêng, trong nền văn hóa xã hội Việt Nam nói chung. Hầu hết những gì diễn ra trong phim cứ diễn ra một cách bàng bạc, nhẹ nhàng chậm rãi. Phim gợi nhiều hơn là nói thẳng ra các vấn đề nhân sinh, tâm linh và xã hội. Mạch tự sự nối tiếp tuần tự theo quan hệ của vợ chồng Phương – Hạnh là chính; bên cạnh là các nhánh phụ Phương, Hạnh -Thắm, Phương với đồng nghiệp nhà trường, Hạnh và bà đồng, Hạnh và con chó mà chủ nó mới mất. Kịch tính của phim giầu suy tưởng hơn là gay gắt mổ xẻ các mối quan hệ của nhân vật. Cốt truyện khá lỏng so với cổ điển nhằm gợi tả – luận giải hơn là kể chuyện *

Trong nghệ thuật phim truyện, khi nhà làm phim nghiêng theo hướng kể chuyện, thì họ sẽ xây dựng cốt truyện càng li kì hấp dẫn, càng có những tình tiết đặc sắc, thậm chí rắc rối – xung đột gay gắt càng tốt nhằm lôi cuốn người xem vào mạch tự sự. Khi đó, sự biểu hiện qua hình và tiếng chủ yếu nhằm miêu tả, bộc lộ khách quan sự phát triển của câu chuyện dựa trên cốt truyện phim. Nhà làm phim không hoặc ít khi dùng các thủ pháp có tính chủ quan để phân tích – lí giải, chẳng hạn như: ẩn dụ, tượng trưng, ấn tượng hay biểu hiện… Câu chuyện của Trăng nơi đáy giếng nếu được xử lí theo hướng này có thể sẽ có dạng: cuộc sống êm đềm của Phương – Hạnh, mâu thuẫn xuất hiện khi Hạnh mãi không sinh nở, bà mẹ thúc ép Phương lấy vợ khác, Hạnh vô cùng đau khổ – khóc thầm…, Phương buồn đi giải sầu (rượu chè, Karaoke…) – rồi mượn rượu to tiếng với Hạnh; giảng dạy, công tác bê trễ, bạn bè khuyên nhủ; rồi bằng cách nào đó gặp Thắm, yêu Thắm, có con bí mật với Thắm…Hạnh không còn cách nào khác cũng phải chịu đựng để Phương đi lại bí mật với Thắm. Sau đó chuyện vỡ lở và nhà trường họp bàn kỉ luật Phương, Phương mất chức và quay ra oán trường, ghét bạn bè, giận Hạnh rồi hai người li dị, Phương kết hôn và sống với Thắm – nhưng rồi cuộc sống vất vả làm hai người không hạnh phúc – cãi vã nhau thường xuyên…Hạnh đến can thiệp và bênh Phương.. Phương bế tắc… Hạnh đi chùa hoặc đi cầu đồng theo lời khuyên của một người quen. Phương quay lại thăm Hạnh nhưng bị Hạnh cự tuyệt…Sơ đồ cổ điển sẽ là: – mỗi tình huống – kèm va chạm mâu thuẫn tăng dần theo thời gian dẫn tới bùng nổ và kết thúc. Theo mạch tự sự có thêm nhiều tình tiết tích lũy xung đột – mâu thuẫn mạnh mẽ có tính logic nhân quả như trên, đạo diễn sẽ chủ yếu làm sáng tỏ câu chuyện và gây chú ý của ngưoi xem vào mạch chuyện; ông sẽ không chú tâm và cũng không đủ thời gian để thong thả nhấn nhá vào các cảnh: Hạnh ướp trà Sen, đóng mở cửa ngôi nhà Rường, Hạnh đi tìm con Chó, hay các cảnh sinh hoạt: làm bếp, ăn uông…Vốn là những cảnh chiếm khá nhiều thời gian song ít tính truyện vì không có xung đột trực tiếp gì trong đó, thậm chí chỉ là những mảng có vẻ “ngoại đề”. Và tất nhiên nếu làm theo hướng kể chuyện một cách nhuần nhuyễn hấp dẫn, phim cũng sẽ đạt kết quả cả về nghệ thuât cũng như thị trường. Tuy nhiên, đạo diễn đã chọn lối đi khó khăn hơn – có lẽ do tính cách của ông không muốn làm theo những gì từng quá phổ biến ở phim truyện nước ta – ông chọn cách biểu hiện – gợi tả hơn là kể chuyện. Vì thế tính truyện trong phim hầu như thứ yếu, thậm chí chỉ là cái cớ để diễn tả bằng ngôn ngữ phim. Câu chuyện phim khi kể lại cũng chỉ cần đôi ba tình tiết chính: Hạnh Phương sống êm đềm, Vì Hạnh vô sinh, nên Phương lấy Thắm, Hạnh cô đơn và buồn sau khi Phương rời nhà đến ở với Thắm, Hạnh đi tìm an ủi bằng cách lấy chồng ảo. Hầu hết các tình tiết đó cũng xảy ra, diễn ra nhẹ nhàng hơn là gây xung đột va chạm kiểu cổ điển như: đấu khẩu, bạo lực, dằn vặt, hành động hay xung khắc dữ dội…

Đạo diễn đã tập trung xử lí phần hình ảnh có sức gợi biểu hiện qua các cảnh dài, chậm rãi, lặng lẽ mà rõ nhất là các cảnh: Hạnh ướp trà Sen, Hạnh đóng mở của ngôi nhà, Hạnh làm các việc nội trợ, Hạnh làm thơ, đọc thơ, Hạnh sắm lễ và cúng người âm. Chưa đến mức gọi là ẩn dụ, tượng trưng trong các cảnh đó, nhưng sức gợi khá mạnh mẽ bởi nó nói lên bản chất hai chiều của nhân vật Hạnh: vừa chịu khó, tận tâm, an nhiên hết mình với chồng và tổ ấm nhưng cũng vừa nhẫn nại, chịu đựng, rồi mạnh mẽ đến như cực đoan phủ định quá khứ để hi sinh hết mình cho niềm tin mới – dù ảo khi hạnh phúc trần thế tan vỡ.

Sự đa nghĩa ngầm ẩn mà người xem chỉ có được qua suy ngẫm phân tích sau khi xem phim cũng được đạo diễn gợi nên tương đối rõ nét qua cách luận giải vừa kể tả vừa biểu hiện. Sự kể chuyện hiện lên qua các tình tiết logic, lấy cái có trước làm nền cho diễn biến tiếp sau ( như cốt truyện và tình tiết đã nêu ), còn sự biểu hiện ( như đã phân tích ở trên ) nhấn mạnh hoàn cảnh, không khí và tính cách nhân vật, gợi mở các ý nghĩa của phim. Hai yếu tố bút pháp này, có thể nói đã được kết hợp tương đối tốt trong phim.

Trong phim có các cặp ý nghĩa: bình an – bất an , cũ cổ xưa và mới, cổ điển và hiện đại, tinh tế và thực dụng, đúng và sai, ảo và thật, vật chất và tâm linh, nhiệt tình tận hiến và phũ phàng vô tình, thái quá và thờ ơ, niềm tin và đổ vỡ, nhẹ nhàng và quyết liệt…
Các nhân vật chính của phim ai cũng có cái đúng, cái tốt và có cái sai, cái đáng chê một cách có lý. Phương, Hạnh đều hoàn toàn đồng tình để Phương có con với Thắm, và sau đó cũng đồng ý li dị để Phương kết hôn với Thắm. Thắm – một thôn nữ nghèo ít học cũng đâu có lỗi khi không chăm sóc Phương được như Hạnh. Phương lấy Thắm rồi, tất nhiên sẽ chẳng thể quan tâm được tới Hạnh như xưa. Hạnh cũng khó mà trách Phương bởi cô đã tự nguyện xa Phương, Hạnh tận tụy chiều chồng nhưng cô cũng hành động thái quá cực đoan khi chăm chồng vô điều kiện; Phương đáng chê khi chỉ biết hưởng sự chăm sóc và hạnh phúc nhưng anh cũng có lí của anh: chẳng hạn – anh có chức vụ, nhà anh cần người nối dõi… Tính chất tự điều tiết, không ai ép ai, phải sao chịu vậy làm cho các nhân vật chẳng ai thắng ai, ai hay dở, ai đáng bênh vực hơn ai hiện lên khá logic và có sức thuyết phục. Hoàn cảnh xã hội mà cụ thể là ngôi trường nơi Phương, Hạnh dạy học cũng có cái lí đúng khi kiểm điểm vụ việc Phương có vợ bé. Từ tất cả cái đúng, cái tốt, cái thiếu sót của các nhân vật, phim đã đưa ra và gợi mở hơn là kết luận về một số vấn đề nhân sinh rất đáng suy nghĩ cho người xem. Nó như một bức tranh đa tầng ý nghĩa, trong đó vấn đề cứu rỗi bằng tâm linh chỉ bật lên ở phần cuối phim, khi Hạnh sắm sửa bàn thờ và nhiệt tâm cầu cúng với người chồng âm – ảo; dứt khoát không nghe lời Phương khuyên bỏ cầu cúng bằng hành động hắt nước vào Phương, khép hết các cánh cửa; rồi Hạnh mới có thể tiếp tục công việc đời thường như tưới hoa ở cảnh kết phim.

Tuy nhiên, các vấn đề đa dạng như trên với cách thể hiện có phần nhẹ gợi – gián tiếp nhiều hơn là mổ xẻ mạnh mẽ khiến khán giả đông đảo khó mà hiểu rõ đâu là ý chính của nhà làm phim, mặc dù mọi diễn biến của phim đều được biểu hiện kỹ lưỡng chăm chút tới từng chi tiết. Ví dụ cảnh ướp trà sen, cảnh đóng mở nhiều cánh cửa của ngôi nhà Rường – theo đạo diễn nói dài tổng cộng 3 phút, cảnh cầu đồng, cúng người âm cũng khá dài… Ưu điểm chính đọng lại vẫn là cảnh sắc và phong tục, tính cách Huế cổ điển, nhẹ nhàng song ẩn chứa cái quyết liệt cùng số phận lạ lùng éo le của nhân vật Hạnh; là sự dụng công chăm chút về nghệ thuật biểu hiện. Đây là tác phẩm có những tìm tòi, vận dụng sáng tạo tâm đắc nhưng có lẽ khá kén khán giả. Có thể coi đây là dạng phim gợi tả các ý niệm và gợi suy nghĩ về các ý niệm có tính luận đề triết lý xã hội; tương tự như phim Hạt mưa rơi bao lâu, Ba mùa; hay liên hệ xa hơn là các phim của đạo diễn nhật Ozu. Vì vậy, có thể nó sẽ đạt được một số mặt hay nào đó khi được giới nghề am hiểu phân tích kỹ lưỡng chứ khó có thể hay cho đại chúng vốn cần loại phim xem xong hiểu và thích ngay, chấm phê hay, ngay . Chính đạo diễn Vinh Sơn cũng bộc bạch là phim sẽ khó hiểu và gây cảm xúc chậm, nặng cho nhiều người. Sau buổi chiếu phim có bán vé tối 26 – 2 -2009 ( buổi tối 24 miễn phí với vé mời ) do Trung tâm văn hóa Pháp tại Hà Nội và Hội điện ảnh tổ chức: Đạo diễn cho biết: hầu hết cảnh quay trong phim dùng máy cầm tay, vác vai di động để thu hình. Liên kết các cảnh dài, toàn rộng hoặc hẹp khá nhiều. Không khí và tiết tấu nhiều cảnh cố ý chậm rãi thậm chí tĩnh lặng tạo cảm giác bức bối. Phim muốn nhấn vào chủ đề tâm linh: con người đi tìm niềm tin và an ủi trong thế giới phi thực – đây là nét cổ truyền phương Đông và vẫn gặp trong thế giới hiện đại, ví dụ thế giới ảo internet. Tựa phim “Trăng nơi đáy giếng ” và câu thoại do bà đồng nói vói Hạnh: “ lộng giả thành chân” tượng trưng cho thế giới ảo đó. Khi mang phim sang Liên hoan phim Rodterdam cuối năm 2008, đạo diễn đã phải mang trưng bày cả bàn thờ và vàng mã giúp khán giả phương Tây hiểu tục thờ cúng của Việt Nam.

Trong nền phim truyện nước ta, vốn thiên về biểu hiện đơn chủ đề, và nhân vật một chiều, “thật thà” kể chuyện, nay Trăng nơi đáy giếng là một trong số rất ít phim có vận dụng biểu đạt thành công tính đa nghĩa, đa chiều cùng bút pháp luận giải – gợi tả. Mỗi người, khi xem phim có thể tự rút ra khía cạnh tâm đắc mang ý nghĩa nhân sinh đời thường. Với cái nhìn chuyên môn: không khó để tìm ra đôi ba điều chưa tới, chuyển biến tâm lí nhân vật còn sơ hở – như sự cam chịu không được chăm sóc của Phương với người vợ mới – qua chi tiết anh lui cui ngồi giặt lấy quần áo, sự khô khan gò nhân vật theo ý tưởng, mấy thủ pháp tạo hình còn lộ – cứng, chưa nhuần nhuyễn; song, về cơ bản phim đã đạt tới tầm tác phẩm có sức nặng nghệ thuật sâu lắng và đậm tính tác giả!

* Gợi tả – luận giải , Kể chuyện – Hai khái niệm này có tính chất tương đối, đã được người viết nêu lần đầu và phân tích khá đầy đủ trong bài: Tìm hiểu khái niệm phim truyện – đăng trong Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật năm 2004 – Các website: Vannghesongcuulong và vanchuongviet có đăng lại
Ảnh : sưu tầm

Đặng Minh Liên Tháng 3 – 2009

Đọc cái này cũng không phí thời gian !

Những châm ngôn, ngạn ngữ, lời nói như trong entry này – Mục :Ý hay – lời đẹp sẽ luôn cập nhật ít nhất tuần 1 đến 2 lần. Và luôn được nối tiếp trong trang khi sưu tầm chọn được – có nêu nguồn với ( ) hoặc khi nghĩ ra. Mục đích: ghi cho mình, cho người thân và chia sẻ.
Mời quí vị và các bạn xem tham khảo!

Không nhìn vấn đề phức tạp bằng sự đơn giản nhưng phải biết đưa cái phức tạp về một số điều dễ hiểu và đơn giản

Present is present – hiện tại là quà tặng ( sưu tầm )
Không bao giờ được quyết định nóng vội

Luôn phải cân đối giữa : Ham mê và chừng mực, say và tỉnh, lý và tình…

Làm việc nghĩa thì chớ kể lợi hại

Luận anh hùng thì đừng xét hơn thua ( Lã Khôn )

Ví thử đường đời bằng phẳng cả
Anh hùng hào kiệt có hơn ai ( ca dao )

Xôn xao sóng vỗ ngọn tùng
Gian nan là nợ anh hùng phải vay ( ca dao)

Khi đường đời gập ghềnh nhớ giữ tinh thần luôn bằng phẳng ( Horace)

Viết cũng như sáng tác nói chung là nhu cầu biểu hiện tự nhiên của những ai có trí tuệ

Con người thường chạy theo nhu cầu và bị nhu cầu chi phối nhưng con người cũng có trí lực để điều tiết và kiến tạo hợp lý nhu cầu

Lúc khó khăn người ta có thể tồn tại ở nhu cầu tối đơn giản
Vậy thì hãy vui khi có được sự đáp ứng nhu cầu cao hơn

Giữa lí thuyết đúng đắn và thực tế bao giờ cũng có khoảng cách mà độ xa gần tuy thuộc về trình độ của cái thực tế tồn tại

Tùy ngộ nhi an – tùy duyên hợp việc – tự tại bằng an ( cổ học tinh hoa)

Quá đủ đầy thừa mứa vật chất tiện nghi cũng như quá thiếu thốn đều thường là gây tác hại lớn cho người nào ở hoàn cảnh như vậy;tất nhiên cũng có ít ngoại lệ

Vui có chừng, dừng đúng lúc ( ngạn ngữ hiện đại )

Khôn hay ngu, lịch lãm hay lố, bình thường hay bất thường, cao thượng hay thấp hèn, hay hoặc dở…có khi chỉ cách nhau sợi tóc ( từ ngạn ngữ thế giới )

Được mình là chính mình là thích nhất. Khổ …hỏng …tệ…cho những ai ngoài 40, 50 …mà vẫn không được hoặc không dám sống là chính mình
. Tất nhiên – tuổi càng thấp càng/ và phải chấp nhận/ ít được là mình vì chưa đủ khả năng độc lập

Không có khởi đầu thì cũng chẳng có kết thúc. Nhưng khởi đầu ra sao để quá trình không sai lạc là cả một khoa học và nghệ thuật

Gieo thói quen/ tốt – gặt hành vi/tốt; gieo hành vi/tốt – gặt tính cách/tốt; gieo tính cách/tốt – gặt số phận / tốt ( ngạn ngữ hiện đại/ sưu tầm )


Kỳ sau đăng tiếp

Minh triết và triết lý rất cần cho cuộc sống. Ghi ra để biết và noi theo . Tuy nhiên vận dụng cũng phải hết sức sáng suốt

Trí thức Trung Quốc nghĩ gì ?

Bài của tác giả Trần Hữu Dũng dưới đây là một tài liệu rất có ích cho việc tham khảo về tư tưởng phát triển của trí thức Trung Quốc – mời quí vị và các bạn xem!

Ổn định và phát triển: Trí thức Trung Quốc đang nghĩ gì?

Như Việt Nam, Trung Quốc hiện phải đương đầu với nhiều thử thách kinh tế, xã hội, môi trường, vv.. Kinh nghiệm của họ đặc biệt là hữu ích vì, cũng như Việt Nam, họ là một nước “xã hội chủ nghĩa” (trên danh nghĩa) và chỉ thực sự bắt đầu cải cách khoảng ba mươi năm nay (trước Việt Nam độ 10 năm). Đó là chưa nói đến một lý do quan tâm thiết thực nhất cho chúng ta: Trung Quốc là một quốc gia cận kề, ảnh hưởng lớn lao đến Việt Nam về văn hóa, về chính sách (và nhiều phương diện khác nữa!). Hiển nhiên, đã có vô số văn kiện, báo cáo của nhà nước Trung Quốc về các kinh nghiệm này, và cũng đã có rất nhiều nghiên cứu của các tác giả Tây phương về Trung Quốc, song, đối với những người muốn nhìn vấn đề từ nhiều phía thì vẫn còn một điều muốn biết: còn những trí thức Trung Quốc ngoài chính quyền, tương đối độc lập, thì họ nghĩ sao?

Bài này giới thiệu một số nhận định và phân tích của các học giả Trung Quốc về những vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường… của nước họ. (Những ý kiến về chính trị, ngoại giao và quốc phòng sẽ được dành cho một bài khác.) Đây là những công trình được thấy trên các ấn phẩm được phép xuất bản ở Trung Quốc, nhưng không phải là trong các văn kiện chính thức của Đảng và chính phủ nước này. Theo nhiều nhà bình luận thì tác giả của những ý kiến này có thể được xếp (một cách đại thể) thành hai “phe”: một phe là nhóm trí thức thường được gọi là Tân Tả, và phe kia là nhóm thường được mệnh danh “phóng khoáng” (đôi khi cũng được gọi là Tân Hữu). Song, phải thêm: giữa hai phe này có những người… không thuộc phe nào. Đó cũng là cấu trúc của bài này.[1]

I. Phái Tân Tả

Nhớ lại, ngay từ những năm 1990, sau hơn một thập kỷ theo đuổi và có nhiều thành tựu đáng kể, chính sách cải cách theo hướng thị trường của Trung Quốc đã bị nhiều trí thức nước này chỉ trích. Tuy chuyên về nhiều ngành khác nhau (sử học, kinh tế, xã hội, môi trường, vv.. ) và theo nhiều tiếp cận khác nhau, những trí thức này có chung một số quan tâm về đất nước họ.

Một là, họ bất bình về tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng và sự suy đồi đạo đức (theo họ) của Trung Quốc. Dù không có ý hô hào Trung Quốc trở lại như trước thời kỳ cải cách, họ nhớ lại thời kỳ này với nhiều luyến tiếc.

Hai là, đa số tin rằng hầu hết những hụt hẫng sâu đậm của Trung Quốc ngày nay là bắt nguồn từ những lổ hổng của tư bản chủ nghĩa (chính xác hơn, cơ chế thị trường) và tham nhũng.

Ba là, số lớn nhóm này là những học giả, những trí thức được đào tạo bài bản, tốt nghiệp từ các đại học hàng đầu và, đáng chú ý hơn, đã sống nhiều năm, thậm chí khá thành danh, ở Mỹ và Anh. Họ quen thuộc với tư tưởng Tây phương hiện đại (với các tên tuổi như Michel Foucault, Edward Said, Paul Baran, Immanuel Wallerstein… , những lý thuyết như “tân Mác”, “hậu hiện đại”, “hậu thực dân”), nhưng họ không sùng bái các trào lưu thời thượng này như các thế hệ trước. Họ cho rằng nhiều quan điểm về tính tân thời, về phát triển…, phát xuất từ Tây phương, là không thích hợp với Trung Quốc. Vài tác giả còn đi xa hơn nữa, cho rằng cần “vượt qua” (không nhất thiết là “dung hợp”) những phạm trù tương phản ̶ giữa xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, giữa “cái tân thời” và “cái cổ truyền”, giữa Trung Quốc và phương Tây. Họ muốn vạch một con đường mới trong suy nghĩ về Trung Quốc.

Những nhân vật chủ chốt của nhóm này là nhà xã hội học Uông Huy và các nhà kinh tế Thôi Chi Nguyên, Vương Thiệu Quang, Hồ An Cương, và nhà sử học Tiễn Lí Quần. Họ thường được biết qua danh hiệu “Tân Tả”.

Có lẽ nhóm Tân Tả đã không để lại dấu ấn sâu đậm trên sinh họat trí thức Trung Quốc như đã thấy – thậm chí đã không là một “nhóm” ̶ nếu không có nguyệt san Độc Thư. Được nhà ngôn ngữ Trần Nguyên sáng lập từ năm 1979, nguyệt san này lúc đầu chỉ là một ấn phẩm hàn lâm, ít người đọc. Tuy nhiên, từ khi Uông Huy và Hoàng Bình đuợc bổ nhiệm đồng tổng biện tập năm 1996, cho đến khi Uông và Hoàng bị miễn nhiệm năm 2007, thì Độc Thư trở thành diễn đàn trụ cột của luồng tư tưởng ngoài dòng ý thức hệ chính thống đương thời. Trên tạp chí này người ta có thể đọc những phân tích về nhiều vấn đề hệ trọng mà, cho đến nay, rất hiếm thấy trên báo chí “chính thống” Trung Quốc. Chẳng hạn, đó là những phân tích về khủng hoảng nông thôn ở Trung Quốc (nghiêng về giải thích cho rằng khủng hoảng này là hậu quả trực tiếp của chính sách “thân tư bản chủ nghĩa” của Bắc Kinh). Độc Thư cũng đưa ra ánh sáng những yếu kém của hệ thống y tế, giáo dục, và sự xuống cấp trầm trọng của môi trường ở nước này. Tạp chí cũng là diễn đàn cho những tranh luận sôi nổi về nước Nga hậu-Xô viết, và các biến chuyển chính trị ở châu Á.[2]

Đáng để ý là danh hiệu “Tân Tả” chẳng những không là do những người trong nhóm này tự gọi, họ cũng hơi “dị ứng” với danh hiệu ấy – ít ra là lúc đầu.[3] Uông Huy giải thích: Thứ nhất, tên “Tân Tả” là do những người thiếu thiện cảm với họ (cụ thể là phe thường được gọi là “phóng khoáng” (liberal)) gán cho họ, với ngụ ý rằng họ (“Tân Tả”) chẳng qua chỉ là hậu duệ của phe “cựu tả” thời Mao, và mơ ước khôi phục một nước Trung Quốc như dưới thời Mao.[4] Thứ hai, danh xưng này đã được dùng ở Tây phương trong một truyền thống tư tưởng hoàn toàn khác. Theo Uông Huy, nhóm của ông không dính líu gì đến những người thường được gọi là Tân Tả ở phương Tây,[5] và ông thích được gọi là “trí thức phê phán” (critical intellectual) hơn.[6]

Dù được xem là cùng “nhóm”, một đặc điểm (mà có người cho là nhược điểm) của Tân Tả là họ không có chung một hệ tư tưởng quy mô, chặt chẽ, nhất quán. Nói theo ngôn ngữ Tây phương hiện đại, họ không có chung một “lý thuyết phê phán” (critical theory) – tức là một cách nhận định và phê bình trên nền tảng khoa học xã hội và nhân văn. Mỗi “thành viên” thường chỉ chuyên về một vấn đề cục bộ, có người (như Thôi Chi Nguyên) thì quan tâm đến vấn đề sở hữu (và liên hệ là vấn đề quản lý xí nghiệp), có người (như Vương Thiệu Quang, Hồ An Cương) thì tập trung phân tích chính sách thu chi (fiscal policy) của chinh phủ, còn đối với Tiễn Lí Quần thì vấn đề giáo dục là trọng tâm. Nếu phái Tân Tả có một mẩu số chung thì đó là sự quan tâm đặc biệt, gần như là ám ảnh, đến công bằng xã hội, đến môi trường. Một điều nữa: nói chung, họ không phải là thành phần “chống đối” (muốn lật đổ) nhà nước Trung Quốc, hoặc chủ trrương “thay đổi chế độ”. Thực vậy, ảnh hưởng của phe Tân Tả đã có phần lên cao sau khi Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo lên cầm quyền.

1. Uông Huy: “hiện đại tính” và “Trung Quốc tính”

Uông Huy (sinh năm 1959, người gốc Dương Châu, tỉnh Giang Tô), được Hàn lâm viện Khoa học Xã Hội Trung Quốc cấp tiến sĩ năm 1988, hiện là giáo sư văn học Trung Quốc ở Đại học Thanh Hoa (Bắc Kinh). Là một nhà xã hội học[7] có hạng (tác giả bộ sách bốn cuốn “Sự hưng khởi của tư tưởng Trung Quốc hiện đại”,[8] được đánh giá cao) Uông Huy gây dấu ấn sâu sắc cho nhóm Tân Tả từ khi ông ta, cùng với Hoàng Bình[9], được bổ nhiệm làm trưởng biên tập nguyệt san Độc Thư vào năm 1996.

Trước biến cố Thiên An Môn năm 1989 thì, như nhiều trí thức trẻ lúc ấy, Uông Huy cực lực ủng hộ chính sách mở cửa của Đặng Tiểu Bình, rất mực tin tưởng ở “kinh tế thị trường”. Sau sự cố Thiên An Môn, vì là một người tham gia (dù lúc ấy ông không còn là sinh viên) Uông Huy bị “lưu xứ” đến miền sơn dã ở Tần Lĩnh, Thiên An (một vùng thuộc hàng nghèo nhất Trung Quốc). Sống với nông dân và lao động, Uông Huy có những nhận định mới về xã hội Trung Quốc.[10] Nói như Paul Baran, một kinh tế gia mác xít Mỹ mà Uông Huy chịu nhiều ảnh hưởng: Từ một người “trí thức cấp tiến”, Uông đã trở thành một “cấp tiến trí thức”.

Theo Uông Huy thì từ rất sớm (khoảng giữa thập niên 1980) đã có thể thấy là những cải cách theo hướng thị trường đã làm giảm đi rất nhiều những lợi ích của xã hội chủ nghĩa mà Trung Quốc đã gặt hái được từ khi giải phóng. Do đó, theo Uông, mục tiêu cuộc nổi dậy của một bộ phận sinh viên và lao động trong sự cố Thiên An Môn không phải là phản kháng chế độ chính trị lúc ấy, nhưng nhắm chống đối một thể chế không còn tồn tại, mất đi vì chính tiến trình chuyển đổi của Trung Quốc.[11] Nói cách khác, Uông Huy cho rằng khả năng thay đổi của nhà nước đã không theo kịp kỳ vọng thay đổi của quần chúng. Oái oăm thay, sự đàn áp (mà Đảng Cộng Sản Trung Quốc cho là) cần thiết để giải tán những người biểu tình đã trở thành một công cụ để áp đặt cải cách thị trường và, qua đó, mở cửa xã hội Trung Quốc.

Uông Huy nghi ngờ sự công bằng của một nền kinh tế thị trường hoàn toàn thả lỏng. Theo ông, đối với hầu hết dân Trung Quốc thì trách nhiệm của nhà nước hiển nhiên là lo cho dân, và mọi người trong xã hội phải hợp tác, đùm bọc nhau. Uông Huy cho là nhà nước phải ngăn ngừa bất bình đẳng trong xã hội. Ông khẳng định “(sự ngăn ngừa ấy) không phải (chỉ) là một lý tưởng của xã hội chủ nghĩa” bởi vì, “ngay trong thời quân chủ, những người cai trị Trung Quốc bao giờ cũng phải giữ một sự quân bình nhất định giữa người giàu và người nghèo, qua hệ thống thuế má và chẩn tế”.

Quan trọng hơn, theo Uông Huy, chưa chắc là thị trường sẽ tất yếu đưa đến dân chủ. Để dẫn chứng, Uông Huy bảo cứ nhìn vào liên minh giữa các thành phần “ưu tú” (elites) – tức là phi dân chủ – mà tiến trình tư nhân hóa đã tạo ra. Uông Huy cho rằng nhà nước chỉ thật sự thay đổi khi nó bị áp lực mạnh mẽ của xã hội, đặc biệt là từ lao động và nông dân.

Theo Uông Huy, đa số học giả (Tây phương lẫn Trung Quốc) đã lầm khi xem cải cách như là một cách “tạ lỗi quá khứ” (“apologia for the past”). Xã hội chủ nghĩa có thể không còn là thời thượng, Uông Huy nhấn mạnh, song chừng nào mà thế giới (và nhất là Trung Quốc) chưa thể loại trừ, ngăn chặn, những hậu quả bất công của tự do thị trường – những bất công tiềm ẩn trong tư bản toàn cầu ̶ thì xã hội chủ nghĩa vẫn còn lý do tồn tại.

Theo Uông Huy, Trung Quốc ngày nay bị kẹp giữa hai thái cực: một bên là thứ xã hội chủ nghĩa nhầm đường (misguided socialism), bên kia là thứ chủ nghĩa tư bản bồ bịch (crony capitalism). Trung Quốc, do đó, “lãnh đủ” những gì tồi tệ nhất của hai chế độ này. Uông Huy ủng hộ cải cách kinh tế theo hướng thị trường, tuy nhiên, theo ông, phát triển của Trung Quốc phải bình đẳng hơn, cân đối hơn.

Uông Huy nhấn mạnh đến con đường phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa đặc thù của Trung Quốc và cho rằng tư tưởng của Mao đã xuất hiện như một lựa chọn khác (alternative) cho “tính hiện đại” của tư bản chủ nghĩa. Mục tiêu của chủ nghĩa Mao, theo Uông, là tránh những mặt khắc nghiệt, những liên hệ có tính bốc lột hàm chứa trong chủ nghĩa tư bản của phương Tây. Dựa vào những lập luận khá giống lập luận của Immanuel Wallerstein (một nhà kinh tế thiên tả nổi tiếng của Mỹ), Uông Huy chỉ trích chủ nghĩa tư bản quốc tế, phê phán các quan hệ quyền lực chi phối những tiến trình kinh tế toàn cầu. Ông cho rằng toàn cầu hóa cốt yếu chỉ là sự bành trướng và triển khai của các công ty đa quốc gia, cộng với sự cấu kết giữa các công ty này với những nhóm lợi ích tại địa phương và quốc gia liên hệ. Toàn cầu hóa, như thế, chẳng những sẽ ngấm ngầm lũng đoạn dân chủ (về mặt chính trị) mà còn đe dọa tự do thị trường (về mặt kinh tế). Uông Huy cũng thường viện dẫn những nghiên cứu của Fernand Braudel (một sử gia người Pháp nổi tiếng với cách giải thích lịch sử căn cứ trên các yếu tố kinh tế và xã hội) về thế giới trước chủ nghĩa tư bản, và thời kỳ sơ khai của chủ nghĩa này.

Tuy không phải là nhà kinh tế nhưng Uông Huy rất tâm đắc với (những nhà kinh tế danh tiếng) John Stuart Mill, Joseph Stiglitz, Amartya Sen và George Akerlof. Đặc biệt Uông Huy bị quyến rũ bởi lý thuyết của Akerlof (và Paul Romer) trong bài “Cướp bóc: Kinh tế xã hội đen của phá sản nhằm thủ lợi” . Trong bài ấy, Akerlof và Romer báo cáo một hiện tượng thường xảy ra ở các doanh nghiệp (lớn) nhà nước sau khi cổ phần hóa. Những doanh nghiệp này được các ngân hàng nhà nước ưu đãi, mà những ngân hàng ấy (vì là của nhà nuớc!) lại rất biếng lười, chểnh mảng, trong việc đòi nợ… Hậu quả là, quản lý các doanh nghiệp (nhà nước, sau khi cổ phần hóa) có xu hướng vay thả cửa cho mục đích cá nhân của họ mà không hề có ý định trả nợ! Khi doanh nghiệp phá sản thì họ chuồn mất, hoặc trơ mặt, phủi tay, để lao động ở doanh nghiệp ấy và những cổ đông khác… lãnh đủ. Theo Uông Huy, phát hiện này của Akerlof và Romer chứng minh sự không hoàn toàn đúng của ý kiến cho rằng tư hữu có lợi vì nó khích lệ sản xuất. Uông Huy chê những người tán tụng tư hữu vì nó khuyến khích lao động là chỉ thấy một nửa vấn đề. Tuy nhiên, theo người viết bài này (THD), Uông Huy xé chuyện bé ra to. Tư hữu có thể bị phê phán trên nhiều mặt, không nhất thiết phải đơn cử Akerlof và Romer.[12] Ngược lại, ít có nhà kinh tế nghiêm túc nào lại ngây thơ tin rằng tư hữu là liều thuốc vạn năng, không có những hiệu ứng xấu. Tuy vậy, Uông Huy kết luận (khá đúng, theo ý người viết bài này) rằng, khi thiết lập chính sách tư hữu hóa, nhà nước không nên chú ý đơn thuần đến cơ cấu sỡ hữu mà còn phải chú trọng đến những khích lệ về tài chính (financial incentives) và các biện pháp điều tiết.

2. Thôi Chi Nguyên và các vấn đề về xí nghiệp

Một nhân vật chủ chốt khác (và bạn thân của Uông Huy) trong nhóm Tân Tả là nhà kinh tế Thôi Chi Nguyên (Cui Zhiyuan). Ông sinh năm 1963 tại Tứ Xuyên trong một gia đình trí thức (cha là một kỷ sư nguyên tử). Thôi Chi Nguyên học ở Hồ Nam, rồi sang Mỹ du học vào năm 1987. Sau khi lấy PhD về chính trị học ở Đại học Chicago, ông được bổ nhiệm giáo sư ở Viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Năm 2004 Thôi Chi Nguyên trở về Trung Quốc để phụng dưỡng cha mẹ già vì ông là con một. Hiện ông giảng dạy môn chính sách công và quản trị (public policy and management) ở Đại học Thanh Hoa (Bắc Kinh).

Điều đáng ngạc nhiên là, dù được đào tạo trong “sào huyệt” kinh tế học tân cổ điển của Đại học Chicago và MIT, Thôi Chi Nguyên lại là một trong những học giả Trung Quốc mạnh dạn nhất, năng nổ nhất trong hoài nghi tính thích hợp (relevance) của chủ nghĩa tự do kinh tế, và của kinh tế học tân cổ điển nói chung, cho Trung Quốc. Ông cho rằng xã hội chủ nghĩa kiểu Mao, xuất phát từ hoàn cảnh đặc thù của Trung Quốc, là một mô hình phát triển thích hợp cho Trung Quốc hơn bất cứ mô hình nào của Tây phương. Thôi Chi Nguyên là người tích cực biện hộ cho những chính sách “Mao-ít” như Đại Nhảy Vọt và Cách Mạng Văn Hóa. Theo ông, những thành tựu của Trung Quốc trong thập niên 1980, cũng như nền tảng tự trị địa phương và các xí nghiệp hương trấn (được xem là đã tạo những điều kiện thuận lợi cho cuộc cải cách sau này), đều là hậu quả trực tiếp của chế độ công xã và của chính sách Đại Nhảy Vọt. Còn cuộc Cách Mạng Văn Hóa, mặc dù có nhiều mặt thái quá, đã được phát động như một thử nghiệm cần thiết, và có chủ ý tốt, để chống lại những người có quyền lực trong một nền hành chính quan liêu (Thôi Chi Nguyên gọi là sự “khống chế hành chính”) luôn luôn là một tai ương trong suốt chiều dài lịch sử.

Có lẽ “lỗi lầm” (gần như lập dị!) lớn nhất của Thôi Chi Nguyên là ông bị “ám ảnh” bởi cái gọi là “thí nghiệm Nam Nhai”. Nam Nhai là một thị trấn khá nhỏ ở Hà Nam, xưa chỉ là một thôn trại bình thường. Tuy nhiên, từ năm 1979 thì thị trấn này có những cải cách đặc biệt, cốt yếu là kết hợp chủ nghĩa tập thề (collectivism) và kinh tế thị trường để xây một loạt (26) nhà máy, và hiện thời là một trong những nơi sản xuất … mì ăn liền lớn nhất Trung Quốc.

Nam Nhai ngày nay có khoảng 13.000 dân, lượng xe hơi có thể được đếm trên đầu ngón tay. Ngoài xe đạp, phương tiện giao thông công cộng chủ yếu là xe buýt (với khẩu hiệu “Tình nguyện” và “Hi sinh” được sơn bằng chữ đỏ bên hông xe!). Không có thẩm mỹ viện, rạp hát, tiệm karaoke hay quán cà phê Internet nào ở đây. Đập vào mắt du khách khi đến Nam Nhai không phải là các panô quảng cáo mà là chân dung của Marx, Engels, Lenin, Stalin… Ảnh và tượng Mao Trạch Đông có mặt khắp nơi, từ công viên có lính gác đến trường học, công sở, bệnh viện… Tiếng loa phát thanh các bài hát ca ngợi chế độ và chủ tịch suốt ngày vang khắp đường phố.

Thu nhập trung bình của người dân Nam Nhai là khoảng 80-250 nhân dân tệ/tháng (tương đương 9,66-30,2 USD). Mọi khoản tiền bệnh viện, tiền nhà, học phí từ mẫu giáo đến đại học đều được miễn, các nhu yếu phẩm (từ điện, nước, khí đốt… đến dầu ăn, trứng, thịt, sữa, bia…) đều được bao cấp. Công nhân sống trong các ký túc xá, tám người một phòng. Hàng ngày cứ mỗi sáng và đầu giờ trưa đến nhà máy họ phải xếp hàng và hát bài ca tụng Mao Trạch Đông trước khi làm việc. Tối về phải đi học các lớp chính trị. Trong khi đó, các quan chức và các nhà đầu tư nước ngoài vẫn sống trong các biệt thự sang trọng. Tuy nhiên người dân ở đây rất hiền hòa và hầu như chẳng mấy ai than phiền. Cuộc sống nơi đây vẫn y hệt như 20, 30 năm trước.

Tuy rằng Nam Nhai có thể được xem là thành công theo cách mà người dân ở đó muốn, song ngay như bạn bè Tân Tả của Thôi Chi Nguyên cũng xem trường hợp này là quá cá biệt và ít ai cho rằng đó là một mô hình phát triển cho toàn Trung Quốc, như Thôi Chi Nguyên thường cổ vũ.

Dù sao, từ những phân tích của ông, Thôi Chi Nguyên hô hào xã hội hóa vốn và cải cách quyền tài sản để lao động có tiếng nói trong các công ty mà họ đang làm. Ông cũng chủ trương lợi nhuận của các xí nghiệp quốc doanh phải được phân phát thẳng cho dân chúng thay vì nộp cho nhà nước hoặc những người đã giàu có.

Một nhà kinh tế khác là Tả Đại Bồi (Zuo Dapei) cũng có nhiều phân tích về chính sách tư hữu hóa xí nghiệp của Trung Quốc. [13] Trong khối Tân Tả thì nhóm kinh tế gia như Thôi Chi Nguyên tương đối “mạnh miệng” về mặt chính trị hơn những người khác. (Trong thời kỳ đại hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc năm 2007 Thôi Chi Nguyên là người hay công khai bình luận trên các phương tiện truyền thông, kề cả báo chí nước ngoài, về các diễn biến ở đại hội.) Chính Tả Đại Bồi đã cùng với Hàn Đức Cường (Han Deqiang) và Dương Phàm (Yang Fan) viết một kháng thư phản đối những sơ hở trong tiến trình tư hữu hóa (sẽ nói thêm dưới đây, đoạn nói về Hàn Đức Cường). Hay đi chung với Thôi Chi Nguyên là Lang Hàm Bình (Lang Xianping), cũng được đào tạo ở Mỹ. Tác giả này thường viết cho báo ở Hồng Công, chỉ trich kịch liệt các tập đoàn doanh thương của Trung Quốc, có lần bị kiện.

3. Vương Thiệu Quang và Hồ An Cương: Nhà nước lớn hay nhỏ?

Hồ An Cương (Hu Angang) thường được gọi là “đứa bé ngỗ nghịch” (enfant terrible) của nhóm Tân Tả ̶ tương đối trẻ, rất giỏi, nhưng lý luận “không giống ai”, thậm chí “hơi ngông”. Vào những năm 80, 90 của thế kỷ trước, khi mà hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng “nhà nước lớn thì xấu, nhỏ thì tốt” thì Hồ An Cương và Vương Thiệu Quang (Wang Shaoguang), bạn tâm giao từ hồi ở Đại học Yale, có ý kiến ngược lại. Trong một báo cáo nhiều ảnh hưởng vào đầu thập niên 1990,[14] Hồ và Vương khẳng định rằng quyền lực trong tay nhà nước Trung Quốc hiện nay là một thứ quyền lực sai. Đó là thứ quyền lực chuyên chế (despotic) thay vì cai trị (governing). Đúng là nhà nước này rất “mạnh” trong việc kiềm chế tự do cá nhân của dân chúng, nhưng về phương diện quản lý quốc gia thì họ lại thuộc vào hạng bạc nhược nhất thế giới!

Hai ông này ghi nhận sự suy giảm rõ rệt trong khả năng chính trị và quyền lực tài chính của chính phủ trung ương Trung Quốc. Sự suy giảm này là hậu quả của một sự thoái hóa (devolution): quyền lực và quyền kiểm soát ngân sách và tài nguyên thay vì theo tiến trình đi từ địa phương đến trung ương thì ở Trung Quốc lại đi ngược lại, từ trung ương phân tán xuống địa phương. Dùng các chỉ số gọi là “khả năng vắt chiết” (extractive capabilities) dựa vào thuế má, Vương và Hồ kết luận rằng những cải cách thu chi (fiscal reforms) bắt đầu vào những năm 1980 đã làm giảm đi nặng nề số tiền thuế mà nhà nước trung ương thu được.

Họ dẫn chứng: số thu cho ngân sách của chính phủ trung ương, tính theo phần trăm của GDP, đã liên tục giảm từ 31,2% năm 1978 xuống còn 14,2% năm 1992. Vương và Hồ báo động rằng Bắc Kinh đang đứng trước nguy cơ “chết đói tài chính” (fiscal starvation).

Trong lúc ngân sách của chính phủ trung ương giảm như thế thì số thu của các địa phương lại ngày càng tăng, tạo thêm cơ hội cho các “lãnh chúa đỏ” dùng những lệ phí này một cách tùy tiện để vừa tự làm giàu, vừa tăng ngân quỹ địa phương và củng cố quyền thế của họ. Đến cuối thập niên 1980 thì quyền lực của các “lãnh chúa đỏ” này không thua gì chính quyền trung ương. Kết cục là, khả năng khai thác nguồn lực quốc gia của nhà nước trung ương ngày càng giảm, trong lúc những “của cải ẩn” (hidden wealth) thì bị các chính quyền địa phương và xí nghiệp quốc doanh tom góp.

Theo ước tính của Hồ An Cương thì tổng cộng lãng phí do chạy chọt, đúc lót (rent-seeking activities), trốn thuế, lệ phí địa phương tùy tiện và trộm cắp công khai của quan chức, hàng năm lên đến 15% GDP của Trung Quốc. Ông ta cho rằng chính các quan chức địa phương, không sợ cấp dưới (dân) mà cũng chẳng ngán cấp trên (Bắc Kinh), là đầu dây mối nhợ của những tham ô lãng phí này. Do dó, theo Hồ An Cương, Trung Quốc phải tập trung quyền thu thuế để tránh sự tràn lan của những lệ phí tùy tiện và để xây dựng những cơ chế ở trung ương hòng đối phó với tham nhũng.

Phân tích của Vương Thiệu Quang và Hồ An Cương đưa phe Tân Tả đến kết luận: Hầu như tất cả khó khăn cho cải cách của Trung Quốc (tham nhũng, kinh tế quá nóng, đầu tư xấu, nợ xấu, tiêu thụ trong nước quá thấp, và bất bình đẳng ngày càng tăng) đều là hậu quả của sự quá bạc nhược của chính phủ trung ương, chẳng phải vì chính phủ này quá “mạnh” như nhiều người lầm tưởng.

4. Hồ An Cương và “Phát triển mèo xanh”

Nhóm Tân Tả còn một đặc điểm nữa, đó là sự quan tâm đến môi trường. Sự quan tâm này xuất phát từ (a) lo lắng cho sự bền vững của phát triển, (b) bất ổn chính trị.

(1) Phát triển bền vững. Ít người quên được câu nói nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình “Mèo trắng hay mèo đen không phải là điều quan trọng, cái quan trọng là mèo bắt được chuột” (Bạch mao hắc mao thuyết). Hồ An Cương cho rằng chính vì tư duy “phát triển mèo đen” này mà môi trường Trung Quốc bị hủy hoại. Theo Hồ An Cương và những người như ông, Trung Quốc không thể theo con đường mà Tây phương đã đi: Phát triển cái đã, còn việc “tẩy uế” môi trường thì sẽ tính sau. Lộ trình này không khả thi cho Trung Quốc vì tốc độ và mức độ phát triển chưa từng có của Trung Quốc sẽ làm việc “dọn dẹp” môi trường, nếu đợi phát triển xong mới bắt tay, sẽ là quá trễ. Hồ An Cương đưa ra khái niệm “phát triển mèo xanh” – một sự phát triển “thân thiện” với môi trường – để phân biệt với “phát triển mèo đen, mèo trắng” của Đặng Tiểu Bình mà Trung Quốc đang theo, một cách phát triển tuy thực dụng, không giáo điều, nhưng tàn phá môi trường.

Hồ An Cương dùng một phiếm dụ: Trung Quốc ngày nay quả phát triển rất nhanh, nhưng giống như một người vừa nhảy ra một chiếc phi cơ đang bay, ban đầu hí hửng tưởng là mình biết bay… đến khi rơi đụng đất thì quá muộn! (Hồ kể cho Thomas Friedman – nhà bình luận của tờ New York Times nổi tiếng với ý niệm “thế giới phẳng” ̶ nghe phiếm dụ này, Friedman rất thích và kể lại trong nhiều bài báo). Hồ An Cương rất may là được sự ủng hộ của Phan Nhạc (Pan Yue), phụ trách môi trường cho Trung Quốc.[15] (Phan Nhạc cũng là con rễ của Đề Đốc Lưu Hoa Thanh (Liu Huaqing), chỉ huy hải quân Trung Quốc những năm 1982-1988, người được xem là có công hiện đại hóa hải quân này, từng là ủy viên Bộ Chính Trị.)

(2) Thật ra, quan tâm về môi trường của lãnh đạo Trung Quốc (thúc đẩy bởi nhóm Tân Tả) cũng có lý do chính trị trong đó: họ sợ rằng hủy hoại môi trường sẽ gây bất ổn xã hội. Theo Chu Sanh Hiền (Zhou Shangxian), viên chức cao nhất phụ trách môi trưởng Trung Quốc, cho biết thì năm 2005 có đến 51.000 vụ phản kháng của dân chúng liên quan đến môi trường, trong đó nhiều vụ thu hút hàng vạn người.

Nhưng điều này lại rơi vào cái nhược điểm khác mà Hồ An Cương và Vương Thiệu Quang đã vạch ra: sự bạc nhược của chính quyển trung ương, bởi vì các địa phương không bao giờ hăng hái chống hủy hoại môi trường bằng trung ương. Địa phương nào cũng muốn nơi của mình phát triển,[16] bất chấp hậu quả cho nơi khác. Thực vậy, chính vì sự phản đối của điạ phương mà ý định tính toán chỉ số “GDP xanh” của Phan Nhạc – một cách để báo động sự suy thoái của môi trường – rốt cuộc chẳng đi đến đâu cả!

5. Tiễn Lí Quần và vấn đề giáo dục

Tiễn Lí Quần (Qian Liqun) là một trí thức Tân Tả quan tâm đặc biệt đến những vấn đề giáo dục và văn hóa. Thần tượng của Tiễn Lí Quần là nhà giáo dục nổi tiếng Thái Nguyên Bồi (Cai Yuanpei 1868-1940), một người có uy tín lớn trong Đảng Cộng Sản Trung Quốc vì là sư phụ của hai sáng lập viên Đảng này là Trần Độc Tú và Lý Đại Chiêu.

Tiễn Lí Quần nhận xét rằng từ khi Trung Quốc cải cách thì trong các đại học của nước này tinh thần độc lập quả đã nở rộ. Tuy nhiên, các đại học cũng bị áp lực vô cùng nặng nề để cung cấp những “tài năng thực tế” cho sự phát triển kinh tế của Trung Quốc. Áp lực này đã khiến đại học Trung Quốc đi ngược lại với những lý tưởng khai sáng của Thái Nguyên Bồi là muốn đại học (nhất là các đại học tinh hoa như Đại học Bắc Kinh) chỉ có nhiệm vụ đào tạo những nhà trí thức độc lập đứng ngoài “cơ chế nhà nước, những người luôn luôn có một tinh thần phán đoán, và luôn luôn ý thức những ưu và khuyết điểm của sự độc lập của họ và hậu quả của sự độc lập ấy”. Ngày nay, đại học Trung Quốc lại phải loay hoay trực diện với câu hỏi mà ngày xưa Thái Nguyên Bồi đã bức xúc: đại học ấy phải như thế nào?

Tiễn Lí Quần kêu gọi đại học Trung Quốc trở lại với mục đích rèn luyện những tài năng có tư duy phán đoán độc lập. Đại học phải lưu tâm đến lợi ích của quốc gia và nhân loại nói chung (chứ không phải của cá nhân). Đại học phải là nơi đào tạo những nhà tư tưởng, những nhà văn …. Đó phải là nơi khám phá những tư tưởng mới, những tiếp cận mới không chỉ cho Trung Quốc mà còn cho cả nhân loại.

Tiễn Lí Quần cũng than phiền sự lan tràn của chủ nghĩa thương mại và sự phai lạt ký ức về lịch sử.

Cũng nên kể thêm một người tuy không thường được xem là thuộc nhóm Tân Tả, nhưng là một nhà báo có ảnh hưởng đặc biệt, đó là Hà Thanh Liên (He Qinglian) tác giả cuốn Cạm bẩy của hiện đại hóa (“Hiện đại hóa đích hãm tịnh”, The pitfalls of modernization).[17]

II. Phe Tân hữu

Tuy là phe Tân Tả có phần “phát” lên từ khi Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo cầm quyền, họ chưa phải là “một mình một chợ” trong sinh họat văn hóa Trung Quốc. Chống lại họ là một nhóm có thể được gọi là “Tân Hữu” (cũng được gọi là “phóng khoáng” (liberal) hoặc “tân phóng khoáng” (neoliberal)).[18] Hai phe này đã đôi co với nhau về nhiều vấn đề như: (1) cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997, (2) những hậu quả của trị trường hóa và tư hữu hóa, nhất là (a) nạn tham ô, (b) bất bình đẳng thu nhập, và (c) hủy hoại môi trường. Cũng nên để ý rằng, như phe Tân Tả, phe Tân Hữu cũng có nhiều nhánh. Cụ thể, phía Hữu cũng có những người biện hộ cho công bình xã hội, cho trách nhiệm đạo đức trong phát triển kinh tế.

1. Trương Duy Nghênh

Người nổi tiếng nhất trong phe Tân Hữu là Trương Duy Nghênh (Zhang Weiying), hiện là giáo sư kinh tế ở Đại học Bắc Kinh. Trương Duy Nghênh lấy PhD ở Đại học Oxford dưới sự hướng dẫn của nhà kinh tế James Mirrlees. Trương cho rằng không gì quan trọng bằng tự do hóa thị trường, và sẳn sàng “chung sống” với một chế độ chính trị chuyên chế nếu chế độ này theo chính sách ấy.

(1) Muốn hiểu Trương Duy Nghênh thì nên biết về thầy của ông ta, tức James Mirrlees, người được giải Nobel kinh tế năm 1996 (chia giải với William Vickrey). Đóng góp lớn của Mirrlees là về lý thuyết gọi là “hệ thống thuế thu nhập tối hảo” (optimal income taxation), trong đó ông “giải” bài toán khó khăn là làm thế nào để khắc phục sự bất đối xứng thông tin (asymmetric information), và đồng thời khích lệ người chịu thuế đến mức tốt nhất (theo một nghĩa nhất định). Nói cách khác, Mirrlees cho rằng tuy thị trường có nhiều lổ hổng (nhất là do sự thiếu thốn thông tin) nhưng vẫn có cách, qua hệ thống thuế má, vuợt qua những lổ hổng này mà không cần một thay đổi căn bản về thể chế.

(2) Một nhà kinh tế khác có ảnh hưởng nhiều đến Trương Duy Nghênh là Steven Cheung, “thành viên” của trường phái thị trường tự do của Đại học Chicago. Bắt chước Cheung (1969, 1973), Trương Duy Nghênh ví nền kinh tế của một quốc gia như một con thuyền đánh cá mà chủ thuyền là một nhóm ngư dân cùng ra khơi trên chiếc thuyền ấy. Tuy nhiên, nếu vì là “chủ” mà mỗi người trên thuyền đều có quyền chỉ huy chiếc thuyền thì sẽ không làm được gì cả. Muốn đánh cá hữu hiệu, những người “chủ” – “sở hữu phương tiện sản xuất” ̶ này phải thuê một thuyền trưởng để chỉ huy họ!

Nhìn qua lý thuyết của Mirrlees cũng như của Cheung, và qua chính những bài viết của Trương Duy Nghênh thì có thể thấy là nhưng nhà kinh tế “thiên hữu” như ông ta, tuy ngoài mặt thì hay thích nói đến sự “teo nhỏ” của nhà nước, nhưng thật sự là họ mong muốn có một nhà nước chuyên chế (theo lối của họ) để thực thi những chính sách mà họ đề nghị.[19]

Mới nhìn qua thì sự khác biệt giữa Tân Tả và Tân Hữu không phải là lớn lắm, nó chỉ ở mức độ quan trọng mà họ gán cho mỗi vấn đề, và thứ tự (thời gian) mà nhà nước nên theo trong việc thực thi. Chẳng hạn, phe Tân Hữu cũng quan tâm đến môi trường, cũng ái ngại về tình trạng thu nhập bất bình đẳng, v.v, nhưng họ cho rằng ưu tiên số một phải là làm cho nền kinh tế hiệu quả hơn, và theo họ thì điều ấy chỉ có thể thực hiện được bằng cách thu nhỏ khu vực quốc doanh. Trong mục đích chỉ trích doanh nghiệp nhà nước, họ cho là lao động trong các doanh nghiệp này cũng là hưởng lợi. Nói cách khác, sự bất bình đẳng mà phái Tân Tả thường nói đến (giữa lao động và quản lý) thì, duới mắt của phái Tân Hữu, không tai hại bằng sự bất bình đẳng giữa quốc doanh và tư doanh.

Song những người “Tân Hữu” không đi sâu vào nội bộ xí nghiệp và đặc biệt là không quan tâm đến sự khác biệt trong cách ứng xử của ban quản trị và công nhân trong những xí nghiệp ấy. Trái lại, nội bộ xí nghiệp là vấn đề mà phe Tân Tả đặc biệt lưu ý. Uông Huy, như đã nói ở trên, nêu nghi vấn về giả định (của kinh tế tân cổ điển mà phái Tân Hữu chấp nhận) rằng chính vỉ “xí nghiệp gia” (entrepreneur) quyết liệt chạy theo lợi nhuận mà họ sẽ là đầu tàu làm cho kinh tế hiệu quả hơn.

2. Chu Học Cần

Một người nữa cũng không có thiện cảm với Tân Tả là Chu Học Cần (Zhu Xueqin), sinh năm 1952, giáo sư sử học Đại Học Thượng Hải từ năm 1992.[20] Chu Học Cần là đàn em của Cố Chuẩn (Gu Zhun, 1915-1974), nạn nhân của phong trào “phản hữu” (“phản hữu phái vận động”) do Mao phát động cuối thập niên 50, đầu 60 để thanh trừng nội bộ.[21]

Khác với Trương Duy Nghênh, Chu Học Cần để ý nhiều đến những vấn đề ngoài kinh tế. Ông kêu gọi Trung Quốc cải cách theo định hướng kinh tế thị trường nhanh hơn nữa, đồng thời lưu ý rằng cái “hụt hẫng hiện đại” không phải là ở kinh tế thị trường, nhưng ở sự bất bình đẳng của những quyền phi kinh tế.[22] Thực vậy, đối với Chu, một nền kinh tế hoàn toàn tự do sẽ đảm bảo những tự do khác (ngoài kinh tế). Một nền kinh tế tự do cũng không thể tách rời, chí ít là trong hình thức lý tưởng của nó, khỏi dân chủ.

Nhưng Chu Học Cần có một mối lo khác, đó là những tiềm năng của kinh tế thị trường sẽ bị ngăn chặn, bị làm xơ cứng, vì một thứ văn hóa tiêu dùng hạ cấp. (Về thái độ phê phán văn hóa vật chất thô lậu của Trung Quốc ngày nay, Chu Học Cần rất tâm đầu ý hợp với Vương An Ức, tác giả tiểu thuyết Trường Hận Ca)

Nói cách khác, Chu Học Cần, cũng như đa số các trí thức “phóng khoáng” Trung Quốc ngày nay, ủng hộ cải cách theo hướng thị trường. Tuy nhiên, họ chỉ trích nhà cầm quyền ở chỗ đã không hiện đại hóa theo con đường mà, theo họ, mới thực sự là quan trọng: đó là cho dân chúng quyền mà chính pháp luật và hiến pháp nhìn nhận (legal and constitutional rights). Trái với những trí thức “Tân Tả”, Chu Học Cần cho rằng Trung Quốc cần nhiều cải cách thị trường hơn nữa, và khẳng định rằng sự ngày càng nhiều bất bình đẳng và bất công là do sự can thiệp quá đáng của nhà nước vào cơ chế thị trường (không để cơ chế ấy được tự do) – cái “bàn chân hữu hình” (của nhà nước) đang dẫm lên “bàn tay vô hình” (của Adam Smith). Quan điểm này của Chu Học Cần đã bị Uông Huy (lãnh tụ Tân tả mà ta gặp ở trên) phản bác. Uông nói thẳng là không đồng ý với quan điểm với Chu Học Cần là nhà nước và kinh tế thị trường phải là đối nghịch lẫn nhau.

Sự khác biệt giữa cánh Tân Tả và Tân Hữu ở Trung Quốc có thể quy về vấn đề phân phối thu nhập (hay nói rộng hơn là sự quân bình xã hội). Cánh tả thì cho rằng một yếu tính của xã hội chủ nghĩa phải là làm cho thu nhập được phân phối đồng đều hơn, cánh hữu thì dù đồng ý rằng đây là một vấn đề về công bằng và xã hội hòa đồng, nhưng không cho rằng đó là một điều kiện cần thiết của xã hội chủ nghĩa. Thực vậy, Đặng Tiểu Bình cho rằng chút ít bất bình đẳng có thể là cần thiết để kích động những sinh hoạt dẫn đến tăng trưởng kinh tế, và chính tăng trưởng kinh tế (chứ không phải giảm bớt bất bình đẳng) là điều kiện cần cho sự tồn tại của xã hội chủ nghĩa. Nói cách khác, xã hội chủ nghĩa có thể được hiện thực ở nhiều mức độ thu nhập bình đẳng (hoặc bất bình đẳng) khác nhau, nhưng, họ nhìn nhận, sự “an hòa xã hội” (social peace) có thể đòi hỏi một mức độ bình đẳng lớn hơn là mức độ cần thiết để xây dựng xã hội chủ nghĩa.

Một điều oái oăm là Chu Học Cần (và số lớn các đồng minh “phóng khoáng” của ông ta) tuy đã lớn lên hoàn toàn ở Trung Quốc (không du học như các người Tân Tả), lại “mở cửa” đối với Tây phương, so với các trí thức Tân Tả mà, ta đã thấy trên đây, phần lớn là những trí thức bài bản và thành danh ở phương Tây, nhất là Mỹ. Ngược lại, những người Tân Tả lại kêu gọi nhiều hơn vào “tinh thần quốc gia” xem đó như một nội lực. Chu Học Cần xem đó chỉ là dụng tâm của nhóm này để tạo “tính chính đáng” cho chế độ.

III. Không Tân Tả, chẳng Tân Hữu

Tần Cối (Qin Hui, sinh năm 1953), giáo sư sử kinh tế ở Đại Học Thanh Hoa, có một vị thế đặc biệt trong sinh hoạt trí thức Trung Quốc tường thuật trên đây.[23] Trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa, vì gia đình ông bị “đày” đi Quảng Tây, ông đã phải tự học, chật vật mưu sinh, bị nhiều trù ếm. Ông tin vào thị trường, xã hội chủ nghĩa, lẫn chủ nghĩa tự do. Tần Cối chỉ trích thái độ mà ông cho là “sô vanh” dân tộc của Tân Tả; ông bác bỏ luận điệu của phái Tân Tả hô hào sự kiểm soát của nhà nước, mà cũng không đồng ý với cánh Tân Hữu là phải “dung thứ” sự kiểm soát này. Ông cho rằng không thể tách rời tư hữu hóa và dân chủ hóa. Chúng phải đi đôi với nhau. Tần Cối khẳng định: tư hữu hóa mà không dân chủ hóa, hoặc ngược lại, đều sẽ gây đại họa. Ông mong muốn một nước Trung Quốc “nhiều tự do kinh tế (laissez-faire) hơn, mà cũng nhiều trợ giúp phúc lợi từ nhà nước hơn”. Ông không cho mình là người “đối kháng” mà chỉ đóng góp để hoàn thiện chính sách nhà nước mà thôi.

Trong một bài thuyết trình đọc ở Đại học Monash gần đây, Tần Cối bắt đầu như thế này:

Mao Trạch Đông hay nói: “Chỉ xã hội chủ nghĩa mới có thể cứu Trung Quốc”. Sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước cộng sản Đông Âu, nhiều người nói rằng “chỉ Trung Quốc mới có thể cứu vãn xã hội chủ nghĩa”. Nhưng điều này có vẻ ngày càng mỉa mai (ironic). Hơn một thập kỷ từ năm 1992 đã cho thấy rõ là chỉ Trung Quốc mói có thể hủy diệt xã hội chủ nghĩa”[24]

Tần Cối có một ý kiến khá độc đáo. Đó là, thể chế hiện nay của Trung Quốc (một loại tư bản chủ nghĩa mà nhà nước là khống chế, và một hệ thống phúc lợi “nhẹ”[25]), đã giúp Trung Quốc xuất khẩu hàng rẻ, và chính điều này làm rung rinh cả những truyền thống xã hội dân chủ của… phương Tây! Theo Tần Cối, sở dĩ Trung Quốc có những thành công kinh tế kỳ diệu là vì họ đã tước mất quyền lập hội và thương lượng của nông dân và lao động.

Ông gọi nhóm Tân Tả là Dân Túy (populists). Theo Tần Cối, chủ tâm của nhóm này là phục hồi truyền thống “cộng đồng” của Trung Quốc nhằm ngăn chận sự lan truyền của tự do chủ nghĩa kiểu Tây phương. Họ xem di sản xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc như một liều thuốc giải độc (antidote) căn bệnh của chủ nghĩa phóng khoáng.

Tần Cối cũng chỉ trích phe “phóng khoáng”. Theo ông, thực chất phe này chỉ là những người tôn sùng chế độ “quả đầu chính trị” (oligarchy), xem tài sản nhà nước như một thứ “chiến lợi phẩm” để chôm chia, theo nguyên tắc “ai có quyền lực thì được hưởng” (to each according to its power).

IV. Thay lời kết

Bài này đã phác họa một góc của sinh hoạt trí thức Trung Quốc khỏang hơn mươi năm gần đây. Cần nhấn mạnh, một lần nữa, rằng đây chỉ là một mảng nhỏ, và phiến diện, của các luồng tư tưởng hiện đại ở Trung Quốc. Không thể nghi ngở là, ở quốc gia ấy, tư tưởng chính ngạch của Đảng Cộng Sản vẫn là khống chế.[26] Một mảng khác, cũng khá lớn, mà bài này không đề cập đến là những tranh luận về chính sách ngoại giao và quốc phòng của nước này (như quan niệm “hòa bình quật khởi” của Trịnh Tất Kiên, chẳng hạn). Song, qua lược thuật trên đây cũng đủ thấy là sinh hoạt trí thức Trung Quốc rất sống động (một cách làm ngạc nhiên nhiều nhà quan sát ở nuớc ngòai[27]), có những tranh luận khá thẳng thắn, không giáo điều, về những vấn đề mà nước này phải đương đầu.

Trong khuôn khổ “được phép”, giới trí thức Trung Quốc đã có một chất lượng tranh luận khá cao. Nhìn những trí thức “công khai” này cũng thấy được một điều: đó là những ý kiến (cụ thể là trong khoảng hai thập kỷ vừa qua) mà nhà cầm quyền Trung Quốc “dung thứ”, thậm chí lắng nghe,[28] là đa chiều, đa dạng, không đơn điệu như nhiều người tưởng.

Đáng chú ý nhất có lẽ là nhóm Tân Tả. Sau những cực đoan “thị trường hóa” “tây phương hóa” trong cuộc cải cách của Trung Quốc, sau những thành công và nhiều mặt xấu của nó, rõ ràng là đã có nhiều phản ứng ngược lại mà tiêu biểu là nhóm Tân Tã. Một “ưu điểm” của nhóm này (và nhờ ưu điểm này mà họ có thể “chung sống”, thậm chí có đồng minh trong cấp lãnh đạo) là họ chỉ phê bình những chính sách cụ thể của nhà nước, chứ không (công khai) thách thức tính chính đáng và uy quyền của Đảng. (Tuy nhiên, lối phê bình “cục bộ” này đôi khi cũng men đến những vấn đề nhạy cảm, chẳng hạn như khi họ chỉ trích một số chính sách hiện nay, cho đó là một hình thức bốc lột, thậm chí cưỡng chiếm, công của của nông dân và lao động… và những sự bất công khác). Nhưng rõ ràng là nhóm Tân Tả đã tạo một đối trọng cần thiết, nhắc nhở nhà nước những lý tưởng của xã hội chủ nghĩa… “May mắn” cho những người này (và cũng thể hiện phần nào sự “sáng suốt” của chính quyền Trung Quốc), họ không bị xem là “phản động”, mà đôi khi còn là cố vấn, là những nhà lý luận “quan phương” cho cấp lãnh đạo hiện nay… Nhưng điều này có thể nhìn ngược lại: rằng họ vẫn còn bị thấy, phần nào, phải biện hộ cho sự phát triển (đúng hơn là sự tiến hóa) của Trung Quốc trong “khung tư tưởng” Tây phương.

Nhưng nhóm Tân Hữu (và những người chỉ trich cả Tân Tả lẫn Tân Hữu) cũng có một số ý kiến đáng ghi nhận. Họ chú ý nhiều hơn đến Trung Quốc trong bối cảnh thực tế (không quá “triết lý” như phe Tân Tả) của những liên hệ kinh tế tài chính quốc tế (nếu không muốn dùng cụm từ “tòan cầu hóa” thời thượng) và là một phản biện cần thiết cho nhóm Tân Tả mà, trong lúc hăng say nhấn mạnh đền cái đặc thù của Trung Quốc, lập luận của họ (Tân Tả) đôi khi phảng phất một mùi “sô vanh” dân tộc nguy hiểm! Việc nhóm Tân Hữu nhìn nhận và sẵn sàng tranh luận về những chọn lựa khó khăn: giữa dân chủ và chuyên chế, giữa bình đẳng và phát triển ít ra cũng thể hiện một sự lương thiện trí thức.

Chúng ta cũng không thể loại trừ trường hợp lý luận của phe này hoặc phe kia được dùng như những vũ khí chính trị nội bộ (và bị vứt bỏ, thậm chí trở cờ, khi tình thế xoay chiều và những hậu thuẫn trí thức không còn cần đến).[29] Cũng phải nhấn mạnh rằng Trung Quốc vẫn còn là một quốc gia chuyên chế, không có tự do ngôn luận. Sự kiện Uông Huy và Hoàng Bình bị bãi nhiệm tổng biên tập Độc Thư (dù có kháng thư của trên 400 trí thức) khi tình hình trở nên “nhạy cảm” trước Đại hội Đảng năm 2007, và nhiều hạn chế khác (như việc thu hồi cuốn sách của Hà Thanh Liên), đã chứng tỏ (mà chắc không ai còn cho là cần thiết!) điều này. Tuy nhiên, sinh hoạt trí thức Trung Quốc như lược thuật trên đây vẫn cho thấy dù một xã hội có là chuyên chế, cũng còn một số “vùng trống”, lúc rộng, lúc hẹp, mà sinh hoạt trí thức chân chính có thể phát triển, và những phân tích học thuật cao vẫn có thể nẩy mầm.

Tháng 7, 2009

Trần Hữu Dũng

(Bài này là bản hoàn chỉnh báo cáo đọc tại Hội Thảo Hè (27-29/7/2008) tại Nha Trang)

Chú thích

[1] Gần đây, có ba bài về phái Tân Tả đã được dịch ra tiếng Việt: Leslie Hook (2007), Mark Leonard (2008), và Zhang Yongle (2008).

[2] Ngoài tờ Độc thư, những tạp chí thường đăng bài của nhóm Tân tả là: Biên giới (Tianya) Thế kỷ hai mươi mốt, Chiến lược và Quản Lý (Strategy and Management). Bán nguyệt san Tài kinh (Caijing), chuyên về tin xí nghiệp và kinh doanh, cũng có nhiều tiếng nói của nhóm này.

[3] Danh hiệu này xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1994 trên tờ Bắc Kinh Thanh Niên Báo, xem Mierzejewski (2009).

[4] Thậm chí, có người như Misra (2003) còn gọi nhóm này là “tân Mao-ít”

[5] Tuy rằng chính tạp chí “New Left Review” xuất bản ở Anh (của các trí thức thiên tả nổi tiếng như Perry Anderson, Robin Blackburn, Tariq Ali) là nơi đã thường đăng nhiều bài (dịch ra tiếng Anh) của Uông Huy và thân hữu, và đã đóng vai trò quan trọng trong việc quảng bá nhóm này cho độc giả Tây phương.

[6] Xem, chẳng hạn, Pocha (2005)

[7] Nhưng trước đó thì Uông Huy thường được coi là một chuyên gia về Tam Quốc

[8]“Hiện đại Trung Quốc tư tưởng đích hưng khởi”(2004)

[9] Hoàng Bình (Huang Ping, sinh 1958) lấy PhD về xã hội học ở Trường Kinh Tế Luân Đôn (London School of Economics), là tác giả của nhiều bài về phát triển nông thôn và sự cân bằng giữa các miền (regional balance) ở Trung Quốc.

[10] Xem, chẳng hạn, Wang Hui (1994, 2003)

[11] Về những cách diễn nghĩa khác nhau sự cố Thiên An Môn, đọc, chẳng hạn, Wang (2003)

[12] Thực ra, bài này của Akerlof và Romer hình như chỉ gây ấn tượng cho Uông Huy! Ít có nhà kinh tế Tây phương nào biết đến nó.

[13] Cha (2009) là một bài dài về Tả Đại Bồi.

[14] Xem Wang Shaoguang và Hu Angang (2001)

[15] Chính Phan Nhạc là người tuyên bố một câu trên báo Der Spiegel (của Đức) vào cuối năm 2006, được trích khắp thế giới: “Để sản xuất hàng hóa đáng giá 10000 USD, chúng tôi [Trung Quốc] phải dùng gấp 7 lần lượng tài nguyên mà Nhật Bản dùng, gần 6 lần lượng tài nguyên mà Mỹ dùng, và – điều này là đáng đặc biệt hổ thẹn – gần 3 lần lượng tài nguyên mà Ấn Độ dùng” . Xem Elizabeth C. Economy, The Great Leap Backward?, Foreign Affairs, Sep/Oct 2007
[16] Một biến thể của quan niệm “bi kịch của cái chung” (“tragedy of the commons”) mà nhà kinh tế Mỹ Garrett Hardin (1968) đã làm nổi tiếng.
[17] Xem thêm: Cam Dương (Gan Yang) trong Trương Húc Đông (Zhang Xudong) (2001)
[18] Misra (2003) gọi nhóm này là “tân chuyên chế” (neo-authoritanism”)
[19] Bạn đọc trong ngành kinh tế có thể để ý điều này: sự khác biệt giữa tư duy Tân Hữu và Tân Tả có thể xem như phản ảnh sự khác biệt giữa”truyền thống Oxford” (Alfred Marshall, John Hicks) và “truyền thống Cambridge” (Joan Robinson)
[20] Xem, chẳng hạn, Mishra (2006)
[21] Chu cũng là người viết lời tựa cho cuốn Cạm Bẩy của Hiện Đại Hóa (Pitfalls of modernization) của Hà Thanh Liên nói ở trên
[22] “We believe the market economy is not a sin. On the contrary, the sin comes from inequality of non-economic rights. It is this inequality of rights that distorts China’s market economy, and that also leads to omnipresent corruption and peasant problems in China” (Harmony stems from democracy, Chinadaily 2-12-05)
[23] Xem, chẳng hạn, Garnault (2008). Vợ của Tần Cối, Kim Yến, bút hiệu Tô Văn, cũng là một học giả nổi tiếng.
[24] ” ‘Only socialism can save China’, Mao Zedong used to say. After the collapse of Soviet and Eastern European communism, some said that ‘only China can save socialism’. But this now seems more and more ironic. The decade and more since 1992 above all shows that only China can destroy socialism.”
[25] State-dominated, welfare-lite capitalism
[26] Bài này cũng không nói đến những luồng tư tưởng “ngầm” trong xã hội Trung Quốc cũng như trong cộng đồng người Hoa ở nước ngoài.
[27] Xem, chẳng hạn, Leonard (2008)
[28] Chẳng hạn, nhiều nhà quan sát cho rằng chính sách tích cực trợ giúp lao động nhập cư của chính phủ Ôn Gia Bảo là do đề nghị của nhóm Tân Tả.
[29] Đó là không nói đến một thực tế khá “thô lậu”: một số trí thức này hiển nhiên đã được sự bao che của nhiều “ô dù” cao cấp trong Đảng. Chẳng hạn như đàng sau Hồ An Cương là Phan Nhạc (và Phan Nhạc là con rễ của Đề Đốc Lưu Hoa Thanh). Tiễn Lí Quần thì dựa thế của Thái Nguyên Bồi, thầy của nhị vị khai quốc công thần Trần Độc Tú và Lý Đại Chiêu. Cũng dễ thấy sự gần gũi của phe Tân Hữu với nhóm Thượng Hải của Giang Trạch Dân, và của phe Tân Tả với Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo.
Tham Khảo
Akerlof, George A., và Paul M. Romer, 2003, “Looting: The Economic Underworld of Bankruptcy for Profit” Brookings Papers on Economic Activity, Bộ 1993, Số 2, tr. 1-73
Cha, Ariana Eunjung, 2009, For China’s New Left, Old Values, Washington Post, 19 tháng 4
Chaohua Wang, 2003, One China, Many paths, New York: Verso
Cheung, Steven N S, 1969, The Theory of Share Tenancy, Chicago: University of Chicago Press
Cheung, Steven N S, 1973, “The Fable of the Bees: An Economic Investigation,” Journal of Law and Economics, Bộ 16, Số1, tr. 11–33.
Dowd, Douglas, 2005, “The dynamics, contradictions, and dissent of today’s China”, Review of Radical Political Economics, Mùa Đông, tr. 116-125.
Garnaut, John, 2008, “China’s economic power needs the party”, Sydney Morning Herald, 7 tháng 1.
Hardin, Garrett, 1968, “The Tragedy of the Commons”. Science 162, tr. 1243-1248
Hook, Leslie, 2007, “The Rise of China’s New Left,” Far Eastern Economic Review, 170, Số 3. tr. 12-27. Bản dịch của Vũ Quang Việt: Sự trỗi dậy của cánh tả mới ở Trung Quốc, Thời Đại Mới số 10, tháng 3/2007
Leonard, Mark, 2008, “China’s New Intelligentsia”, Prospect, tháng 3. Bản dịch của Phạm Toàn: Giới trí thức mới của Trung Quốc, talawas, 20-3-2008
Leonard, Mark, 2008, What does China Think?, N.Y.: Public Affairs
Mierzejewski, Dominik, 2009, ‘Not to Oppose but to Rethink’: The New Left Discourse on the Chinese Reforms, Journal of Contemporary Eastern Asia, Bộ 8, Số 1, tr. 15-29
Minqi Li, 2008, “The New Left in China,” Monthly Review, 22 tháng 8
Mishra, Pankaj, 2006, Getting Rich, London Review of Books, 30 tháng 11
Misra, Kalpana, 2003, “Neo-left and neo-right in Post-Tiananmen China,” Asian Survey, Tháng 9 – Tháng 10, tr. 717-744
Nguyễn Hải Hoành, 2009, Trung Quốc không vui, Hội Nhà Văn, 14 tháng 4
Pocha, Jehangir, 2005, China Today: Misguided Socialism Plus Crony Capitalism, New Perspectives Quarterly, Bộ 22, Số 2
Wang Hui, 1994, The Gradual Society, N.J.: Transaction Publishers
Wang Hui, 2003, China’s New Order: Society, Politics, and Economy in Transition, (Theodore Huters biên tập) Cambridge: Harvard University Press
Wang Hui, 2005, “China’s New Left,” New Perspectives Quarterly, 7 tháng 3.
Wang Shaoguang và Hu Angang, 2001, The Chinese Economiy in Crises, New York: M.E Sharpe
Zhang Xudong, 2001, Whither China?, Durham: Duke University Press.
Zhang Yongle, 2008, “No forbidden zone in reading?”, New Left Review 49, Tháng 2 – Tháng 3. Bản dịch của Hoài Phi: “Không có vùng cấm trong lĩnh vực đọc? “Ðộc thư” và giới trí thức Trung Quốc”, talawas, 15-9-2008

Bài giảng cuối cùng của Trần Đức Thảo

Sưu tầm được một bài đáng đọc cho những ai quan tâm về triết học. Mời quí vị và các bạn xem lúc rảnh rỗi!BÀI GIẢNG CUỐI CÙNG CỦA TRẦN ĐỨC THẢO

LTS:
- Trần Đức Thảo là triết gia được mình ngưỡng mộ rất nhiều, tri thức của
ông, nhân cách của ông, cuộc đời của ông. Đã có quá nhiều người nói về cuộc đời
của Trần Đức Thảo. Mình không nói nữa, và cũng không cần phải ca ngợi, chiêu
tuyết gì cả; hay là sẽ có thể nói theo một cách khác. Nhưng chưa thể bây giờ.
- Trên con đường tìm kiếm những tư liệu về ông và tìm hiểu tư tưởng của
ông, mình vô tình có được một tư liệu quý: phần văn tự ghi âm bài giảng cuối
cùng của Trần Đức Thảo tại Pháp bằng Tiếng Việt cho kiều bào. Tài liệu này do
Trần Tri Vũ thực hiện
- Để kiểm tra tính đúng thực của nó, mình đã đọc quyển tuyển tập các tài
liệu cuối cùng của ông trên tập san Nghiên cứu hiện tượng học, số 46, một tập
san rất có uy tín về triết học: The logic of the living present: experience,
ordering, onto-poiesis of culture, By Anna-Teresa Tymieniecka, Contributor
Anna-Teresa Tymieniecka, Published by Springer, 1995. Và thấy nội dung bài giảng
này cơ bản là phần mở đầu của các tài liệu của ông in trong sách trên.
- Phần bài giảng này là chuyên đề có tên Logic của cái hiện tại sống
động, một đường hướng lí thuyết mà Trần Đức Thảo theo đuổi từ những năm đầu tiếp
xúc với Hiện tượng học. Ông đã khai triển quan niệm về cái hiện tại sống động
của Husserl, cấp cho nó phần biện chứng của Hegel, và tư tưởng lịch sử của Marx
(ông là chuyên gia số 1 về Husserl, Hegel và Marx trên thế giới bấy giờ).
- Phần bài giảng có vấn đề rất chuyên sâu, nhưng có cái rất may mắn là
nó được ông trình bày cho kiều bào, những người có lẽ chưa có vốn triết học căn
bản, nên ông dùng ví dụ rất dễ hiểu, nói bằng ngôn ngữ dễ hiểu. Vì quá quý mến
ông, mình chép lại đây để những ai quan tâm, ngay cả sau này, có thể tìm thấy để
đọc. Dù sao cũng là tưởng niệm một con người.

“Thời gian đuợc hình dung bằng một con đuờng thẳng, và trên đó là một điểm A
rồi đến một điểm O là hiện tại…rồi tới một điểm B chua có, là cái đích ở trong
tuong lai. A là di vãng thì có rồi, O thì là hiện tại truớc mắt. Truớc cụ
Husserl thì mọi nguời vẫn hình dung thời gian là nhu thế. Thời gian là con đuờng
đuợc đánh số để diễn tả sự vận động theo chừng ấy phút, chừng ấy giờ. Những giờ
và phút ấy là đo theo đồng hồ. Thì sự vận động kéo dài từ A đến B là thời gian
tính bằng con số. Thí dụ như là 1 giờ, tức là sự vận động ấy kéo dài 1 giờ hay
60 phút. Sau đấy thì là tương lai kéo dài đến B, tức là chưa có, đấy có thể là
giả sử cũng là một giờ. Tức là chúng ta có 60 phút trong dĩ vãng và coi như có
60 phút trong tương lai. Trong thực tiễn thì là con số chỉ sự vận động, đi từ dĩ
vãng tới tuong lai, qua hiện tại. Cho tới cụ Husserl cũng chỉ nói đuợc thế thôi.
Do đấy thì tự nhiên có một vấn đề xuất hiện, không có thể giải quyết đuợc. Vì
cái gì cho phép ta nói từ A đến O là dĩ vãng, và từ O đến B là tương lai? Phân
biệt về căn bản giữa dĩ vãng với tương lai, thì trên cái đồng hồ ấy, kim xoay từ
trái sang phải, nhung nếu tôi xoay nguợc kim lại cũng để chỉ 60 phút, thì không
có cái gì dứt khoát cho phép phân biệt 60 phút của dĩ vãng với cũng 60 phút ấy
của tương lai.Vì khoảng cách ấy chỉ là cái huớng của kim đồng hồ. Đi từ trái
sang phải thì đấy là sự vận động của dĩ vãng. Nhưng xoay ngược lại cùng khoảng
cách đó thì không còn là dĩ vãng đuợc nữa. Mà trên trục thời gian, những con số
ấy là đánh giá sự vận động, cho đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 thì vẫn hiểu
là như thế, tức là theo định nghĩa của cụ Aristote. Lối tính thời gian như thế
thì không thể nào phân biệt dĩ vãng và tương lai. Và khoa học chính xác cũng
không có cách gì để phân biệt đuợc thời gian của dĩ vãng và của tương lai. Trên
công thức của khoa học chính xác thì vẫn có thể xoay nguợc lại kim đồng hồ, để
quan niệm dĩ vãng thành tương lai, tương lai thành di vãng…bắng cách thay đổi
dấu cộng thành dấu trừ. Nhu thế thì có thể quan niệm một đứa bé ngược một thời
gian thì thành lại cụ già. Và cũng như thế có thể nói cụ già qua một thời gian
lại thành đứa bé. Nhưng như vậy là không ổn, vì thời gian như vậy là chưa đuợc
định nghĩa đúng mức. Vì chưa qui định rõ thế nào là tiến bộ, thế nào là thoái
bộ…Điều này là ý nghĩa cơ bản trong đời sống của con nguời. Chúng ta ai cũng
mong tiến bộ. không ai mong thoái bộ. Và thương thuyết với nhau, hiểu biết lẫn
nhau thì chỉ có thể trên cơ sở tiến bộ thôi. Và cùng nhau tìm cái tiến bộ chung
và bác bỏ cái thoái bộ. Đó là điều duy nhất để mà có thể đi đến chỗ thông cảm và
có thể không nhất thiết đi tới thống nhất. Ít nhất cũng là thông cảm…Nếu không
phân biệt đuợc truớc sau, tiến bộ và thoái bộ thì không thể nào hiểu biết lẫn
nhau, trên cở nào để hiểu biết lẫn nhau, trên cơ sở nào mà quyết định ý nghĩa
của đời sống. Có thể hiểu đứa bé tiến lên thành cụ già. Nhưng cứ theo cái khoa
học ấy mà nói cụ già tiến lại đứa bé thì đời sống của nó là cái gì? Không còn có
thể nói chuyện đuợc nữa. Mà bản thân nó cũng không thể hiểu nó đuợc. Vấn đề đó
rất là sâu sắc. Khoa học chính xác không đạt đuợc sự hiểu thấu
(compréhension)…Do đấy mà không đạt tới đuợc một học thuyết thỏa đáng về xã
hội và con nguời. Mà có một căn bản, hiểu theo lô-gích hình thức, mà chỉ có một
lô-gích hình thức thôi, thì vẫn chưa xây dựng, chưa phát triển đuợc một khoa học
chính xác cao, nó mênh mông…Nhung như thế thì không thể hiểu đuợc sự khác
biệt giữa cái truớc với cái sau, giữa tiến bộ với thoái bộ.

Thành ra bây giờ làm thế nào phân biệt đuợc giữa cái truớc với cái sau, giữa
tiến bộ và thoái bộ. Đó là mấu chốt của vấn đề, mà cũng có thể nói là mấu chốt
của khoa học, nếu chúng ta nhận định rằng khoa học là có ý nghĩa, chứ không phải
chỉ là cái máy. Đời sống con nguời là sự hoạt động có ý nghĩa chứ không phải là
hoạt động robot, của nguời máy. Tư tuởng con nguời là có ý nghĩa, chứ không phải
là một thứ thông minh giả tạo như của máy móc (intelligence artificielle). Phải
phân biệt cái thông minh máy móc với cái thông minh của con nguời là hiểu được ý
nghĩa trong sự sống. Đó là tất cả sự phân biệt, sự khác biệt giữa dĩ vãng và
tương lai.

Vậy thì cái gì cho phép ta phân biệt, một cách dứt khoát, một cách căn bản, dĩ
vãng với tương lai?

Từ A tới O là dĩ vãng, Nhưng cái gì cho phép ta phân biệt là A đã có truớc O,
khác hẳn với B mà sau này mới có, mà cũng chưa biết nó là thế nào…? Có một
tiêu chuẩn cho phép nói A di chuyển cho tới O mà nó vẫn còn. Chứ nếu tới O mà A
không còn thì làm sao có thể từ O mà kết luận là A đã có truớc O ? Đó là tiêu
chuẩn ở O vẫn còn di tích, di sản của A. Do vậy mà có thể biết là A đã có truớc
O. Thế nên có thể nói trong thiên nhiên, trong xã hội, trong tâm lý, tư tuởng
con nguời thì những di tích, di sản, những trí nhớ, những ký ức là những tích
lũy của dĩ vãng. Cũng như trong địa chất học thì ta thấy từng lớp di tích của dĩ
vãng. Trong thiên nhiên, trong ý thức và tư tưởng con nguời chỉ có thể phân biệt
dĩ vãng với tương lai bằng những di tích mà dĩ vãng để lại. Những lớp đất, đá do
dĩ vãng để lại cho ta hiểu do đâu và cái gì có truớc khi có con sông hay ngọn
núi…vv…

Thế bây giờ làm sao hiểu đuợc tương lai ? Cái gì làm bằng chứng là tương lai
khác hẳn dĩ vãng ? Cái đã có khác hẳn với cái chưa có. Theo lô-gích hình thức
thì không thể nào phân biệt đuợc, cũng nhu xoay lại chiều kim đồng hồ thì tương
lai thành dĩ vãng, tức là không thể phân biệt…Hiểu như vậy là tương lai vẫn
còn có thể là di sản của cái có truớc. Đó là sự vận động tiến lên của thời gian,
đồng thời là sự vận động tiến lên của di tích để đạt tới hiện tại là điểm O. Và
cái gì làm cho cái hiện tại chuyển lên thành tương lai ? Truớc hết, hiện tại là
sự vận động tiến lên của di tích theo con đuờng vênh, còn sự vận động tiến lên
của bản thân, của sự vật, từ dĩ vãng đến hiện tại thì là sự vận động theo con
đuờng thẳng kết hợp với con đuờng vênh đi tới kết quả của sự vận động của thời
gian. Mà kết quả ấy đuợc biểu hiện trên con đuờng vênh để chỉ một hiện tại với
một hoàn cảnh của nó. Từ hoàn cảnh hay tình thế ấy làm nảy sinh một nhu cầu, tức
là một xu thế huớng về tương lai. Với những đòi hỏi và khả năng giải quyết xu
thế ấy cho thấy một viễn cảnh. Đó là ngay trong hiện tại đa xuất phát một xu
huớng của di vãng và tình thế của hiện tại đa cho thấy sự xuất hiện của tương
lai, đó là viễn cảnh (horizon) tuy nó chưa có của tương lai. Nói cách khác thì
viễn cảnh ấy chính là sự xuất hiện của tương lai ngay trong hiện tại bây giờ…

Huớng vào tương lai hơn nữa thì mang lại một yếu tố mới đẩy cái hiện tại xuống
duới thành một lớp di tích mới, và nó tạo ra một hiện tại mới, dựa trên sự vận
động biện chứng. đưa từ dĩ vãng, xuất hiện lên một hiện tại mới nữa…tức là
chuyển lên tương lai. Và dĩ vãng khác biệt với tương lai ngay trong hiện tại. Sự
chuyển biến cơ bản như thế tạo nên nguồn gốc của thời gian. Đó là sự khác biệt
giữa dĩ vãng và tương lai thông qua hiện tại. Đó là tiêu chuẩn để phân biệt dĩ
vãng và tuong lai. Đó là sự vận động biện chứng, khác với sự vận động máy móc.
Máy móc không định đuợc ý huớng của sự vận động. Ý huớng chỉ có thể tiến tới bởi
sự lắng đọng thành di tích của thời gian. Sự lặp đi lặp lại của những hiện tại
mới như thế là sự vận động biện chứng và nó tạo nên thởi gian. Đó là sự thời
gian hóa (temporisation) mang tính có ý nghĩa. Chứ không phải là thứ thời gian
của máy móc (như của đồng hồ, vặn tới vặn lui vẫn là mấy tiếng đồng hồ như
nhau). Vận động thời gian hóa như thế là vận động biện chứng. Nó mang ý nghĩa
của đời sống, từ tồn tại lý hoá lên đến sự tồn tại sinh học và lên đến sự tồn
tại của xã hội và con nguời. Cơ bản là nó phân biệt đuợc sự thời gian hóa với
thời gian đơn thuần. Nó phân biệt đuợc tính chất đa diện, đa hình của sáng tạo
của mỗi một thời khắc hiện tại. Từ đó có thể vận dụng vào mọi trình độ hiện tại,
mà truớc hết là sự vận động của xã hội và con nguời, để có thể phân biệt đuợc
cái tiến hóa và cái thoái hóa; phân biệt đuợc những buớc tiến hóa với những buớc
mà di vãng đã có rồi.

Trên cơ sở ấy thì có thể đi sâu vào qui luật và phạm trù biện chứng mà Hegel đã
phân biệt và trình bầy một cách không rõ ràng. Vì Hegel chỉ nói tới sự vận động
tiến lên thẳng chứ không kết hợp với sự vận động tiến ngang. Tuy cách trình bầy
của Hegel thì khá phức tạp và khá chính xác. Vì đó là một biện chứng tuy sâu
sắc, nhung không rõ ràng và vì nó lẫn lộn nhiều thứ. Sự phân tích của Husserl
thì có đi sâu hơn nhưng lại thiếu nhiều khái niệm. Tức là phép biện chứng của
Husserl soi sáng phép biện chứng của Hegel. Mà một khi phép biện chứng của Hegel
đã đuợc soi sáng thì nó tạo điều kiện để xây dựng một phép lô-gích vừa hình
thức, vừa biện chứng.

Lô-gích hình thức không phân biệt đuợc dĩ vãng với tương lai, thành ra làm mất ý
nghia của sự sống. Con nguời trở thành như robot.

Để xây dựng đuợc một khoa học đầy đủ hai mặt chính xác và ý nghĩa thì phải có
một phép lô-gích biện chứng, không phải tách rời như nó đã làm từ truớc tới nay,
mà là phải dựa vào cả phép lô-gích hình thức.

Với quan niệm thời gian vận chuyển có hai mặt vừa hình thức, vừa biện chứng, cho
phép từ di tích của hiện tại mà cũng là buớc đầu của tương lai do sự gặp gỡ của
tình thế. Nhung cái gì là tình thế ? Cái gì là liên hệ tới tình thế ? Cả Hegel
lẫn Husserl cũng không giải thích đuợc. Bây giờ, tức là mấy năm gần đây mới có
cái cơ sở thực tế để mà giải thích. Vì mấy năm gần đây mới sinh ra khoa sinh
thái học, với vấn đề ô nhiễm, cả cái vấn đề một mất một còn của thiên
nhiên…Bây giờ chúng ta đi tới chỗ có thể làm nổ quả đất, chứ chẳng nói tới
vấn đề ô nhiễm…Có thể tiêu diệt cơ sở thiên nhiên và sự sống…Từ đó mà có nhu
cầu phải đặt ra khoa sinh thái học và đi tới cả khoa toàn cầu học
(globalistique), nó tập hợp các quan hệ từ sinh thái học cho tới quan hệ lịch sử
nữa… Và gần đây sự phát triển của kỹ thuật và khoa học mới tạo nên những điều
kiện, để chúng ta hiểu thế nào là liên hệ với tình thế. Mà tình thế là tất cả
những trình độ phát triển…từ trình độ lý hóa, lên trình độ sinh học, rồi lên
trình độ xã hội học, tâm lý học vv…Mà tất cả những trình độ phát triển ấy thì
nó có ngay ở trong con nguời. Bởi trong con nguời có tất cả các trình độ, các
quan hệ vừa sinh học, hóa học và lý học…Trong bản thân con nguời có tất cả
những tích lũy di tích theo từng lớp, từng trình độ từ nguyên tử, phân tử…tức
là nguồn gốc vật chất ở thì hiện tại trong mỗi con nguời. Do đấy mà con nguời
chỉ hiểu biết đuợc bản thân con nguời bằng cách liên hệ không những với nguời
khác, tức là giữa nguời với nguời, mà còn là liên hệ với cả xã hội và với cả
thiên nhiên…Cái ấy là cái tinh thần của tình thế hiện nay. Nói liên hệ với
tình thế là liên hệ với xã hội và thiên nhiên theo những mức độ phát triển của
thiên nhiên và xã hội có ngay trong bản thân con nguời và đồng thời cả trong thế
giới. Muốn hiểu thấu sự liên hệ như thế thì phải xây dựng một phương pháp tu duy
mới. Đó là phương pháp lô-gích hình thức và biện chứng . Đó là một nhu cầu rộng
lớn, mông lung, phải đi từng buớc để tìm hiểu. Trên đây mới chỉ là giới thiệu
thôi, trên thực tế thì chưa đi vào buớc đầu. Bởi đó là cả một vấn đề lớn lao
lắm…

Nguồn – Trần Tri Vũ: ghi

Minh triết và phát triển

• Triết học – tư tưởng – tôn giáo

Triết gia Việt Nam- Lương Kim Định (1914- 1997) để lại hàng chục cuốn sách giá trị, giúp định hướng cho sự phát triển của dân tộc và nhân loại trong kỷ nguyên mới như: Triết lý Đông- Tây, Gốc rễ triết Việt, Thái bình minh triết, Hồn nước với lễ gia tiên, Khổng Tử, Kinh Dịch, Trống đồng Đông Sơn… và một lời tiên tri: “Đạo mất trước, nước mất sau.” Kim Định xác định “Minh triết là Đạo tức là con đường hướng dẫn con người đến hạnh phúc”. Nền tảng của Minh triết là: Thái hòa, Nhân chủ, Tâm linh.

Trung tâm nghiên cứu minh triết (Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam) với đề tài nghiên cứu “Minh triết trong tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam- những vấn đề cơ bản”, bước đầu thu hút sự tham gia của các học giả trong, ngoài nước.

Hội thảo lần I – khẳng định nghiên cứu Minh triết trên thế giới đang phục hưng từ ba, bốn thập niên gần đây. Hàng loạt trường Đại học Minh triết ra đời. Công trình đáng giá nhất ở Mỹ đầu thế kỷ XX là bộ Thánh kinh Minh triết (Bible of Wisdom) tập hợp những giá trị Minh triết Đông- Tây: Phật, Khổng Tử, Lão Tử, Thiền, Hy Lạp cổ đại…(Nguyễn Khắc Mai)

Tìm về giá trị Minh triết, nhất là Minh triết phương Đông, bởi con người bất an trước những nghịch lý: kinh tế và khoa học càng phát triển, thì càng phá hoại, dẫn đến hủy diệt môi trường sống tự nhiên của con người và vạn vật. Đạo lý làm người mất dần. Trái đất và bầu khí quyển có ngày ra tro.

Minh triết Việt bao gồm những giá trị sống tươi đẹp, nảy nở từ vạn kiếp con người đã sinh ra, ăn, ở, đi, về, suy nghĩ, học, sản xuất, sáng tạo văn hóa, thực hành tâm linh… trong vùng địa lý, khí hậu, lịch sử riêng biệt, trên cánh đồng lúa nước. Minh triết Việt tiếp thu Minh triết của những dân tộc khác, nhưng khi nó ăn nhập vào sức sống của cư dân Việt, nó trở thành “Văn minh lúa nước” mà Minh triết Việt là đỉnh chóp.

Ngô Thời Sĩ quan niệm Minh triết là đạo lý đời thường: “Đem đạo Thánh hiền để quở trách thói đời, không bằng đem đạo đời thường để cảm hóa lòng người”.

Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến (Chủ tịch Hội đồng khoa học đề tài nghiên cứu Minh triết Việt) đã tóm gọn Minh triết Việt trong một câu: “Minh triết là biết làm thế nào để sống hẳn hoi”.

Hoàng Ngọc Hiến đã vạch hướng nghiên cứu lâu dài, với sự kết hợp nhiều tiếng nói, đa ngành, đa phương, đa sắc tộc Việt Nam: “Không thể khác được, nghiên cứu Minh triết ở Việt Nam bắt đầu bằng sự tổng kiểm kê và sưu tầm, bổ sung, những viên ngọc quí của Minh triết hiện đang rải rác khắp nơi”.

Con đường nghiên cứu đã mở. Những tiếng nói bốn phương tụ hội vang lên, gọi người Việt Nam- Trở về cội nguồn Minh triết Việt (Hà Văn Thủy). Cội nguồn đó, do triết gia Kim Định phát hiện: “Từ xa xưa, người Việt vẫn cảm nhận rằng mình là con cháu của dân tộc Minh triết. Những hạt Minh triết luôn lấp lóa tỏa sáng trong cuộc sống. Nhưng chưa ai biết nguồn cội Minh triết là gì. Cho đến nửa thế kỷ trước, bằng quán tưởng, bằng giải mã những huyền thoại, truyền thuyết Việt, triết gia thiên tài Kim Định đã đốn ngộ phát hiện cội nguồn Minh triết Việt. Phát kiến lớn về văn hóa Việt của ông được đông đảo sinh viên Sài Gòn một thời hoan hỉ, hưởng ứng”(Hà Văn Thủy).

Từ Vương quốc Anh, học giả Vũ Khánh Thành- học trò xuất sắc của Kim Định, gửi tham luận: “Minh triết Việt- Định hướng cho việc phát triển đất nứớc” đã tổng hợp tư tưởng Kim Định và đề xuất học Nho, học Phật, học Kinh Thánh để phục hồi đạo làm người: “Nhân Trí Dũng của Nho- Bi Hỷ Xả của Phật- Tin cậy Mến của Thiên Chúa giáo, để thành Người.”

Về giáo dục, Vũ Khánh Thành mong mỗi học sinh học ba thứ tiếng (Việt, Anh, Hán) ở bậc tiểu học; giáo dục Lễ gia tiên hay Đạo thờ ông bà; Tiên học lễ, hậu học văn… Học chữ Hán để tìm về vốn minh triết Việt, Tinh hoa tổ tiên và Đạo Việt hàng nghìn năm trước, sống đúng Đạo làm người.

Từ Sydney học giả Phạm Việt Hưng về Hà Nội trả lời câu hỏi: Đâu là nền văn minh đích thực?

Nền văn minh đích thực phải là sự chắt lọc tổng hòa tinh túy của hai nền văn minh Đông và Tây. Văn minh Đông phương cổ truyền thiên về Tâm (thông qua chiêm nghiệm, trực giác). Văn minh Tây phương thiên về Vật (thông qua quan sát, đo đạc, chứng minh).

Song thế kỷ XX, Lý Tường Hải- nhà nghiên cứu Trung Quốc nhận định: “Sự phát triển cao độ của kỹ thuật thành một công cụ sắc bén để nhân loại tàn hại lẫn nhau… người ta vốn là đứa con của tự nhiên, giờ đây họ muốn lấy trí thức và kỹ thuật làm chỗ dựa, hy vọng trở thành chủ nhân của tự nhiên. Họ làm những việc lay trời chuyển đất, tát đầm bắt cá, kết quả là phá vỡ sự cân bằng sinh thái vốn có của giới tự nhiên, khiến nhân loại gặp nguy cơ là mất đi chỗ dựa sinh tồn. Con người hiện đại sau khi thoát khỏi gông cùm của “chủ nghĩa cấm dục” truyền thống, đi đến chỗ phóng túng không biết kiêng kỵ là gì, cuối cùng đau đớn cảm thấy rằng cuộc sống chẳng có gì đáng gọi là hứng thú nữa. Ngoài ra, bởi sự chủ tể của kỹ thuật đối với con người, tác động vạn năng của đồng tiền, sự tha hóa nhân tính và sự lầm lẫn ngọn nguồn giá trị… không thể không khiến người ta đau đớn cảm thấy sự chìm lấp ý nghĩa nhân sinh”.

Phạm Việt Hưng đưa ra hàng loạt câu chuyện về mặt trái của tấm huân chương khoa học. Tại Úc, một công ty bị phát giác làm thí nghiệm cấy tế bào người vào nhân trứng lợn và tạo ra một sinh thể sống được 42 ngày. Thực ra nó bị giết chết vì các nhà nghiên cứu nhận thấy “cơ thể” của nó chứa cả AND của người và AND của lợn. Một tác phẩm khoa học trứ danh, sinh ra một sinh vật lợn- người hoặc người- lợn. Đó là lý do để Albert Enistein buồn rầu thốt lên: “Hãy thận trọng đừng biến trí tuệ thành chúa của chúng ta; nó có sức mạnh cơ bắp, nhưng phi nhân tính”.

Vậy mà ngày nay, người Việt Nam tất tưởi, vội vã chạy theo Tây phương, phá cánh đồng lúa trĩu hạt mùa vàng làm sân gôn, dự án, đầu tư nước ngoài, nhà xưởng, công nghiệp hóa, thải độc xuống những dòng sông xanh mát trưa hè, bê- tông hóa nền văn minh lúa nước… đánh mất ánh sáng Minh triết phương Đông cổ truyền của chính mình, nên gặp quá nhiều bất ổn trong đời sống của mọi người, mọi chốn, mọi nơi, từ đồng quê đến thị thành.

Ở đâu có dự án lấy đất, là ở đó cuộc sống bình yên bỗng trở nên hỗn loạn. Cái gốc của sự bất ổn định là mất đất. Mất đất, sẽ mất Đạo. “Mất Đạo trước, mất nước sau”.

Nhà thơ dân gian Nguyễn Bảo Sinh đau đớn vẽ bức tranh quê Việt Nam hiện đại:
Bọn họ bán hết biển Đông
Ta mới bán được cánh đồng làng ta

Mẹ già như chuối chín cây
Sổ đỏ mẹ quyết cầm tay chẳng rời
Ông sở địa chính phì cười
Mai kia qui hoạch đất thì của ông

Cây đa, giếng nước, chùa làng
Hương đồng gió nội, Niết Bàn chân quê
Từ ngày họp chợ chân đê
Chùa ra mặt phố đất qui y vàng

Đậm đà bản sắc chân quê
Thanh lâu xóa sạch, cave đầy đường…”
Còn bức tranh Hà Thành thì sao?

T.S Nguyễn Hoàn- Hội KHKT Thủy Lợi nói: “Thiên tai có 13 loại thì Hà Nội phải chịu 12 loại: nước mặn dâng cao; nước ngọt đầu nguồn các dòng sông khô cạn; ngập lụt. mưa to; lũ ống; lũ quét; bão cường độ cao; lốc xoáy; hạn hán; rét đậm; rét hại; sạt lở bờ sông; động đất; dịch bệnh với con người, gia súc, gia cầm, thực vật; mù quang hóa hay gọi là đảo nhiệt; Hà Nội chỉ thiếu sóng thần vì xa biển.

Vấn đề an ninh lương thực cho Hà Nội. Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2020, Việt Nam không còn gạo để xuất khẩu. Khi đó với một Thủ đô hàng chục triệu dân, vấn đề cung cấp lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm sẽ là một bài toán cần có lời giải…”

Không ai giải được. Nếu họ cứ tiếp tục bán đất và bán đất. Đầu tư và đầu tư nước ngoài.

Đau đớn thay!

Song chúng ta theo Minh triết Ngô Thời Sĩ. Không quở trách thói đời. Mà cùng nhau gọi người Việt “Trở về cội nguồn Minh triết Việt” do Kim Định phát hiện với những đặc trưng:

1. Người Việt quan niệm về một vũ trụ “tham thiên lưỡng địa” có nghĩa là vũ trụ vận hành đi lên với ba phần Dương và hai phần Âm. Đấy là sự phát triển tích cực nhưng cân đối, nay gọi là phát triển bền vững. Nếu để Dương cực thịnh, Âm cực suy, phát triển quá nóng sẽ hủy diệt trái đất.

2. Từ trong bộn bề văn hóa phương Đông với Khổng Nho, Hán Nho, Tống Nho… Kim Định tìm ra Việt Nho là nền văn hóa hoang sơ của người Việt, mà ông gọi là Nguyên Nho với nội dung: Nhân chủ, Thái hòa, Tâm linh. Việt Nho quan niệm trong tam tài Thiên- Địa- Nhân thì con người là chủ. Trong vị trí chủ nhân, con người phải sống thái hòa với nhau và với thiên nhiên. Con người không chỉ là thể xác vật chất mà còn sống trong tâm linh, trong tương quan với thế giới siêu nhiên khác.

3. Để được như trên, con người phải sống trong Đạo Việt An vi. Không hữu vi duy vật tranh giành chiếm đoạt. Không vô vi lánh đời, mà sống tích cực, tận tâm tận lực làm việc cho mục đích hướng thiện, theo lẽ an nhiên, an hòa của lòng mình hợp với sự vận hành của vũ trụ.

4. Sự tồn tại của xã hội dựa trên cơ sở bình sản. Những hạt nhân Minh triết Việt tồn tại trong tầng sâu văn hóa Việt, tỏa năng lượng nuôi sức sống Việt hàng vạn năm nay, lẽ nào chúng ta lại không tiếp nhận để cứu chính mình và dân tộc thoát khỏi sự mất Đạo. “Đạo mất trước, nước mất sau”

Mỗi người dân Việt cần Minh triết Việt để sống làm người. Thế giới càng hỗn loạn, con người càng cần Minh triết. Minh triết bảo thân. Tiến sĩ Lloyd Bruce khẳng định “Những người lãnh đạo (điều hành vi mô và vĩ mô) nếu không biết Minh triết và ứng dụng Minh triết sẽ phải trả giá đắt cho sự vô tâm của mình.”
Nguồn: trannhuong.com

May trong rủi

Thưa anh Nguyễn Trung, cách nghĩ của anh là cách nghĩ của một người quá nhân hậu. Nhưng đối với những kẻ nói dối trắng trợn thi sự nhân hậu nhiều khi lại không có giá trị thanh lọc phẩm cách của họ mà chỉ càng đẩy họ xuống vũng lầy suy thoái nguy hiểm – được đà lộng giả thành chân.

Giờ đây, có lẽ đã phải xem xét lại không chỉ kiểu nói năng đôi khi quá mềm mỏng đến quỵ lụy trên các phương tiện truyền thông chính thống như tờ báo Điện tử Đảng Cộng sản kia hay trang web của Bộ Công thương nọ đối với những kẻ trắng trợn ăn cướp biển đảo của chúng ta, mà còn phải xem xét cả việc đã từ mấy năm nay cơ quan Bộ Truyền thông Thông tin ngang ngược ra lệnh xử phạt vô lối những bài viết đầy tinh thần yêu nước như bài của Trung Bảo trên báo Du lịch khiến cho cả một tờ báo bị đình bản oan, mấy chục con người lâm vào cảnh mất công ăn việc làm cay đắng. Hay như cơ quan chức năng đã nhất loạt cưỡng bắt bất kỳ ai dám bày tỏ chủ kiến “Hoàng Sa là của Việt Nam” một cách tàn bạo và đổ cho họ hết lỗi này đến tội khác. Gần đây khi buộc lòng phải thả một số người ra thì người ta còn kiếm cách tước đoạt phương tiện phát ngôn, tức là chặn họng, là cách đối phó tỉnh lẻ đối với người có văn hóa.

Anh hãy xâu chuỗi lại và thử ngẫm nghĩ, có phải tất cả những việc làm đó đều bắt nguồn từ một chủ trương ứng xử nhất quán: là cái thói quen cúi mình trước ngoại bang rất hèn hạ, hay là một “sách lược cương nhu rất mực cao thâm”? Tôi ngờ rằng bao lâu nay chúng ta vẫn bị đánh lừa bởi con “ngoáo ộp” nó làm mình cứ vừa hy vọng vừa không khỏi… xấu hổ ngượng ngùng, té ra cuối cùng thì chỉ là một chiếc mặt nạ không hơn không kém.

Nguyễn Huệ Chi

May trong rủi
Nguyễn Trung

Về “sự cố” của ông Đào Duy Quát ai cũng thấy đây là một sai lầm nguy hiểm ở mức trầm trọng, vì muốn hay không báo Đảng thường làm nhiệm vụ:

a) Bày tỏ quan điểm chính thống của Đảng, và

b) Hướng dẫn toàn bộ báo chí trong nước.

Sự cố càng vô cùng nghiêm trọng ở chỗ nó đụng đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của nước ta. Đúng như người đời vẫn nói: sảy chân còn đỡ được, sảy miệng thì chấm hết!

Sự cố là cái gì đó xảy ra ngoài ý muốn hay không có chủ định trước. Cuộc đời có những sự cố có thể cứu vãn hoặc thanh minh được, song cũng có sự cố tự nó chấm dứt một sự nghiệp – nghĩa là hệ quả xảy ra không thể cữu vãn được vượt khỏi tầm nhìn của người để xảy ra sự cố.

Ông Đào Duy Quát đã thanh minh và xin lỗi. Ông và tập thể tờ báo điện tử do ông phụ trách đã nhận kỷ luật. Tôi không biết dư luận chấp nhận lời thanh minh của ông Đào Duy Quát như thế nào, riêng tôi cảm thấy sự thanh minh ấy và mức độ kỷ luật ấy chưa thuyết phục được mình lắm, trong lòng vẫn cứ lấn cấn làm sao ấy. Tôi cần có thêm thời gian để nghĩ tiếp.

Trong khi chưa nghĩ được đến cùng về sự cố đã xảy ra, tôi cố gắng tìm cách suy nghĩ theo hướng lạc quan, bỗng nhận ra một điều: Lâu nay trong dư luận người đọc – trong đó có tôi – cho rằng các báo chính thống của Đảng thường có thái độ quá mềm giẻo với Trung Quốc và tránh né nhiều điều gay cấn xảy ra trong quan hệ Việt – Trung. Bây giờ lời thanh minh của ông Đào Duy Quát cho tôi cảm giác: Những người làm báo Đảng có lẽ bên trong không đến nỗi mềm yếu như dư luận vẫn nghĩ lâu nay. Dẫn chứng là ông Đào Duy Quát cho biết khi đưa bài lên mạng người đánh máy đã quên mất hai chữ “ngang ngược” (tìm xem VNexpress http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2009/10/3BA14083/). Nếu đúng là thế, thì đây là cái may trong cái rủi. Nghĩa là sự cố của ông Đào Duy Quát cho thấy một tín hiệu tốt nào đó mà người đọc đang mong tìm.

Không biết cảm giác này của tôi có đánh lừa tôi không, mong rằng không phải như vậy. Nghĩa là tôi có lý do để hy vọng trong tương lai những người làm báo Đảng sẽ đủ mạnh để tìm được và dùng được những từ ngữ thích đáng vào những sự việc đòi hỏi những từ ngữ thích đáng? – Gọi đúng tên của sự vật và nói lên được sự thật.

Hà Nội, ngày 02-10-2009

NT

HT Bauxite Việt Nam biên tập.

TRĂNG RẰM

ẢNH CHỤP BAN ĐÊM TRĂNG RẰM CỦA ĐẶNG MINH LIÊN

ẢNH chụp ban đêm - TRĂNG RẰM - Của ĐẶNG MINH LIÊN

Đại học Việt Nam cần Hội nhập ra sao?

Hình 1Bộ mặt mới của đại học Việt Nam?
Phạm Duy Hiển ( là nhà nghiên cứu khoa học giáo dục đã có nhiều bài viết chuyên sâu về lĩnh vực này đăng tải trên nhiều báo chí cũng như các website Việt Nam )

Hệ thống đại học ở một nước như Việt Nam phải phát triển theo một quỹ đạo tối ưu giữa số lượng và chất lượng. Cần mở rộng quy mô để thỏa mãn nhu cầu được học ngày càng cao của người dân (phương nằm ngang), đồng thời phải nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học (NCKH) ở một số trường trọng điểm, được xem như những chiếc máy cái cho nền khoa học và đại học nước nhà (phương thẳng đứng). Đây là những đại học nghiên cứu theo các tiêu chí và chuẩn mực quốc tế. Tại đây người thầy phải nghiên cứu khoa học ở trình độ quốc tế, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo, nhà trường phải xây dựng được các trung tâm đào tạo và NCKH ngang tầm quốc tế – Centers of Excellence – được lãnh đạo bởi những nhà khoa học có vị trí trên mặt tiền khoa học -công nghệ của thế giới.

Theo đà tăng trưởng kinh tế của đất nước, tốc độ phát triển theo phương thẳng đứng (các trường đại học nghiên cứu) phải nhanh hơn tốc độ theo phương nằm ngang (mở rộng quy mô đào tạo). Nếu không, các trường đại học sẽ thiếu nhân lực, chất lượng ngày càng sa sút, và xu hướng thương mại hóa sẽ lên ngôi, phá nát cả hệ thống. Nguy cơ này đang dần lộ diện ở nước ta. Bởi chúng ta chưa quyết tâm xây dựng một bộ mặt mới cho đại học Việt Nam theo những tiêu chí được thế giới nhìn nhận.

Bức tranh NCKH của các nước Đông Á và Đông Nam Á

Số lượng công bố quốc tế (CBQT) và số trích dẫn (citation) được xem như thước đo năng lực khoa học của quốc gia. Tiêu chí này cũng được dùng để đánh giá và xếp hạng các trường đại học ở nhiều nước và trên thế giới. Song những tiêu chí này lại chưa được nhìn nhận đúng mức ở nước ta. Chỉ mới gần đây chúng ta mới chấp nhận chúng trong nghiên cứu cơ bản. Các nghiên cứu ứng dụng, công nghệ, xã hội, nhân văn, vốn áp đảo trên các tạp chí khoa học quốc tế và trực tiếp tác động đến đời sống, kinh tế của đất nước vẫn còn bỏ ngỏ về mặt kiểm định chất lượng.
Hình 1

Bức tranh NCKH của 11 nước Đông Á (Hình 1) cho thấy không có bất cứ lý do nào để khước từ CBQT nếu chúng ta muốn đất nước sánh vai với các nước tiên tiến trong khu vực.

Tính trên một triệu dân, Singapore đứng đầu khu vực về CBQT, gấp 170 lần Việt Nam. Theo sát sau Singapore là Đài Loan, Hàn Quốc, HongKong và Nhật Bản, năm nước này tạo thành nhóm tiên tiến nhất trong khu vực. Dưới cùng trở lên là Indonesia, Philippines và Việt Nam. Thái Lan, Trung Quốc và Malaysia thuộc nhóm giữa, nhưng vẫn vượt khá xa ba nước vừa nêu trong nhóm cuối. Năm 2008, 65 triệu dân Thái Lan công bố 3904 công trình, trong khi đó Việt Nam đông dân hơn (87 triệu) nhưng chỉ mới có 806 công trình.

Thành tích CBQT của Việt Nam khá hơn Indonesia và Philippines, mặc dù thu nhập bình quân của hai nước này cao hơn ta gấp hai lần. Hơn nữa, trong nhiều năm liền, Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao về công bố quốc tế, 16%/năm, ngang với tốc độ của Thái Lan và Malaysia.

Vậy điều gì làm chúng ta lo ngại?

Thứ nhất, các trường đại học chỉ chiếm 55% số CBQT của Việt Nam trong khi ở Thái Lan nghiên cứu khoa học tập trung chủ yếu ở các trường đại học (95%). Gắn NCKH với đào tạo đại học là ưu thế của các nước đi sau mà ta không tận dụng. Xem nhẹ sự gắn kết này dẫn đến chất lượng đại học sa sút và những tri thức khoa học mới nhất không được lan tỏa đến cộng đồng để góp phần nâng cao dân trí.

Thứ hai, CBQT của ta còn dựa quá nhiều vào nước ngoài, những công trình do nội lực tạo ra, và đồng thời gắn kết hơn với đời sống của đất nước, chỉ chiếm một phần ba, còn lại chủ yếu làm ở các nước tiên tiến thông qua con đường đào tạo hoặc hợp tác, có nội dung liên quan trực tiếp với đất nước họ. Trong khi đó, tỷ lệ công trình nội lực ở nhiều nước khác đều cao hơn nhiều, Philippines: 55%, Thái Lan: 65%, Malaysia: 75%, Trung Quốc: 80%, chứng tỏ nhiều nước trong vùng đã xây dựng được tiềm lực khoa học đủ mạnh để giải quyết những đề tài khoa học do kinh tế và đời sống của họ đặt ra.

Thứ ba, những công trình do nội lực được trích dẫn ít hơn hẳn so với những công bố có nước ngoài hợp tác (thậm chí có công trình hầu như không được ai trích dẫn), phản ảnh sự khác biệt quá xa giữa trình độ khoa học trong và ngoài nước.

Thứ tư, dẫn đầu danh sách các công trình do nội lực của Việt Nam là Toán và Vật lý lý thuyết, hai ngành được đầu tư rất ít và hầu như không cần những cơ sở hạ tầng nghiên cứu tốn kém. Ở các nước khác tình hình hoàn toàn ngược lại. Ở Đại học Chulalongkorn chẳng hạn, CBQT do nội lực tập trung vào các lĩnh vực ứng dụng gắn liền trực tiếp đến đời sống như hóa học, y dược, công nghệ v.v. Trên thực tế chúng ta đầu tư không ít cho khoa học ứng dụng, công nghệ, xã hội nhân văn v.v., song đầu ra trên các diễn đàn quốc tế chỉ lác đác.

Bốn đặc điểm trên đây là bất bình thường, không giống những gì diễn ra ở các nước khác, chúng khoét sâu thêm những yếu kém bên trong những thành tích CBQT “đúng quy luật” của Việt Nam. Đây là những vấn đề cần được nhìn nhận và giải quyết để đại học và khoa học Việt Nam có tư thế ngày càng vững vàng hơn trong quá trình hội nhập với thế giới.

Hội nhập quốc tế có nghĩa là đại học của nước ta phải bước lên các sân chơi quốc tế với đầy đủ tư thế, đặc biệt là các sân chơi về NCKH.

Bản thân ta phải đủ mạnh mới hội nhập được với thế giới

Có lẽ nên bắt đầu từ câu hỏi tại sao không ít ấn phẩm khoa học nội địa có chất lượng tốt lại không thể xuất hiện trên các tạp chí quốc tế? Mà chỉ nơi đây mới có thước đo tương đối đúng đắn chất lượng NCKH và giảng dạy đại học.

Trước hết, phải nói ngay rằng từ một công bố nội địa đến CBQT trên tạp chí có uy tín là cả một khoảng cách rất xa, không dễ vượt qua đối với nhiều người làm khoa học ở nước ta. Trên đoạn đường này lại có rất nhiều rào cản làm nản lòng họ, dù họ biết rất rõ cái đích “quốc tế” cần vươn tới ấy giá trị đến nhường nào. Kinh nghiệm cho thấy từ khi hoàn thành một đề tài NCKH được nghiệm thu tốt ở Việt Nam cho đến khi nội dung khoa học ấy được xuất hiện trên tạp chí quốc tế là khoảng thời gian rất dài, đầy gian nan thách thức.

Nhưng đây cũng chính là khoảng thời gian thể hiện tính chuyên nghiệp cũng như đẳng cấp của nhà khoa học. Đây là lúc nhà khoa học phải mang những nội dung nghiên cứu của mình đặt lên mặt tiền tri thức nhân loại. Đối thoại với các phản biện đồng nghiệp quốc tế sừng sỏ nhất còn chính là dịp để khẳng định kỹ năng trình bày, lập luận logic, vươn tới mức chính xác cao nhất v.v. những kỹ năng thiết yếu nhất của các thầy giáo đại học làm nhiệm vụ truyền đạt kiến thức khoa học cho sinh viên. Lại một lần nữa ta thấy tại sao các trường đại học trên thế giới lại yêu cầu các thầy giáo phải có CBQT.

Những khó khăn trên đây giải thích vì sao chưa có một tạp chí nội địa nào của nước ta, dù xuất bản bằng tiếng Anh đã lâu, được lọt vào danh sách ngót một vạn tạp chí quốc tế hiện nay; vì sao gần hai phần ba công bố quốc tế của Việt Nam được thực hiện tại các nước tiên tiến (qua các chuyến đi công tác, thực tập ở nước ngoài), hoặc được thực hiện tại Việt Nam nhưng lại do nhà khoa học nước ngoài chủ trì.

Nếu Đại học Việt Nam muốn hội nhập với thế giới, chúng ta cần có tư duy mới về cách tổ chức hoạt động NCKH và giảng dạy đại học ở nước ta. Phải phấn đấu xây dựng những nhóm nghiên cứu mạnh (center of excellence) ở các trường đại học, như những đơn vị cấu trúc hoàn toàn mới của nền khoa học và đại học Việt Nam.

Tuy nhiên, cũng không ít nhà khoa học Việt Nam có công bố quốc tế đều đặn, một số ngành như Toán và Vật lý công bố nhiều hơn hẳn các ngành khác, đặc biệt là các ngành công nghệ và khoa học xã hội, nhân văn, và cũng nhiều hơn hẳn một số nước Đông Nam Á. Lý giải chuyện này chắc sẽ giúp chúng ta nhận ra những ưu việt của chính mình và tìm lối đi nhanh đến các sân chơi quốc tế về khoa học và đại học.

Từ thực trạng trên dễ thấy ngay rằng cần có tư duy mới về cách tổ chức hoạt động NCKH và giảng dạy đại học ở nước ta. Phải phấn đấu xây dựng những nhóm nghiên cứu mạnh (Center of Excellence) ở các trường đại học, như những đơn vị cấu trúc hoàn toàn mới của nền khoa học và đại học Việt Nam.

Hội nhập khoa học và đại học Việt Nam với thế giới chính là xác lập chỗ đứng của các nhóm nghiên cứu này trong cộng đồng khoa học quốc tế.

Đòi hỏi một nghiên cứu sinh có ít nhất một công bố quốc tế trước khi trình luận án sẽ là bất khả thi nếu người thầy không có công bố quốc tế đều đặn, không có chỗ đứng nào đó trong cộng đồng quốc tế. Do đó, trong việc xét duyệt và phong hàm giáo sư, công bố quốc tế phải là tiêu chí quan trọng nhất, thậm chí ở nhiều nước còn là tiêu chí độc tôn. Có thể việc này chưa làm được đối với các thế hệ trước, nhưng không có lý do gì minh chứng cho việc tiếp tục duy trì tư duy này cho các thế hệ từ nay về sau. Không thể vì hư danh của một số người trong thế hệ này mà làm hỏng các thế hệ tương lại.

Cho nên chính thức chấp nhận công bố quốc tế như một tiêu chí cho giáo sư và phó giáo sư sẽ là bước đột phá đầu tiên cần làm ngay. Từ đó sẽ còn nhiều bước đột phá tiếp theo để tác động đến toàn bộ cách quản lý và tạo ra môi trường lành mạnh cho NCKH và giảng dạy đại học.

Tuy nhiên, những bước đột phá ấy vẫn chưa đủ. Về phía người NCKH cũng phải cố gắng vượt qua chính mình mới có đủ hành trang bước lên các sân chơi quốc tế.

Vượt qua chính mình

Muốn có CBQT, trước hết phải thường xuyên đọc các tạp chí quốc tế cùng chuyên ngành. Có đọc mới thấy mình nghiên cứu đúng hướng, đi tìm đúng cái mới, và tự lượng định liệu mình đủ sức chen chân vào các sân chơi quốc tế hay chưa, còn phải tiếp tục hoàn thiện mình thêm ở những khâu nào nữa. Thiếu tạp chí quốc tế để các nhà khoa học tra cứu là khó khăn cần phải được giải quyết ngay ở cấp quốc gia hiện nay.

Phải đọc những gì các đồng nghiệp quốc tế đã viết ra trong ít nhất 5 năm gần đây là điều kiện tiên quyết trước khi tiến hành một đề tài nghiên cứu. Gần đây Trung tâm Thông tin khoa học thuộc Bộ KH&CN đã mua được quyền truy cập vào cơ sở dữ liệu của Thomson Reuters, ISI Web of Knowledge http://db.vista.gov.vn/login.aspx, qua đó có đầy đủ thông tin cập nhật cho một vạn đầu tạp chí khoa học được xem là có uy tín nhất hiện nay trên thế giới. Vào trang web này ta có thể tìm thấy rất nhiều thông tin liên quan đến hoạt động NCKH của từng nước, từng cơ sở nghiên cứu, trường đại học, số lượng và chất lượng (số lần được trích dẫn) và bản tóm tắt từng công trình của từng nhà nghiên cứu. Trang mạng Scholar Google, với khẩu hiệu “hãy đứng trên vai những người khổng lồ” cũng rất phổ dụng và hữu ích.

Chẳng những đọc công trình các đồng nghiệp cùng chuyên ngành mà còn phải tìm cách đối thoại với họ qua email, thông qua các kênh hợp tác quốc tế để mời chuyên gia nước ngoài đến làm việc, và nhất là trực tiếp gặp gỡ họ qua các hội nghị quốc tế. Đây là những diễn đàn quan trọng, dễ tiếp cận, cho nên cần khuyến khích và cấp kinh phí đủ để các nhà nghiên cứu nước ta có điều kiện hội nhập với đồng nghiệp khắp năm châu.

Viết bài đăng trên các tạp chí quốc tế có nghĩa là đối thoại với đồng nghiệp quốc tế. Ta luôn tưởng tượng có người đang nghiêm khắc “vặn vẹo” mình sau từng câu chữ được viết ra. Hiện nay phần lớn các tạp chí quốc tế đều bằng tiếng Anh. Nên thạo tiếng Anh là điều kiện bắt buộc để tòa soạn nhận đăng công trình. Ở đây không hề có sự nhân nhượng nào về ngôn ngữ, một công trình có giá trị về nội dung học thuật vẫn bị từ chối nếu viết tiếng Anh không ra hồn. Lại không nên nghĩ rằng có thể viết bài báo bằng tiếng Việt rồi nhờ ai đó dịch ra tiếng Anh, bởi ngôn ngữ chuyên môn rất khác ngôn ngữ thông dụng, nhiều khi mỗi tạp chí lại có những yêu cầu và phong cách riêng. Trên thực tế, người nghiên cứu phải suy nghĩ bằng tiếng Anh, chứ không phải theo tiếng mẹ đẻ, rồi sau đó chuyển thể ra tiếng Anh. Ngoại ngữ là rào cản rất lớn đối với những người nghiên cứu khoa học xã hội, nhân văn.

Vượt qua rào cản ngôn ngữ là cả một quá trình luyện tập. Kinh nghiệm cho thấy cần phải học tiếng Anh từ đầu, bài bản, nếu không rất khó thành công. Đây là khó khăn của rất nhiều nhà khoa học lớn tuổi muốn khẳng định chỗ đứng của mình trong cộng đồng quốc tế. Cho nên cần khuyến khích một số trường đại học chất lượng cao giảng dạy bằng tiếng Anh.

Tin rằng một thế hệ mới các thầy giáo đại học Việt Nam sẽ xuất hiện, họ có thể nói chuyện với đầy đủ tư thế cùng các đồng nghiệp nước ngoài. Họ sẽ là bộ mặt mới của đại học Việt Nam. Còn thế hệ cũ đang đóng vai các lão làng: hãy vượt qua chính mình để thúc đẩy nhanh chóng một thế hệ mới!

P. D. H.

Nguồn: http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=108&News=3087&CategoryID=40

Giữa dòng đời

Conhac[/caption]DONKIHOTE

Ảnh sưu tầm - vui mắt cho bài viết

Ảnh sưu tầm - vui mắt cho bài viết

GIŨA DÒNG ĐỜI

Hàng ngày các bạn

và tôi

vẫn đi

Giữa dòng đời bụi bặm

Giữa sạch và bẩn

Mà thường là bẩn nhiều hơn

Đến độ quen rồi

Sống chung với lũ

Tự nhủ:

Bằng an – ngoại ngũ tuần tri thiên mệnh!
***
Tôi vốn bản thể: yêu mến người và cảnh

Nhưng nay/ nói chung:

người nhạt phai trong tôi

Ít – sao ít người làm tôi quí – kính

Mới biết khi trẻ

Và cả gần đây

mình quá sách vở – trong sáng và ngây thơ,

mặc dù các kiểu đời khá nhiều đã trải!
cũng đã trong khói bụi và lặn lội tận đáy

***

Kia có những kẻ khôn ma – nặng một ý nghĩ

Chỉ lo làm giầu, lên chức và ăn ngủ hưởng

Chộp nạo cho bằng hết:

Mồi vừa mới giữ

Miếng vừa mới giành

Mặt sôi lên trong cơn ngửi mùi bạc tiền

Miệng lặng câm toan tính…

Kể cả bán mình, bán…
rồi đổ bụi
đổ bùn đỏ
bùn đen…
“linh tinh”
bất chấp
môi trường sống
hữu…tình
hữu…sinh
đẹp…xinh
cốt…thân vinh

***

Kia những kẻ dưới trung bình,

một đời kí sinh.

Nay suốt ngày lo tập tành

Cho khỏe cho sống dai

Mà hưởng nhiều thêm nữa

Cái xái một thời rơi rớt…

***

Và kia: đáng thương bao kẻ vùa mọn hèn

Vừa thực sự đầu đất, dù rất khôn vặt

Theo nghĩa chẳng nghĩ và biết cái gì

Vẫn bịt mắt bưng tai

Dù thời buổi thông tin bùng nổ

Dừng ở làm ăn no và ngủ

Và bản năng hoạt động như nhiên

Lắm lúc cũng gây phiền ra hoàn cảnh
(Chối tai:
sáng ngày ra đã líu lo í ới thổ ngữ…
buổi ban trưa hay nửa đêm cũng ầm ào còi xe máy
/ toe toe wave Tàu…
ục oạch đập đá cây – pha trà đểu, nước mía rẻ tiền
uống vào đau bụng!
Chát bụp xình loa rè
điệu ca ẻo lả)

Nhỏ lười học
lớn gặp thời:
một suất dân đô thị
một suất lương
một suất nhà…
– như ai
Góp lùn nền văn hóa

Bảo là: không chấp
Nhưng nó cứ trướng bành
làm bực mình
nên phải rủa vài câu cho nhẹ!

***

Kia, kia, kia …lắm lắm

Những cái xác khộng hồn

Những phận người nặng tiền kiếp thú

Ham lam và u muội

Chen chúc dòng đời

Xô đầy nhau và chẳng biết về đâu!

Nếu không mau

Tỉnh ngộ để hồi sinh

***

Mấy câu – chữ này
– KHÔNG TUYỆT VỌNG !
CHẲNG HI VỌNG!
CHỈ LÀ MỘT TIẾNG KÊU!
XẢ XÌ TRÉT BẢN THÂN!
“Mẹ cha cái mặt trái đời!
sao nó ngồn ngỗn thế!
Như cái mặt lờ…cave…thối tha bẩn tưởi”
Khì khì…
Đành thô tục một tý

Bí: không có cách khác biểu đạt

để phác thảo bức tranh – ghép mảng:

về: cái tệ, cái hại tàn…
mọi nơi, mọi giới…

Thuần mảng:
Người lao động, bình dân, quần chúng, giầu nghèo, bản sắc Việt…
không dám có trong văn bản này

***
Rồi!

Lúc nhúc:

– Biết : cũng chẳng nghe đâu!
– Chỉ nghe đứa nhả tiền – dù là bệnh hoạn bất lực…

– Vòng quay u mê và lòng tham,
mới làm người ta dồn giác quan vào đó!

9 – 10 – 2009. Sáng tác của Đặng Minh Liên

lỉ ruọu

Ly Rượu cuối tuần

<

Thi sỹ Hoàng Cầm và những người vợ

Nhà thơ Hoàng Cầm và vợ (Lê Hoàng Yến)

Nhà thơ Hoàng Cầm và vợ (Lê Hoàng Yến)

Người Đàn Bà Đẹp’ Đẩy Chiếc Xe Thơ Của Hoàng Cầm

Hà Thế Lực
Nguồn: Thế Giới Người Việt
08-10-2009

Hình (Loan BB): Nhà thơ vô cùng biết ơn người vợ và là nàng thơ Hoàng Yến.

Be e n e t- “Ngày hai bữa cơm nghèo, mấy tấm áo quần đã sờn rách, một lũ con nhỏ dại lau nhau đi học, chơi đùa, đau ốm, tất cả tôi trao gánh nặng cuộc đời ấy cho người vợ”.

Đó là những dòng Hoàng Cầm viết về người vợ cuối cùng của ông, bà Lê Hoàng Yến, khi nhớ lại những ngày gian nan thử thách thi nhân.

“Em đâu? Ai xé hồn muôn mảnh”

Năm 1985, sau cuộc hành trình suốt 30 năm đằng đẵng trên cõi tạm với nhà thơ, bà Hoàng Yến tạm biệt ông để đi vào cõi vĩnh hằng. Khi ấy, bà mới ngoài sáu mươi tuổi, nhà thơ vẫn chưa được “phục hồi”, và vẫn sống trong cảnh “vô cùng nghèo đói, phải chạy ăn từng bữa một, từng dúm gạo một” cho cái gia đình có đến hơn chục miệng ăn, như chính Hoàng Cầm kể lại.

Như chàng Ăng tê phải rời mặt đất, khi bà ra đi, Hoàng Cầm rơi vào những tháng ngày hoảng loạn và trầm cảm, như một thứ bệnh tâm thần. Nhà thơ kể lại: “Nghe một tiếng còi ôtô rít lên ở ngoài, đang ở trong nhà, thì tự nhiên tôi co rúm lại, chui xuống gầm giường. Thậm chí, nghe tiếng giày lộp cộp cũng thấy sợ”. Mãi đến năm 87, nhờ nhiều người bạn, ông mới dần dần hồi phục lại được sức khoẻ.

Bài thơ “Xa” ông viết khi bà mất rất cảm động:

Chim gì lảnh lót dãy tường rêu
Bấy nhiêu lá úa rơi ngơ ngác…
Em đâu? Ai xé hồn muôn mảnh
Tiếng mối tường bên xé tiếng mưa…
Đêm đêm hương khói, ngày không nói
Trang giấy vùng âm đắp ẩm êm

Tín đồ thơ và nàng thơ của Hoàng Cầm

Đầu ấp tay gối cùng nhà thơ suốt 30 năm, bà Lê Hoàng Yến đương nhiên là một tín đồ của thơ tình Hoàng Cầm. Bao nhiêu bản thảo của thơ ông, bà giữ hết. Các con bà vẫn nhớ những đêm mưa gió, nhà cửa hồi ấy lụp xụp, dột nát, bà lại lọ mọ chạy những bản thảo thơ ấy vào chỗ khô ráo.

Là tín đồ, đồng thời cũng là nàng thơ của Hoàng Cầm suốt mấy mươi năm, như nhà thơ tự nhận, ông viết về bà là nhiều nhất trong ba bà vợ. Đến lượt mình, bà lại ru hai đứa con trai bà sinh cho ông bằng những vần thơ bất hủ: “Bên kia sông Đuống”, “Lá diêu bông”, “Mưa Thuận Thành”…

Từng là một diễn viên, mê thơ Hoàng Cầm từ ngày còn trẻ, nhưng khi về ở với nhà thơ, bà Yến đã là một góa phụ. Thật ra, bà Yến và người vợ hai, của nhà thơ, bà Tuyết Khanh, cũng từng có những ghen tỵ từ trước đó: Yến và bà Tuyết Khanh đã cạnh tranh nhau để đóng vai nàng Kiều Loan trong vở kịch thơ cùng tên nổi tiếng của Hoàng Cầm.

Được chọn cho vai diễn ấy, nhưng rồi, chính bà Khanh lại bỏ nhà thơ để ra đi, và suốt mấy mươi năm sau đó, bà Yến đã cùng nhà thơ đi giữa sân khấu cuộc đời cho đến ngày từ giã cuộc sống. Đời làm vợ của bà có thể gói gọn lại trong một câu thơ của chính Hoàng Cầm: “Tôi có người vợ nghèo, đời vất vả gieo neo…”

“Nhiều người nói tôi lấy bà Yến chỉ vì bà đẹp quá”

Bà Hoàng Yến là người cuối cùng đến với Hoàng Cầm trong số ba người vợ chính thức. Thân sinh bà Yến vốn là một lang thuốc ở đất Hải Dương. Có lẽ, tính cách hiền thục và nhân hậu của bà Yến sau này, như mọi người quen biết kể lại, có ảnh hưởng nhiều từ cha mình.

Bà, trước khi lấy Hoàng Cầm, đã là một thiếu phụ lúc mới 31 tuổi. Năm 1940, lúc vừa mười tám, bà kết tóc se tơ cùng một thày giáo hay làm từ thiện, ông Đào Thiện Phỏng. Ông Phỏng nhà khá giả, có hẳn một khu nhà ở đối diện Nhà Đấu xảo (Cũng văn hóa Việt Xô bây giờ), trong nhà có người giúp việc, nên người vợ 18 tuổi thậm chí còn “không bao giờ phải vào bếp” như một người con kể lại, và hay theo chồng đi làm từ thiện.

Nhà có nhiều học sinh của ông Phỏng trọ học, nên về sau cho thuê hẳn, và chuyển sang phố Lý Quốc Sư, cho đến khi ông Phỏng mất đột ngột vì nhồi máu cơ tim.

Lấy Hoàng Yến năm 1956, Hoàng Cầm, khi ấy là Trưởng đoàn Văn công Tổng cục Chính trị, vừa trở về từ chiến khu Việt Bắc sau kháng Pháp, với hành trang hôn nhân nặng gánh là hai đời vợ. Bà thứ nhất, Hoàng Thị Hoàn, được gia đình cưới cho nhà thơ, trước khi qua đời vì quá nhớ thương người chồng biền biệt những ngày chống Pháp, đã kịp sinh cho cho ông hai người con.

Còn bà thứ hai, Tuyết Khanh, lọt vào mắt xanh của nhà thơ khi bà vào vai Kiều Loan trong vở kịch thơ cùng tên của ông một cách xuất sắc đến mức Nguyễn Huy Tưởng và Vũ Hoàng Chương phải khen “nắc nỏm”. Sinh cho nhà thơ cô con gái Kiều Loan, bà bị ốm nặng, phải “rời chiến khu về thành” chữa bệnh, rồi cuộc đời xô đẩy, bà đi lấy chồng khác. Năm 1954, bà ôm con, theo chồng vào Nam, rồi tới năm 1975, sang Mỹ.

Bà Yến là Y tá của Bệnh viện Yersin (nay là Bệnh viện Việt Đức) trong thời kỳ kháng Pháp, lại xinh đẹp tới mức vẫn được mệnh danh là hoa khôi của Bệnh viện dù đã 5 con với chồng cũ, cho nên, khi Hoàng Cầm xách balô về ở với bà, rất nhiều người nói là nhà thơ “bị lừa”.

Còn theo như ông cựu Trưởng đoàn Văn công kể lại, thì ngay từ lúc đó, rất nhiều người là cấp trên đã không ưa cuộc hôn nhân này, vì bà Yến được xếp vào loại công chức cũ, và họ nghĩ, nhà thơ lấy bà chỉ vì mê sắc đẹp. Và điều này, theo nhà thơ, chưa chắc đã không liên quan gì đến vụ Nhân văn – Giai phẩm sau này…

Nàng Thơ Của Hoàng Cầm: Nhẹ Nhàng Gánh Khổ Nhục

- Theo những người con gái của bà Yến, 30 năm làm vợ Hoàng Cầm, người ngoài nhìn vào, chỉ nhìn thấy những nhẹ nhàng, thanh thản, đường hoàng trên gương mặt bà, mà không sao thấy được hòn Thái Sơn đè nặng trên vai người phụ nữ bé nhỏ ấy.

…Sống trong thời kỳ dài nghèo khó vất vả, lại phải quản một gia đình “đa chủng quốc” – như con gái bà nói, nào con riêng, con chung (chưa kể một người con nuôi của bà Yến trước khi lấy nhà thơ), nhà cửa chật chội, ông chồng lại nổi tiếng đa tình và đào hoa, nhưng những người con hầu như không bao giờ nghe được một lời cãi vã nào từ bố mẹ.

Theo cô Hà, con gái thứ ba của bà Yến, thì “suốt đời, bà chỉ phàn nàn với chúng tôi về chuyện bố Cầm hút thuốc lào, vì tính bà ưa sạch sẽ, mà thuốc lào thì hôi hám”. Cũng theo cô Hà, bà Yến đặc biệt yêu quý con gái riêng của nhà thơ, cũng mang tên Bùi Hoàng Yến. Hai mẹ con rất hợp nhau. Khi cô Yến mất năm 1982, bà đã đau buồn mấy tháng trời.

Những bữa cơm đơn sơ nghèo khó, dưới sự cầm trịch của bà Yến, “bao giờ cũng đầy đủ cả nhà, mời từ trên xuống dưới, trong bữa cơm không được dỗi”, cô Hà nhớ lại. Ngay cả nhà thơ, nhiều lúc dù không bằng lòng với mẹ vợ, cũng không được ra khỏi nền nếp ấy.

Những nền nếp ấy cũng là điều duy nhất mà bà Yến nghĩ đến cho riêng mình. Hồi ấy chưa có nóng lạnh như bây giờ, và “toalet” riêng là một thứ vô cùng xa xỉ, nhưng ngày nào cũng vậy, bà đều tắm rửa cẩn thận trước khi đi ngủ, cho dù gió rét có hun hút thổi ngoài nhà tắm công cộng.

Lúc lên giường, bao giờ bà cũng phải mặc quần lụa trắng. Ngủ dậy, dù vội đến mấy, việc đầu tiên bà làm là vấn tóc, trang điểm, dù nhẹ nhàng thôi. Các bậc cao niên ở Bệnh viện Việt Đức thì vẫn nhớ, bà Yến có những chiếc túi tự thêu rất đẹp, không ai có cả.

“Những ngày ấy bao nhiêu thương xót”

Nhà thơ kể lại trong một lần trả lời phỏng vấn: “Lúc đấy bà vò võ nuôi một gánh con, cũng muốn lấy tôi để được nhờ, vì tôi lúc đó là Trưởng đoàn văn công, “oai” lắm. Nhưng ngờ đâu chỉ sau vài năm tôi mất tất cả, thế là một tay bà phải lo cho cả chồng, con đến tận khi qua đời”.

Gần phần ba thế kỷ, ông vẫn nhớ…

Cái ngờ đâu mà Hoàng Cầm nhắc đến ấy là 30 năm đằng đẵng sau vụ Nhân văn – Giai phẩm. Lấy Hoàng Yến năm 1956, tới năm 1958, đồng lương còm cõi của nhà thơ bị cắt mất 65%, và phải lao động cải tạo bắt buộc trong ba năm. Cho đến khi được “phục hồi” vào năm 1988, theo lời “ông Hoàng” thơ tình kể lại, “không thể đem ngòi bút của mình kiếm được một đồng xu nào hết”, vì bị cấm in thơ.

Trong khi Hoàng Cầm lọ mọ đẩy xe bò cùng Trần Dần, đi chiếu phim cùng Phùng Quán để kiếm ba đồng mỗi đêm (tương đương với sáu ly rượu), thì, bà Hoàng Yến tiếp tục làm việc ở BV Yersin, khi đó đã đổi tên là BV Việt Đức, trực tiếp phụ mổ cho GS Tôn Thất Tùng.

Hai vợ chồng về sau có mở thêm một quán rượu ở 43 Lý Quốc Sư, mang tên của chính nhà thơ, nhưng đều do một tay bà Yến xoay xở. Ông từng viết: “Ngày hai bữa cơm nghèo, mấy tấm áo quần đã sờn rách, một lũ con nhỏ dại lau nhau đi học, chơi đùa, đau ốm, tất cả tôi trao gánh nặng cuộc đời ấy cho người vợ”.

Suốt những ngày “bao nhiêu thương xót” ấy, người vợ, vốn chưa bao giờ phải vào bếp trước khi lấy ông Trưởng đoàn Văn công, vẫn không một lời ca thán, chỉ ặng lẽ và nhẫn nhục. Những lời duy nhất mà bà nói với ông về Nhân văn – Giai phẩm chỉ là mấy lời cầu xin: “Thôi ông ạ”, trong những đêm dài tối lặng, khi chỉ còn hai vợ chồng với nhau, sau những xe bò ban ngày, chiếu phim ban tối.

Theo nhà thơ, bà “không chính trị”, nhưng hiểu phải biết mình là ai, mình đang trong hoàn cảnh nào.

Hoàng Cầm kể lại : “Mỗi một tháng, (bà Yến- PV) lại phải lên trình diện một lần mới được người ta cấp cho 12 cân gạo. Rồi lại phải đi lên Sở lương thực để lấy giấy chứng nhận nọ kia, rồi bấy giờ mới lại sang phòng tài chính để thanh toán tiền, xong rồi xuống chỗ bán hàng, xếp hàng chờ đợi”.

Mỗi tháng được 12 cân gạo, nghĩa là mỗi người được chừng một cân cho 30 ngày. Bữa cơm nào cũng vậy, cả hai vợ chồng cũng “đáng lẽ mình ăn ba bát, ăn có một bát, để nhường cho các con ăn”.

Nước mắt sau những vần thơ

Cái “vất vả gieo neo” của người vợ hiền ấy đã giúp Hoàng Cầm tạm quên đi được những tháng này đen tối thủa ấy của đời ông, để tâm trí của ông trở về với thời ấu thơ, với cõi thơ của riêng mình. Ông đã trao cho người vợ “những gánh nặng cuộc đời” để những “Về Kinh Bắc”, “Mưa Thuận Thành”… thai nghén và ra đời.

Theo Hoàng Cầm, nếu không có người vợ suốt đời lam lũ “đẩy giúp”, thì “chiếc xe thơ” Về Kinh Bắc (tập thơ được chính nhà thơ đánh giá là xương sống”của sự nghiệp văn chương) đã không thể “đi trọn đoạn đường thiên mệnh của nó”. Bà cũng là người phụ nữ gợi nhiều thi hứng nhất cho ông, và thơ viết cho bà, viết về bà chiếm một số lượng nhiều nhất trong đời thơ Hoàng Cầm.

Năm 1988, trong một buổi ra mắt, đánh dấu sự trở lại chính thức sau 30 năm gió bụi, giữa hội trường của Cung Văn Hóa, giữa những tiếng vỗ tay rầm rập, ông “chợt khóc lên, như là nước mắt ở đâu đó nó trào ra”.

Sau này, ông kể lại, ông khóc “tuyệt nhiên không phải vì cái vinh quang nó trở lại với mình”. Lúc ấy, ông nghĩ đến những tháng ngày đằng đẵng khổ đau mà người vợ ông phải chịu đựng chỉ vì lấy ông, nhưng suốt đời không một lời dù chỉ là hờn dỗi. Những con người đang vỗ tay ở dưới kia, họ nghe những bài thơ, nhưng làm sao họ biết được, đằng sau những vần thơ ấy, là nước mắt lặng lẽ cả cuộc đời của một người phụ nữ.

Ba năm sau ngày bà đi xa mãi mãi, ông đã được đọc những vần thơ của mình, được nói cười thong dong, không còn sợ hãi điều gì, nhưng ở dưới suối vàng, bà có biết được điều đó hay không?

Chúng ta đã tránh được chiến tranh thế giới

Gorbachev: Chúng ta đã tránh được thế chiến thứ ba

Oct 15th, 2009
Phỏng vấn cựu Tổng Bí Thư Mikhail Gorbachev
Bài viết của Isabelle Lasserre, Caroline de Malet và Philippe Gélie Fifaor của Le Figaro thực hiện tại Gènève ngày 12/10/2009 – Hồng Lĩnh lược dịch

Tổng Thống đầu tiên và cũng là cuối cùng của Liên Bang Xô Viết nói về những biến cố đã dẫn tới việc sụp đỗ bức tường Bá Linh và việc đỗ vở của khối cộng sản. Và phát biểu suy nghĩ của ông ta về Obama, Medvedev và Putin.
Le Figar Cách đây 20 năm, vào lúc bức tường Bá Linh sụp đổ, ông nắm quyền tại Liên Xô. Ông thấy sự việc xảy tới hay ông sự kiện ấy bắt chợt ông?

Mikhail Gorbachev: Sự kiện có lẽ khó bắt chợt tôi vào giai đoạn ấy. Những biến cố ấy là kết qủa của một tiến trình dài dẵng. Đã từ lâu tôi ở trong bộ máy chính quyền và tôi biết rất rõ tình hình. Hồi tôi trở thành lãnh tụ của Liên Xô, một trong các vấn đề căn bản của viễn kiến của tôi là xem Âu-Châu như một chung cư. Hơn nữa vào dịp thăm viếng nuớc Pháp, chúng tôi xây đắp chung cư ấy. Và vấn đề Đức quốc là thành phần của viễn kiến ấy. Thống nhất Đức quớc là việc rất có thể, vì trước đó đã có những thay đổi tại Liên Xô, tại Trung Âu và Đông Âu trong liên lạc với các quốc gia tây phương và đặc biệt với Hiệp Chủng quốc Mỹ. Với Hiệp chủng quốc Mỹ, chúng tôi trong qúa khứ không mấy thân thiện. Lúc tôi lên nắm chính quyền tại Liên Xô, các nhà trách nhiệm Liên Xô vả Mỹ đã không gặp nhau từ sáu năm qua. Vài năm sau đó, chúng tôi đã thay đổi sự kiện ấy. Và chính toàn diện của các thay đổi ấy kéo theo sự khã dĩ việc thống nhất. Lúc tôi thăm viếng Đông Đức vào năm 1989, vào dịp kỷ niệm 40 năm của Cộng Hòa Đông Đức, tôi rất xúc cảm trước những cái tôi thấy. Tôi nói chuyên rất lâu với Chủ Tịch Erich Honecker và ông ta làm tôi ngạc nhiên. Tôi có cảm nghĩ là ông ta không hiểu cái đang xảy ra. Hay là ông ta không chấp nhận tiến trình đang xảy ra và tiến trình ấy lẽ đương nhiên đặt vấn đề thống nhất Đức quốc. Có một cuộc duyệt binh to lớn, có đại diện của 28 miền của Đông Đức. Các thanh niên tham gia diễn hành hô to các khẩu hiệu chứng tỏ đất nuớc đang sùng sục và sẽ có những thay đối lớn rất gần. Thủ tuớng Ba Lan Mieczyslaw Rakowski xích lại gần tôi và hỏi xem tôi có biết tiếng Đức không? Tôi trả lời: «Vửa đủ để biết các biểu ngữ và các khẩu hiệu nói gì». Ngay lúc ấy ông Mieczyslaw Rakowski nói nhỏ với tôi «Thế là xong rồi. Tôi đáp: thưa vâng».

Le Figar Nghe ông nói, hình như chính ông đã hoạch định sự kiện ấy?
Mikhail Gorbachev: Không, tôi không hoạch định nó. Hơn nữa tháng sáu năm 1989 vào dịp thăm viếng Tây Đức, sau khi nói chuyện với thủ tướng Helmut Kohl, một nhà báo hỏi tôi là có đề cập vấn đề Đức quốc không? Tôi trả lời là có. Tôi tuyên bố vấn đề chia cắt Đức quốc là một di sản của lịch sử, của đại chiên thứ II. Nhưng chính lịch sử phải nói cái gì sẽ xảy ra. Các nhà báo không bằng lòng và họ năn nỉ hỏi là khi nào có thống nhất. Tôi trả lới vấn đề có lẽ sẽ được giải quyết vào thế kỷ XXI. Và lịch sử sẽ định đoạt. Qúy vị phải thấy đó là vị trí của tôi vài tháng trước khi bức tuờng Bá Linh đổ. Và sau đó có những thay đổi tại Liên Xô, Trung-Âu và Đông-Âu «cách mạng nhung», các liện hệ mới với Mỹ quốc, tài giảm binh bị. Tất cả các yếu tồ ấy đã kéo theo một giây xoắn các biến cố, dầu cho Đống Đức còn là một hòn đảo trong cái đại dương thay đổi.

Le Figar Ông có bị cám dỗ dùng sức mạnh để chận đứng các vận chuyển đang xảy tại Đông Âu không?

Mikhail Gorbachev: Ông xem, khi người tiền nhiệm của tôi là ông Konstantin Tchernenko qua đời vào năm 1985, các lãnh tụ của các quốc gia thuộc thỏa ước phòng thủ Varsovie tới phúng điếu tại Moscow. Chúng tôi họp nhau lại tại văn phòng của tôi. Tôi cám ơn họ và nói với mấy vị ấy: «Chúng ta sẽ không làm gì hết có thể làm rối ren mối liên lạc của chúng tôi với qúy ông. Chúng tôi tôn trọng những bó buộc, nhưng qúy ông chịu trách nhiệm chính trị của qúy ông, của qúy quốc, và chúng tôi chịu trách nhiệm chính trị của chúng tôi, của xứ sở chúng tôi. Vào năm 1985, chính tôi đã hứa là chúng tôi (Liên Xô) không can thiệp và chúng tôi đã không bao giờ can thiệp. Nếu chúng tôi đã can thiệp, thời có lẽ ngày hôm nay tôi đã không có ở đây với các ông. Cái đó tôi có thể cam đoan với các ông.
Le Figar Cái gì đã có thể xảy ra theo ý ông?

Mikhail Gorbachev: Có lẽ chúng ta đã có đại chiến thứ ba. Vào lúc Âu-Châu tràn đầy vũ khí hạch nhân. Mỗi bên của màn sắt có tới hai triệu binh sĩ. Qúy vị thử tưởng tượng cái gì đã xảy ra nếu chúng ta dùng vũ lực?

Le Figar Vào thới điểm ấy, đâu là viễn kiến của ông cho tương lai của Liên Xô?

Mikhail Gorbachev: Đó là viễn kiến dẫn chúng tôi vào những thay đổi dân chủ, mở cửa xứ sở, cải tổ Liên Bang và kinh tế của chúng tôi, trả lại tự do đi lại cho người dân, tiến dẫn tự do ngôn luận và tôn giáo. Vào lúc ấy, tôi đã không ngần ngại, tôi biết đó là con đường phải theo. Và tôi tin rằng chúng tôi có thể kéo dài Liên Bang Xô Viết như cũ. Nhưng, sau các tuyển cử tự do của năm 1989, một số người trong hàng ngũ của đàng CS đã phản ứng dữ dội chống các cải tổ. Lúc ấy đảng chia rẽ: 84% nghị viên là đảng viên, nhưng thành phần ưu tú của đảng CS Liên Bang Xô Viết thất cử. Tôi có tất cả lý do để tin rằng chiến lược cải tổ (Perestroïka) được sự ủng hộ của đa số. Nó chỉ làm trở ngại việc thành phần ưu tú của đảng đã nhiều lần thử lật đổ tôi, cất chức tôi vào các dịp hội nghị của trung ương đảng. Các kẻ chống đối cải tổ không có khả năng chống chúng tôi trên pháp lý, chính trị. Vì lý do ấy mà họ tổ chức cuộc đảo chánh vào năm 1991. Chúng tôi đã đánh giá qúa thấp sự nguy hiểm, chúng tôi đáng lý phải hành xử cứng rắn hơn để ngăn cản sự việc ấy. Tôi nghĩ rằng những người ủng hộ cải tổ, gồm có tôi, chúng tôi đã qúa tin tưởng. Chúng tôi tin là đúng hướng. Vào thời điểm ấy, chúng tôi đã soạn thảo một chương trình để tu bổ tình trạng kinh tế tại Liên Bang Xô Viết… Chương trình ấy được tất cả các Cộng Hoà, cho tới các Cộng Hòa thuôc biển Baltic ủng hộ. Vào đầu tháng tám, chúng tôi cũng soạn thảo một thỏa uớc mới cho Liên Bang. Vào tháng mười một 1991, chúng tôi muốn tổ chức một đại hội để cải tổ đảng. Chúng tôi nghĩ rằng trong tình thế ấy thật là vô trách nhiệm cho bất cứ ai tổ chức đảo chánh. Thật khốn nạn là họ đã làm, và một số những người tổ chức đảo chánh là xung quanh tôi, thuộc thân cận của tôi.

Le Figar Hôm nay ông giải thích ra sao nỗi luyến tiếc quyền lực và Liên Bang Xô Viết đuợc biểu lộ trong giới lãnh đạo và quần chúng Nga?

Mikhail Gorbachev: Tôi biết tình thế. Tôi nghĩ rằng không nên phóng đại khuynh huớng ấy. Trong một thăm dò thực hiện vào năm 2005 nhân kỷ niệm hai mươi năm chiến lược cải tổ (perestroika), 55% số người thẩm định rằng các cải tổ là rất cần thiết, trong lúc họ thuộc thiểu số mười năm trước đó (1995). Hai phần ba dân Nga ủng hộ tuyển cử tự do, kinh tế thị truờng, tự do đi lại.

Le Figar Đồng ý, nhưng hiện nay ông Staline đuợc lòng dân hơn trong qúa khứ?
Mikhail Gorbachev: Tôi không nghĩ thế. Thật thể là có một số biểu tình với chân dung Staline. Điều ấy chứng tỏ rằng Nga chưa thành công hoàn toàn tiến trình cải tổ. Nhưng chuyện ấy chúng tôi đã biết. Dầu cho sao đi nữa, không có vấn đề quay lại qúa khứ. Người ta không thể đi lùi. Cái đó sẽ không xảy ra.
Le Figar Đâu là phê phán của ông về chính trị của bộ song mã Medvedev-Putin? Hai ngưòi ấy đang dẫn dắt Nga đúng hướng không?

Mikhail Gorbachev: Nhiệm kỳ đầu của Vladimir Putin xem thuận chiều. Ông ta đã chận đứng tiến trình thái hóa của Nga, tiến trình ấy rất nguy hiểm. Ông ta ổn định được tình thế. Ông ta sẽ có chổ của ông trong lịch sử chỉ nhờ thế. Nhưng tôi không thấy những cố gắng canh tân thực sự, đó là bài toán căn bản. Các điều kiện rất thuận lợi, nhờ giá dầu tăng. Nhưng tôi tự vấn về cách thức dùng hàng triệu Đô La do dầu lửa tạo ra. Tôi tin là số tiền ấy đã cho phép các bạn của bộ song mã mua lâu đài Chams-Élysées và cái còn lại của nước Pháp. Tôi nói đùa, nhưng tôi nghĩ rằng một phần lớn của số tiền ấy bị lãng phí và không được dùng vào việc canh tân đất nước. Bộ song mã ấy có lẽ phải hành động sớm hơn để tu bổ tình trạng kinh tế, canh tân nước Nga và luôn thể cho dân chủ hóa. Phía nầy hai ông dập tắt đám cháy, phía kia hai ông phạm nhiều lỗi lầm.

Le Figar Theo ý ông, vấn đề chính là do chính trị, kinh tế hay tham nhũng?
Mikhail Gorbachev: Cái mà quốc gia cần, đó là một hệ thống mới, một kiểu mẫu mới cho phát triển. Và để xây dựng nó, cần dẹp xong vấn đề tham nhũng. Hiện nay, tôi đồng ý là chưa phải thế. Nhưng ai sống sẽ thấy.

Le Figar Ông có nghĩ rằng Medvedev và Putin sẽ đón nhận bàn tay do Barack Obama đưa ra không?
Mikhail Gorbachev: Không những Barack Obama là nguồn cội của cái thích nghi ấy trong giao tế Nga-Mỹ. Nhưng chính ông là một con người nghiêm túc, ông ta hiểu tình hình phát chứng, ông tranh đấu cho giải giới hạch nhân và ông đã thẩm định vấn đề môi trường. Đó là một người đối thoại tốt đối với các vị lãnh đạo của chúng tôi, vì chính đó là cái mà các nhà lãnh đạo ấy muốn. Tôi có cảm nghĩ tích cực đối vời Tổng Thống Mỹ. Và thế, tôi tin chắc là Nga muốn nắm lấy may mắn ấy. Nhưng không biết chừng ra sao.

Le Figar Ông đã nhận giài thưởng Nobel hòa bình năm 1990. Ông có nghĩ là giải thưởng vừa được trao tặng cho Barack Obama có xứng đáng hay qúa sớm ?

Mikhail Gorbachev: Tôi đã có thư chúc mừng ông ta. Tôi bảo đó là một lựa chọn tốt, vì tôi càm thấy gần gủi vói viển kiến của ông ta về thế giới. Ông cần cương quyết, uy thế quốc tế và tài ba truyền đạt để khởi công. Tôi chúc ông ta thành công.

Le Figar Ông đã rút lui quân sĩ Nga ra khỏi Á Phú Hãn. Hai mươi năm sau, Barack Obam sắp sửa quyết định có hay không gừi thêm viện binh Mỷ tới xứ ấy. Ông sẽ khuyên ông ta cái gì?
Mikhail Gorbachev: Chúng tôi đã phải trải qua một giai đoạn tương tự như Obama đang gặp phải tại Á Phú Hãn. Chính chúng tôi đã san bằng chiến lược của chúng tôi và chính trị của chúng tôi. Tôi nghĩ rằng mục tiêu tối hậu của người Mỹ phải là rút lui quân lực. Nhưng tôi không khuyến cáo ông ta gì hết. Tất nhiên có lẽ đã không nên vào cuộc tại chỗ ấy. Trong lúc chúng tôi rút lui khỏi Á Phú Hãn, người Mỹ làm việc chung với các người Hồi (Pakistanais) để tạo ra các phần tử Talibans, tuy người Mỹ đã xác nhận với chúng tôi là muốn một đất nước «tự do và ổn định, thân thiện với hai quốc gia chúng tôi. Ngày nay, người Mỹ đang gặt hái kết qủa của việc ấy. Phần khác, tôi nhìn nhận là cần hành động chống các ổ khủng bố.

Le Figar Ông đứng đầu tổ chức Thánh Gía Xanh (Green Cross), một tổ chức phi chính phủ (NGO) có mục đích bảo vệ môi trừơng: Ông còn giữ niềm tin không, trước hội nghị quốc tế được dự tính vào tháng muới hai tại Copenhague về hâm nóng khí quyển?

Mikhail Gorbachev: Tôi cũng muốn tin rằng đó là một giai đoạn chính trong hướng đi đúng. Những công việc chuẩn bị vững chắc đã có. Các vấn đề môi trường đang bóp ngẹt chúng ta: chúng ta phải hành động để tránh một thảm họa, thoát khỏi tai biến. Nhiệt độ trung bình của địa cầu không đuợc tăng qúa 0.2%: dầu cho mục tiêu ấy khó đạt đuợc. Ngày từ bây giờ, các quốc gia phải lấy các biện pháp quyết định.

Nhân giải Nobel 2009 nghĩ về thu hút nhân tài

Nhân giải Nobel 2009 nghĩ về thu hút nhân tài
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn(Tiến sỹ y học – Việt kiều ở Úc – tác giả nhiều bài báo và tiểu luận khoa học trên nhiều media trong nước và nước ngoài)

Đêm hôm qua, trên đường đi Nagoya (Nhật) tôi mới biết qua tin tức trên máy bay là năm nay, hai nhà kinh tế học người Mĩ lại chiếm giải Nobel kinh tế. Nhìn qua danh sách những nhà khoa học chiếm các giải thưởng Nobel về y học, vật lí, hóa học, thậm chí hòa bình, tôi nghĩ giải thưởng này riết rồi trở thành một sự kiện mà nói theo tiếng Anh là “American Affair”!

Trong vài năm gần đây, giới quan sát quốc tế bàn về sự suy thoái của cường quốc Mĩ trên trường quốc tế, nhưng hình như người ta không nhắc đến một thực tế là Mĩ vẫn là cường quốc số 1 về khoa học. Trước sự xuất hiện của Trung Quốc như là một đế quốc mới trên trường quốc tế, giới quan sát bi quan (hay lạc quan?) cho rằng thời đại của đế quốc Mĩ sắp chấm dứt. Tuy trong tương lai gần, nước Mĩ có thể không còn giữ địa vị độc tôn về ảnh hưởng chính trị và sức mạnh quân sự, nhưng địa vị số 1 của Mĩ về khoa học và công nghệ thì Trung Quốc khó mà sánh kịp. Bằng chứng sinh động nhất là năm nay là trong số 10 nhà khoa học được trao giải Nobel (không kể giải thưởng về kinh tế và hòa bình), 8 người có quốc tịch Mĩ.

Xu hướng các nhà khoa học Mĩ đoạt giải Nobel càng ngày càng tăng chứ không giảm. Dựa vào dữ liệu của Ủy ban giải Nobel, tôi thấy trong suốt thế kỉ 20 và thập niên đầu thế kỉ 21 này, Mĩ và các nước phương Tây luân phiên nhau chiếm hầu hết các giải thưởng Nobel. Hơn 90% nhà khoa học được trao giải Nobel xuất phát từ 16 nước như sau (theo thứ tự): Mĩ, Anh, Đức, Pháp, Thụy Điển, Nga, Thụy Sĩ, Hòa Lan, Đan Mạch, Ý, Áo, Gia Nã Đại, Nhật, Na Uy, Úc và Bỉ. Tính từ 1901 đến nay (2009), trong số 816 người chiếm giải Nobel, 309 người (hay 38%) có quốc tịch Mĩ, kế đến là Anh (114 người hay 14%).

Trong những năm trước thế chiến thứ 2, Mĩ chỉ chiếm khoảng 15% trong tổng số 185 giải, thấp hơn Đức (20%) và chỉ tương đương với Anh (14%) và Pháp (13%). Tuy nhiên, sau Thế chiến thứ 2 (1946-1960), Mĩ đột nhiên nhảy lên địa vị số một, chiếm 45% các giải Nobel, hơn cả Anh (17%), Đức (6%) và Pháp (5%). Mĩ duy trì địa vị này vào những năm 1961 và 1980, trong khi các cường quốc khác không có gì thay đổi quan trọng. Nhưng trong thập niên 80s cho đến nay, số lượng giải Nobel được trao cho các nhà khoa học và văn thi sĩ người Mĩ lên đến 55%, trong khi đó cả ba nước Anh, Đức và Pháp chỉ chiếm 18%. Trong cùng thời gian này, các nước Bắc Âu, Nga, Ý, Thụy Sĩ và Hòa Lan càng ngày càng tụt hậu.

Phân tích theo lĩnh vực khoa học cho thấy Mĩ rõ ràng có thế mạnh về các ngành y học, vật lí và kinh tế học, nhưng lại không ở thế chủ lực về môn hóa học, và yếu về văn học. Tính từ 1969 (khi giải Nobel kinh tế học ra đời), Mĩ chiếm hơn 60% các giải thưởng về kinh tế học! Trong khoảng thời gian 1901 đến nay (ngoại trừ 1940-1942), gần phân nửa trong số các giải thưởng cho ngành y khoa và sinh lí học lọt về tay các nhà khoa học Mĩ hay làm việc ở Mĩ. Tương tự, 45% các giải về vật lí cũng được các nhà khoa học Mĩ thay nhau đoạt giảị Tuy nhiên, trong ngành hóa học, các nước như Anh, Đức và Pháp “thống trị”. Về văn học, các nướcAnh, Đức và đặc biệt là Pháp, đứng đầu. Các nhà văn và nhà thơ Pháp chiếm 13% các giải Nobel về văn chương, trong khi đó, Đức và Anh mỗi nước đoạt khoảng 7%, thấp hơn Mĩ (10%). Các nước Thụy điển, Nga, Thụy sĩ, Hoà Lan, Đan Mạch, và Ý cũng có phần tương đối (22%) trong các giải về văn học.

Không phải ngẫu nhiên mà Mĩ trở thành một cường quốc khoa học và là một “hãng” sản xuất những ông tú Nobel. Qua kinh nghiệm cá nhân, tôi nghĩ rằng Mĩ đạt được vị trí số 1 trong khoa học ngày hôm nay là do 3 lí do: tiền, tự do, và yếu tố thu hút nhân tài từ nước ngoài.

So với các nước giàu có phương Tây, Mĩ là nước đầu tư nhiều cho nghiên cứu khoa học và công nghệ. Nếu nói về số tiền mà Mĩ đầu tư vào nghiên cứu (hằng trăm tỉ USD) thì sẽ không có ý nghĩa gì mấy, vì Mĩ đông dân và giàu có hơn các nước ở Âu châu. Tôi thấy ở Mĩ, ngoài các cơ quan Nhà nước ra, các công ti kí nghệ và nhiều nhóm từ thiện cũng rất rộng rãi trong việc tài trợ cho nghiên cứu khoa học. Trong khi đó, ở các nước như Úc, nguồn tài trợ cho nghiên cứu khoa học chủ yếu từ Nhà nước, còn giới kĩ nghệ thì phải nói thẳng là họ rất ích kỉ, chỉ lo kiếm tiền chứ không lo đầu tư vào nghiên cứu. Ở Mĩ, khi tôi mới nhận nhiệm vụ vào thập niên 1990s, tôi đã được ngay một tài trợ ‘‘khởi động”, tức là trường đại học cấp cho tôi một số tiền để lập nhóm nghiên cứu. Sau đó, tôi có thể xin tài trợ từ các tổ chức như, tuy phải cạnh tranh, nhưng xác suất thành công vẫn cao hơn NHMRC của Úc. Số tiền mà Mĩ tài trợ cũng cao hơn so với ở Úc. Chẳng hạn như ở Úc, một công trình nghiên cứu y khoa được tài trợ khoảng 150,000 AUD một năm, trong khi đó ở Mĩ con số này gần gấp đôi Úc.

Một điều khác nữa là triết lí đầu tư vào khoa học. Tôi thấy ở Úc, người ta nhấn mạnh đến chất lượng (đồng tiền Nhà nước bỏ ra phải xứng đáng với bát gạo), và vì thế cơ quan tài trợ đòi hỏi phải có nghiên cứu chất lượng cao thể hiện qua các đo lường như chỉ số H và hệ số impact factor. Còn ở Mĩ tôi thấy họ nhắm đến những đề tài mang tính đột phá cần thời gian dài, và do đó, nhà khoa học không chịu áp lực nặng nề như ở Úc. Người Mĩ có xu hướng làm nghiên cứu đột phá, tiền phong, hơn là theo đuổi những nghiên cứu sản xuất ra những tri thức mang tính bổ sung và nâng cấp. Nói cách khác, nhà khoa học Mĩ có tự do theo đuổi những ý tưởng có thể không “thời thượng” một thời gian lâu dài mà không sợ bị bỏ rơi, trong khi đó ở các nước khác như Úc nhà nghiên cứu phải chạy theo những đề tài thời thượng.

Mĩ đã từng nổi tiếng là một “melting pot” và cho đến bây giờ vẫn xứng đáng với ví von đó. Vào thập niên 1940s đến 1970s, hơn 1/3 các nhà khoa học Mĩ chiếm giải Nobel di dân từ Âu châu, đặc biệt là Đức và Đông Âu (chủ yếu là người gốc Do Thái). Năm nay, trong số 9 người Mĩ được trao giải Nobel năm nay, có đến 5 người là di dân từ nước ngoài: Elizabeth Blackburn (giải Nobel y học, gốc Úc), Jack Szostak (y học, gốc Anh), Charles Kao (vật lí, gốc Trung Quốc), Venkatraman Ramakrishman (vật lí, gốc Ấn Độ), và Ada Yonath (vật lí, gốc Do Thái). Báo chí Úc ca ngợi giáo sư Elizabeth Blackburn như là một người Úc chiếm giải Nobel y học, nhưng điều này không hẳn đúng, vì công trình mà giáo sư Blackburn chiếm giải Nobel là do Mĩ tài trợ và thực hiện ở Mĩ sau năm 1975 khi bà định cư ở Mĩ; Úc không có gì để nói là công trình đó của Úc cả. Tôi nghĩ giáo sư Blackburn nói rất chính xác là Mĩ là nơi lí tưởng để làm khoa học.

Nói chung sự hiện diện của người Á châu trong các giải thưởng Nobel còn rất ư là khiêm tốn. Trong ba quốc gia có người đã từng đoạt các giải này, Nhật có số lượng hùng hậu nhất, kế đến là Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan. Tuy nhiên, hầu hết những nhà khoa học này thường làm việc ở Mĩ hay Âu châu. Chẳng hạn như 2 nhà vật lí đoạt giải Nobel (1957) người gốc Trung Quốc là Tsungdao Lee và Chen Ning Yang là người của trường Đại học Princeton (Lee) và Columbia (Yang). Bốn vị mang quốc tịch Ấn Độ từng đoạt giải Nobel là Venkatraman Ramakrishman (vật lí, 2009), Amartya Sen (kinh tế, 1998), Chandrasekhara V. Raman (vật lí, 1930), và thi hào Sir Rabindranath Tagore (văn học, 1913). Ngoại trừ thi hào Tagore, các giáo sư Sen và Raman đều được giải nhờ vào các công trình nghiên cứu ở Anh và Mĩ.

Việt Nam ta chưa có ai được tặng giải Nobel trong các ngành khoa học hay văn chương. Với tình hình hiện nay và kinh nghiệm trong quá khứ, tôi nghĩ chúng ta không nên mơ mộng (chứ chưa nói đến mục tiêu) đến giải thưởng này. Tôi nghĩ nền khoa học của Việt Nam (nếu có cái gọi là “nền khoa học”) xuất phát từ một điểm quá thấp, gần với con số không. Do vậy, ưu tiên trước mắt là xây dựng từ nền móng, từ cái căn bản nhất trong hoạt động khoa học. Đó là hệ thống tổ chức gọn nhẹ, tài trợ cho nghiên cứu sao cho công bằng, nuôi dưỡng nhân tài, và nhất là tạo ra được một văn hóa khoa học. Kinh nghiệm của tôi ở trong nước cho thấy ở nhiều nơi vẫn chưa có cái văn hóa khoa học! Nói đến thu hút nhân tài, tôi chợt nhớ đến mấy năm gần đây, Nhà nước nói nhiều đến việc thu hút nhân tài, chuyên gia Việt kiều, này nọ, v.v. nhưng hình như chỉ nói cho có nói thôi, chứ trong thực tế thì chưa có một phương án nào để thực hiện ý định đó cả. Chẳng có bao nhiêu Việt kiều dám dấn thân về nước làm việc lâu dài. Đụng đến cái hệ thống “hành là chính” thì bị dội ngay từ giây phút đầu rồi, nói gì đến chuyện khác xa xôi.

Thực ra, quan niệm trọng người tài đã được tiền nhân ta đề cập hơn 600 năm về trước; họ đã từng khắc trên bia một câu văn tâm huyết “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu.” Cách đây không lâu, một nhà khoa bảng trong nước có viết một bài về tình trạng giáo dục ở Việt Nam, mà tôi xin trích ra đây một đoạn để làm đoạn kết cho bài viết này: “Thời đại này, dân tộc nào không huy động được tiềm năng trí tuệ của bản thân ắt phải lệ thuộc vào trí tuệ kẻ khác và sẽ dễ dàng bị nhận chìm trong trào lưu toàn cầu hóa kinh tế đi đôi với cạnh tranh ác liệt là xu thế không đảo ngược của thế kì tới. Trong cuộc chiến để giành chỗ đứng xứng đáng với tầm vóc dân tộc trong một thế giới như vậy, chỉ có một chiến lược khả dĩ thành công, đó là dựa vào trí tuệ và tài năng để khắc phục những yếu kém khác.” Đây cũng là một lời cảnh cáo cho những ai còn quan tâm tới vận mệnh của Việt Nam trong thế kỉ 21.

N.V.T.
Nguồn: http://tuanvannguyen.blogspot.com/2009/10/nhan-giai-nobel-2009-nghi-ve-thu-hut.html

“Do những cuốn sách đã được chọn”

Văn sỹ Nobel 2009 - Herta Muller

Văn sỹ Nobel 2009 - Herta Muller

Herta Müller – Tôi hiện hoàn toàn bình thản
Mạnh Cường Vũ dịch
Lời người dịch: Bài phỏng vấn này nhan đề “Ich bin jetzt ganz stoisch” của báo Süddeutsche Zeitung ngày 9/10/2009. Đây là một trong số những phỏng vấn hiếm hoi bà Herta Müller đồng ý thực hiện sau khi được tin về Giải thưởng Nobel Văn học 2009.

_____________
Bà có ngạc nhiên về giải thưởng không?
Herta Müller: Vâng, rất ngạc nhiên. Tôi luôn nghĩ người ta phải đợi cả đời. Tôi đã loại trừ khả năng rằng mình được chọn lựa [sớm] như thế này. Nhưng mà không phải tôi đã được chọn, mà là những cuốn sách. Trong CD truyện kể mới phát hành gần đây về thời thơ ấu của bà ở Banat (Rumani) có một từ liên tục vang lên: Bị đánh mất.

Nhà văn Đức Herta Müller
Herta Müller: Vâng, tôi thường cảm thấy như thế khi còn là một đứa trẻ, đêm đêm hy vọng rằng ngày mai không phải ra đồng. Và tôi gần như không biết tôi ra sao. Ban ngày khi cùng đàn bò ở ngoài thung lũng tôi luôn nghĩ rằng mình sẽ bị xé xác đến nơi. Cả phong cảnh nữa, tôi luôn có cảm tưởng rằng nó quật ngã người ta. Điều này liên quan đến những cánh đồng hợp tác xã rộng lớn không bờ, nơi người ta ở cả ngày ngoài đó. Nhiều ngày liền người ta có thể cứ bẻ bắp hay đốn ngô liên tục mãi. Tôi luôn không thể hiểu nổi, cho dù tôi không biết điều gì khác, tại sao người ta lại hiến dâng một cách vô điều kiện trong cái phong cảnh ấy. Cũng đúng thôi, họ có thể làm gì khác đâu. Mẹ tôi luôn làm trên đồng. Tôi tin là mẹ tôi chưa bao giờ nghĩ đến điều này. Đêm nào tôi cũng cầu nguyện trời mưa. Để người ta đỡ phải ra khỏi nhà.
Hội đồng xét Giải Nobel đã tôn vinh bà như một nhà văn “vẽ phong cảnh của sự tha hương”. Bà có cảm thấy mình được hiểu đúng không?
Herta Müller: Vâng, tôi tin rằng không có chốn nào đương nhiên cho ta cảm giác thuộc về nơi đó cả. Đồng hương đã loại trừ tôi, ngay sau cuốn Niederungen (Đất trũng) vào đầu những năm 80, sau đó là cả quá trình rắc rối với mật vụ và độc tài. Rồi tôi đến Đức, nơi tất nhiên không phải là một quê hương. Tôi sống ở đây, nhưng nơi đây không phải là nơi tôi có thể cảm thấy là nhà, bởi tôi không xuất thân từ đây, tôi không thuộc về nơi đây. Semprun đã nói rằng: “Không phải ngôn ngữ mà điều được nói ra mới là quê hương.” Và như thế, với những gì được nói về tôi ở nơi lẽ ra có thể gọi là quê hương, cho thấy rõ ràng nhất rằng nơi đó không phải. Và điều này càng đau xót hơn khi người ta lẽ ra thuộc về nơi đó nhưng lại không thể.
Bà muốn nói rằng mình đã hoàn toàn mất quê hương rồi?
Herta Müller: Tôi không biết. Điều này cũng chưa từng bao giờ làm tôi phải suy nghĩ cả. Nó tự nhiên là như thế. Tất nhiên tôi đã vui sướng từng ngày sau khi rời khỏi Rumani. Bởi tôi biết rằng, khi đến Đức, là tôi đã đạt nguyện vọng rồi. Tôi thoát ra khỏi cái tình trạng đó, cái chế độ độc tài đó. Sau này tôi đã không màng đến chuyện này nhiều nữa, không suy nghĩ mang nặng tình cảm, tôi biết rằng, tại sao tôi lại ra đi. Tất cả đều có lý do của nó và về sau này tôi cũng không cho rằng, ngay cả diễn giải với riêng tôi thôi, dường như đó là một bất hạnh. Tôi ra đi được là một may mắn. Tôi đã ra đi quá muộn, bởi vì tôi đã bị bầm dập quá lâu. Điều đó mới là vấn đề, chứ không phải chuyện tôi ra đi. Ơn trời là còn có một nước khác, nơi người ta có thể đến và tôi có thể hòa được cùng ngôn ngữ. May mắn này không phải người ra đi nào cũng có được.
Cuốn sách mới nhất của bà [Atemschaukel - Xích đu hơi thở] cũng kể về một câu chuyện nhiều tuổi đời hơn bà và bắt đầu trước khi bà sinh ra. Nó cũng nói về người bạn của bà, ông Oskar Pastior.
Herta Müller: Giá như Oskar bây giờ biết được điều này. Trong bất cứ chuyện gì tôi làm lúc này, mỗi khi tôi cùng cuốn sách đến đâu đó, là tôi lại có ý nghĩ: giá như ông ấy còn được sống lúc này.
Bà có nghĩ rằng Giải Nobel có thể thay đổi vị trí của bà ở Rumani hay liên quan đến mức độ ảnh hưởng của bà ở Rumani hay không?
Herta Müller: Tôi không chắc, nhưng tôi không được ưa lắm ở Rumani, may ra những cuốn sách thôi, vì tôi vẫn nói một số điều người ta phải nói ra về Rumani.
Ví dụ như?
Herta Müller: Rằng không hề có dân chủ và rằng tham nhũng tràn lan, rằng lực lượng mật vụ mới chỉ kế thừa lực lượng cũ hay chỉ có một phần nhỏ là mới, vì họ tự nhận là có 40% nhân viên cũ chuyển sang, rằng tham nhũng ở khắp nơi, bởi bộ máy chính quyền hồi xưa giờ đã chia nhau đất và bây giờ tất cả trở thành của tư. Họ quen nhau và phục vụ lẫn nhau. Thông qua đó tất cả lại trở nên bền vững đến mức tôi không thể tưởng tượng làm sao điều này có thể thay đổi được.
Bây giờ nó đã ổn định lại rồi và thành một tình trạng bền chặt. Người Rumani không thích nghe điều này. Và rằng đó chẳng phải cuộc cách mạng gì cả, người ta cũng không muốn nghe ở Rumani. Rồi còn luôn có những nhắn gửi là tôi giờ chẳng còn hiểu gì thế sự nữa và tôi nên câm miệng thì hơn. Người ta không nên làm xấu đi hình ảnh đất nước và tôi dường như đang làm chính điều đó. Ở đây tại Đức những người hiểu biết, những trí thức có một định nghĩa khác về quê hương so với tại Rumani.
Ở đây [tại Đức] quê hương cũng luôn là thứ mà người ta không thể chịu đựng được và là thứ không buông tha người ta. Nhưng ở Rumani người ta chỉ muốn một thứ thôi. Người Đức thiểu số thì luôn thế, họ muốn văn học quê hương, ngay cả khi họ sống ở đây [tại Đức]. Càng sống lâu ở đây, cái cơ chế cũ lại càng quan trọng, cái đã trải qua lại càng được tán dương. Tất cả những gì đã diễn ra đều đẹp cả. Từ một khoảng cách thì tất cả mọi thứ được tô màu hồng.
Bà có một thần tượng văn học nào không?
Herta Müller: Không. Tôi đánh giá cao nhiều tác giả. Những tác giả tôi quan tâm tất nhiên luôn là những người đã và đang không thoát khỏi đề tài của họ, những người không tự chọn cho mình một đề tài. Tôi cũng ở trong một tình huống tương tự. Tất nhiên xuất phát điểm sẽ khác nhau nếu người ta suy tư rằng mình có thể viết về cái gì bây giờ hay người ta mang theo những đau thương và chúng là lý do duy nhất tại sao người ta lại viết. Nếu người ta suy tư, nếu những niềm đau này không hề có, tôi đã chẳng phải làm gì, tôi đã chẳng phải viết. Tất nhiên tôi tôn trọng những tác giả như thế, nhà văn lớn Alexandar Tisma là một ví dụ, hay Thomas Bernhard, người với thẩm mỹ không khoan nhượng đã luôn là một tấm gương cho tôi, cho dù tôi viết hoàn toàn khác, câu không dài.
Bà có những dự án văn học mới nào chưa?
Herta Müller: Điều này hiện tôi còn chưa biết. Tôi vẫn chưa thực sự cảm nhận được điều gì đang xảy ra. Tôi như bị tắt đèn. Dường như có một chiếc la bàn trong đầu, một mũi kim đang chặn lại cái gì đó. Tôi dù biết, nhưng nó im lặng. Theo cảm nhận thì nó chưa nói gì. Nếu tình trạng này tiếp tục cũng có thể làm choáng váng người ta. Tôi không muốn bị choáng. Tôi hiện hoàn toàn bình thản, có phải là tôi đâu, mà là những cuốn sách. Người ta phải sắp xếp lại mọi thứ. Nhưng tôi tin rằng, sẽ ổn thôi.
Mặc dù thế chúng tôi vẫn chúc mừng bà.
Herta Müller: Cảm ơn.
Nguyên bản tiếng Đức: “Ich bin jetzt ganz stoisch“, Süddeutsche Zeitung 9/10/2009
Bản tiếng Việt © 2009 Mạnh Cường Vũ

Tham vọng của truyện ngắn

Doc1Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn,
vừa dịch vừa nhớ đến Guy de Maupassant, Edgar Allan Poe,
O. Henry, J.L. Borges, Donald Barthelme, Raymond Carver và…
nhiều quá… ôi, vâng, Julio Cortázar…

STEVEN MILLHAUSER
(1943~)

Steven Millhauser là tác giả của 4 cuốn tiểu thuyết và 7 tập truyện ngắn. Ông đoạt giải Médicis Étranger của Pháp cho tiểu thuyết ngoại quốc hay nhất năm 1975, cuốn Edwin Mullhouse: The Life and Death of an American Writer, 1943-1954, by Jeffrey Cartwright (đây là cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông), và giải Pulitzer 1997 cho tiểu thuyết Martin Dressler: The Tale of an American Dreamer. Ông còn được Lannan Foundation trao tặng Lannan Literary Award for Fiction năm 1994, được American Academy and Institute of Arts and Letters trao tặng Award in Literature năm 1987.

Ngoài hai cuốn tiểu thuyết kể trên, ông đã xuất bản hai cuốn nổi tiếng khác là Portrait of a Romantic (1977), và From the Realm of Morpheus (1986). Các tập truyện ngắn của ông gồm có: In the Penny Arcade (1986), The Barnum Museum (1990), Little Kingdoms (1993), The Knife Thrower (1998), Enchanted Night (1999), The King in the Tree (2003) và Dangerous Laughter: Thirteen Stories (2008).

Tập truyện ngắn Dangerous Laughter: Thirteen Stories được ban biên tập New York Times Book Review chọn vào danh sách “10 Cuốn Sách hay Nhất năm 2008”. Truyện ngắn “Eisenheim The Illusionist” đã được dựng nhà đạo diễn Neil Burger dựng thành phim The Illusionist vào năm 2006.

Ngoài công việc sáng tác văn chương, Steven Millhauser là Giáo Sư Văn Chương Anh tại Skidmore College ở Saratoga Springs, New York.

Là một tác giả thành công cả về tiểu thuyết và truyện ngắn, Steven Millhauser cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc từ kinh nghiệm sáng tác của chính ông trong cả hai thể loại này. Điều thú vị nhất là, mặc dầu đã đoạt những giải thưởng lớn cho tiểu thuyết, Steven Millhauser vẫn nhìn thấy truyện ngắn như một thể loại văn chương hoàn hảo hơn và có nội hàm rộng lớn hơn tiểu thuyết.

THAM VỌNG CỦA TRUYỆN NGẮN

Truyện ngắn — cử chỉ của nó khiêm tốn làm sao! Phong thái của nó dung dị biết mấy! Nó ngồi lặng lẽ ở đó, mắt nhìn xuống, hầu như cố gắng không để bị người ta chú ý đến. Và nếu lỡ vô tình mà bạn để ý đến nó, thì nó nói ngay, với một giọng can đảm nhưng nhỏ nhẹ và tự hạ mình, khiến cho người nghe phải thất vọng: “Tôi không phải là một cuốn tiểu thuyết, ngài biết đấy chứ. Thậm chí không phải là một cuốn tiểu thuyết ngắn. Nếu đó là cái mà ngài đang tìm kiếm, thì ngài không cần tôi đâu.”
Thật hiếm có một thể loại nào mà lại lấn át một thể loại khác đến mức ấy. Và chúng ta hiểu, chúng ta gật gù một cách hiểu biết: ở xứ Mỹ này, kích thước là quyền lực. Tiểu thuyết là cái đại siêu thị Wal-Mart, là anh chàng Incredible Hulk gân bắp to kềnh, là chiếc máy bay phản lực cơ khổng lồ của văn chương. Tiểu thuyết thì ham hố vô độ — nó muốn ngốn luôn cả thế giới. Vậy thì còn sót lại việc gì cho truyện ngắn? Thì nó có thể chăm sóc vườn tược, tập thiền, tưới những cây phong lữ thảo trên thành cửa sổ. Nó có thể đi học một khoá sáng tác tuỳ bút phi hư cấu. Nó có thể làm bất cứ thứ gì nó thích, miễn là nó đừng quên cái vị trí của nó — miễn là nó giữ im lặng và đừng làm vướng chân kẻ khác. “À há!” tiểu thuyết kêu lên. “Ôi, ngài!” Truyện ngắn luôn luôn nép mình xuống, tìm chỗ nấp. Tiểu thuyết mua cả vùng đất rộng, chặt hết cây cối, xây lên những khu cao ốc đồng cư. Truyện ngắn rón rén chạy vụt qua sân cỏ, chui xuống dưới hàng rào.
Tất nhiên có những phẩm tính tốt lành gắn liền với sự nhỏ bé. Ngay cả tiểu thuyết cũng phải công nhận như vậy. Những thứ to lớn thì thường cồng kềng, vụng về, thô tháp; cái nhỏ bé thì thuộc về lĩnh vực của sự tao nhã và duyên dáng. Đó cũng là lĩnh vực của sự hoàn hảo. Bản chất của tiểu thuyết thì nhắm đến sự thấu đáo; nhưng thế giới thì bất khả thấu đáo; do đó, tiểu thuyết, dù có dốc hết sức theo kiểu Faust sẵn sàng bán linh hồn cho quỷ sứ, vẫn không bao giờ đạt được khát vọng của nó. Truyện ngắn, trái lại, tự thân nó đã mang tính tinh tuyển. Bằng cách loại trừ hầu hết mọi sự, nó có thể làm cho những gì còn lại trở nên hoàn hảo. Và truyện ngắn có thể thậm chí đạt được một sự trọn vẹn mà tiểu thuyết không chạm đến được — sau cái hành động loại trừ triệt để ngay từ bước đầu, truyện ngắn có thể bao gồm tất cả những gì nhỏ bé còn lại. Tiểu thuyết, thảng hoặc nó có sực nhớ đến truyện ngắn, thì cũng tỏ ra vui vẻ rộng lượng. “Tôi ngưỡng mộ cậu đấy chứ,” nó vừa nói vừa đặt bàn tay to tướng thô nhám lên trái tim của nó. “Không đùa đâu. Cậu rất là — cậu rất là —” Rất là đẹp đẽ! Rất là trang nhã! Rất là cao cấp! Và thông minh nữa. Tiểu thuyết khó mà dằn lòng để chẳng nói ra. Nhưng rốt cuộc, tình hình có gì khác đâu nào? Đó chỉ là nói suông thế thôi. Điều mà tiểu thuyết quan tâm là sự to tát, là quyền lực. Tận trong thâm tâm, nó khinh thường truyện ngắn, cái loại tri túc tiện túc nhờ quá ít của cải ấy. Đối với tiểu thuyết, những phẩm tính của truyện ngắn — sự khổ hạnh, sự khắc phục lòng tham, sự chối từ và buông bỏ sở hữu — thì chẳng ích dụng gì cả. Tiểu thuyết muốn chiếm hữu mọi thứ. Nó muốn chiếm hữu lãnh thổ. Nó muốn chiếm hữu thế giới. Sự hoàn hảo là món quà an ủi cho những kẻ chẳng còn gì khác.
Đối với truyện ngắn thì chừng đó là quá nhiều rồi. Với vẻ khiêm tốn ở bề ngoài, vẻ tự hào một cách rụt rè về những phẩm tính nho nhỏ của mình, vẻ lo lắng thấp thoáng trong mối quan hệ với kẻ đối thủ cộc cằn, nó tự hài lòng ngồi lui ra và để cho tiểu thuyết giằng co với thế giới. Và tuy nhiên, và tuy nhiên. Cái dáng khiêm tốn ấy — tôi có nhầm lẫn không, hay quả thật là nó hơi làm dáng quá trớn đấy nhỉ? Những cái liếc-mắt-xa-xăm ấy — phải chăng chúng chứa đựng một chút tinh quái? Có lẽ nào cái truyện ngắn nhỏ bé như vậy mà lại dám có những tham vọng của riêng nó? Nếu có, thì nó sẽ không bao giờ thừa nhận công khai cả, vì cái bản năng sắc sảo cho sự tự vệ, một thói quen gìn giữ bí mật cố hữu sinh ra dưới sự áp bức. Trong một thế giới bị thống trị bởi những cuốn tiểu thuyết kiêu căng khệnh khạng, cái nhỏ bé đã học hỏi được lối ăn ở cẩn trọng. Ta phải dùng bản năng để khám phá cái bí mật của nó. Tôi tưởng tượng truyện ngắn cưu mang một điều ước. Tôi tưởng tượng truyện ngắn nói với tiểu thuyết: “Ngài có thể chiếm hữu mọi thứ — tất cả — còn tôi thì chỉ xin một hạt cát mà thôi.” Tiểu thuyết, với một cái nhún vai bất cẩn, một cái nhún vai vừa khoái trá vừa khinh thường, bố thí ngay cái điều ước ấy.
Nhưng chính hạt cát lại là lối thoát của truyện ngắn. Chính hạt cát lại là sự cứu rỗi của truyện ngắn. Tôi khai triển ý này từ William Blake: “Để trông thấy một thế giới trong một hạt cát.” Hãy suy nghĩ về điều ấy: thế giới trong một hạt cát; nghĩa là, mỗi một phần của thế giới, dù nhỏ bé đến chừng nào, đều chứa đựng toàn thể thế giới. Hay nói một cách khác: nếu bạn tập trung chú ý vào một phần nào đó hết sức nhỏ nhặt của thế giới, bạn sẽ tìm thấy, sâu trong lòng nó, cả một thế giới trọn vẹn. Trong một hạt cát có một bãi biển trải dài chứa đựng chính hạt cát ấy. Trong một hạt cát có cả một đại dương vỗ sóng lên bãi biển, có con thuyền giong buồm trên đại dương, có mặt trời toả nắng lên con thuyền, có những cơn gió liên hành tinh, có một muỗng khuấy trà ở Kansas, có cả cấu trúc của vũ trụ. Và ở đó bạn nắm bắt được cái tham vọng của truyện ngắn, cái tham vọng ghê gớm nằm đằng sau vẻ khiêm tốn giả vờ của nó: nó muốn tạo ra hình hài cho cả thế giới này. Truyện ngắn tin vào sự chuyển hoá. Nó tin vào những quyền năng tàng ẩn. Tiểu thuyết ưa thích những thứ bày ra rõ ràng trước mắt. Nó không có kiên nhẫn với từng hạt cát riêng lẻ, lấp lánh nhưng khó thấy. Tiểu thuyết muốn lùa hết mọi thứ vào trong vòng tay mạnh mẽ của nó — cả những bờ biển, những núi non, những lục địa. Nhưng nó không bao giờ có thể thành công, vì thế giới rộng lớn hơn một cuốn tiểu thuyết, thế giới đổ túa ra ngoài từ mọi điểm. Tiểu thuyết nhảy không ngừng từ chỗ này đến chỗ kia, luôn luôn đói khát, luôn luôn bất mãn, luôn luôn lo sợ phải đến hồi kết thúc — bởi vì khi nó dừng lại, kiệt sức nhưng không bao giờ yên tâm, thì thế giới đã chạy thoát khỏi nó mất rồi.
Truyện ngắn tập trung vào hạt cát của nó, với niềm tin mãnh liệt rằng ở đó — ngay ở đó, trong lòng bàn tay của nó — có cả vũ trụ. Nó tìm hiểu hạt cát ấy như một người tình tìm hiểu gương mặt người yêu của mình. Nó tìm kiếm cái khoảnh khắc khi hạt cát tự khai mở bản lai diện mục. Trong cái khoảnh khắc bội trương bí ẩn ấy, khi đoá hoa đại vũ trụ bừng nở từ hạt giống tiểu vũ trụ, truyện ngắn cảm nhận được quyền năng của nó. Nó trở nên rộng lớn hơn chính nó. Nó trở nên rộng lớn hơn tiểu thuyết. Nó trở nên rộng lớn như cả vũ trụ. Ngay trong đó chứa đựng sự tự mãn của truyện ngắn, sự hung hãn bí mật của nó. Phương pháp của nó là sự khai mở. Vẻ nhỏ bé của nó là phương tiện cho quyền năng của nó. Cái khối kềnh càng của tiểu thuyết chê bai truyện ngắn như một hình ảnh đáng nực cười của sự yếu đuối. Truyện ngắn chẳng cần biện bạch gì cả. Nó khoái trá như kẻ khải thắng trong sự ngắn gọn của nó. Nó còn muốn ngắn gọn hơn nữa. Nó muốn trở thành chỉ một chữ. Giá như nó có thể tìm thấy chữ ấy, giá như nó có thể thốt lên cái âm tiết ấy, toàn thể vũ trụ sẽ bùng vỡ ra từ nó với một tiếng gào. Đó là cái tham vọng ghê gớm của truyện ngắn, đó là cái niềm tin sâu thẳm nhất của nó, đó là sự vĩ đại của sự nhỏ bé của nó.

———-
Dịch từ nguyên tác tiếng Anh, “The Ambition of the Short Story”, của Steven Millhauser, đăng trên The New York Times (October 5, 2008).

Bí ẩn mộ hang ở Sơn la

Bên một mộ táng trong hang

Bên một mộ táng trong hang

Bí Ẩn Một Vùng Đất Không Có Nghĩa Địa Ở Sơn La.

24H.com.vn
Nguồn: ANTG
15-09-2009
Hình: Quan tài làm bằng thân cây gỗ đinh treo trong hang đá bên sườn núi. Người địa phương gơi là động hang ma.

Trong chuyến công tác tại Sơn La, điểm dừng chân đầu tiên của chúng tôi là ở cao nguyên Mộc Châu xinh đẹp. “Ám ảnh” bởi câu nói “Gái Mường Tè, chè Tô Múa” (đại ý con gái Mường Tè rất xinh đẹp và chè Tô Múa rất ngon), chúng tôi mượn một chiếc xe máy khảo sát các xã vùng sâu của huyện.

Thật bất ngờ, chuyến đi đã trở thành một cuộc du khảo vô cùng thú vị. Đặc biệt, chúng tôi đã được chứng kiến một trong những bí ẩn về văn hóa mà cho tới giờ vẫn chưa có câu giải thích thỏa đáng. Đó là hệ thống những động hang ma ở các xã Mường Sang, Tô Múa, Suối Bàng…

Nơi không có… nghĩa địa

Anh Mùi Văn Thanh – người Thái, cán bộ huyện Mộc Châu chỉ đường, để đến các động “hang ma” có hai cách. Một là thuê thuyền men theo sông Đà từ Hòa Bình lên Sơn La. Tới gần bến đò Lồi, xã Suối Bàng sẽ thấy hai bên vách đá có những hang động sừng sững và những khu mộ thuyền cheo leo trên vách đá. Còn nếu đi đường bộ thì cứ theo Tỉnh lộ 101 đến trung tâm xã Tô Múa rồi “tụt dốc” theo con đường đất khoảng 18 km mới đến Suối Bàng. Từ trung tâm xã tới hang động gần nhất là khoảng 4 km.

Không hổ danh là cung đường “vừa đi vừa múa”, chúng tôi phải trầy trật ngã lên ngã xuống vài chục lượt mới vượt qua được con đường vừa trơn vừa gồ ghề, quanh co, liên tục cua tay áo, mặt đường lổn nhổn đá núi để vào trung tâm xã Tô Múa.

Từ đây vào tiếp Suối Bàng đường có đỡ hơn một chút. Khởi hành từ trưa, song cũng phải đến khi mặt trời khuất núi chúng tôi mới tới được Ủy ban xã.

Thật may mắn, Chủ tịch xã Mùi Văn Chời tiếp đón chúng tôi rất nồng hậu. Trong bữa cơm thân mật, cụ Mùi Văn Khương, năm nay đã hơn 70 tuổi, ở bản Khoang Tuống, xã Suối Bàng cho biết, ngày xưa khu vực này khách đến đây không bao giờ thấy nghĩa địa bởi vì đó là vì tập tục người chết sẽ được an táng vào các quan tài bằng nguyên một cây gỗ đã được đục rỗng ruột rồi bằng cách nào đó mà… treo lên các vách đá. Hầu như bản nào của Suối Bàng cũng có các động hang ma và các quan tài bằng gỗ ở trên đó cả.

Thâm nhập động hang ma

Nghe chúng tôi đề đạt nguyện vọng được tìm hiểu các động hang ma, Chủ tịch Chời sau một hồi ngẫm nghĩ, rồi gật đầu: “Tôi cũng có ý định khảo sát những động ấy từ lâu mà chưa có dịp. Các anh nên nghỉ sớm để mai lấy sức mà đi”.

Tờ mờ sáng hôm sau, chúng tôi vừa mở mắt đã thấy Chủ tịch Chời nai nịt gọn gàng. Ông còn mang thêm gần chục dân quân đeo bi đông nước và balô đựng thức ăn như xôi, gà cùng cả chăn, bạt… Chủ tịch Chời bảo, đỉnh Củm Tây cao gần 1.000m. Ngay cả những tiều phu lão luyện nhất cũng chưa mấy ai lên tới đỉnh. Cho nên phải chuẩn bị kỹ càng, phòng khi phải ngủ lại giữa rừng.

Cũng may do có thâm niên leo đường rừng, nên chúng tôi cũng không đến nỗi bị bỏ quá xa. Đường lên đỉnh Củm Tây dốc cực kỳ, có nơi gần như phải áp mặt vào vách đá và rướn người lên từng mét một. Chỉ vừa qua khỏi con dốc thứ nhất mà ai cũng muốn đứt hơi. Hết bám vào những vách đá leo lên lại chui vào những quãng rừng rậm rạp chằng chịt dây leo rất khó đi, người đi trước phải kéo người đi sau, từng bước một mà vượt lên.

Có những đoạn dốc dài đến nỗi, ngay cả các dân quân sau khi leo được chừng một nửa cũng phải… nghỉ giữa hiệp. Chừng 1-2 phút để lấy lại sức, chúng tôi lại cắn răng leo tiếp.

Cuối cùng thì “động ma” lớn nhất Suối Bàng cũng hiện ra trước mắt. Cửa hang ở độ cao khoảng 700m, nơi được cho là còn cất giữ nhiều mộ thuyền nhất. Người dân địa phương gọi đây là hang ma Khoang Tuống II. Hang mái đá hình vòm ếch, thoáng rộng, sâu vào chỉ khoảng từ 3 đến 4m, chiều dài khoảng 16m, tạo thành mái vòm nhiều nấc, đỉnh vòm cao nhất khoảng 20-25m, còn chỗ kê quan tài có mái cao chỉ khoảng vài ba mét, mưa rừng không thể hắt đến nơi đặt mộ thuyền.

Theo lời của các dân quân cùng đi thì những quan tài hình thuyền này trước đây hầu hết được kê gác lên các mỏm đá nhô sát với trần hang, phía dưới có những đoạn cột chống, đầu đẽo chạc, hoặc giá đỡ từng chiếc quan tài một cách chắc chắn. Nhưng có thể do thời gian, động đất, lở đá mà tệ hại nhất là những kẻ “mộ tặc” đã đến nơi này săn tìm báu vật và đang tâm quăng những chiếc quan tài treo này xuống nền hang. Nhiều mộ thuyền đã bị vỡ thành nhiều mảnh, phía trong lòng mộ thuyền có nhiều vỏ ốc núi, lá rừng khô… Do ở chót vót trên đỉnh núi nên nhiều chiếc quan tài còn gần như nguyên vẹn. Đích thân Bí thư Thu và Chủ tịch Chời đứng ra làm nghi thức xin phép tiền nhân khuất mặt cho chúng tôi vào động với nhang đèn, bánh trái và những lời khấn vái thành kính.

Cố gắng dẹp bớt nỗi sợ hãi, tôi gồng mình lật một cỗ quan tài lên để… xem bên trong có gì. Một chiếc chiều dài khoảng 1,7m, rộng chừng 0,45m, lòng rộng 0,30m nghĩa là thi thể người chết sẽ được “yên giấc” trong khối gỗ dày tới 15mm! Bên cạnh có chiếc quan tài bé hơn dài 1,2 m, lòng rộng 0,30m. Tất thảy những quan tài trên đều được làm từ gỗ đinh thối. Đây là loại gỗ quý có độ bền cao. Quan tài được trang trí những hoa văn họa tiết rất cầu kỳ và hai đầu đều được đục hình đuôi én. Trong lòng quan tài, phần đặt đầu người chết được khoét hình lòng bát.

Sở dĩ những quan tài này được gọi là mộ thuyền bởi chúng đều được tạo từ một thân gỗ nguyên cây. Những người thợ đã xẻ dọc thân một cây gỗ có đường kính tầm hơn 1m rồi dùng đục khoét sâu vào mỗi bên chừng 0,30mm. Mỗi nửa này có thể trở thành một thân thuyền độc mộc.

Tại động Khoang Tuống II còn 18 bộ quan tài gỗ nằm vất vưởng, chồng đống ngang dọc khắp mặt hang. Trong đống ngổn ngang đổ nát còn 2 mộ thuyền chứa những mẩu xương người. Một chiếc đựng bên trong một hộp sọ có cả xương hàm và bộ răng là của người lớn, độ tuổi khoảng 36 – 42, cùng với vài ba mẩu xương đùi, xương ống chân, mảnh vụn xương chậu. Một chiếc mộ thuyền nhỏ hơn đựng nửa hộp sọ không còn nguyên vẹn, có lẽ là hộp sọ của trẻ nhỏ (chừng 10 tuổi).

Theo một thống kê chưa đầy đủ, chỉ riêng xã Suối Bàng của huyện Mộc Châu đã có tới hàng chục động hang ma như trên. Mỗi động ít thì có dăm ba chiếc mộ thuyền, nhiều lên tới vài chục chiếc. Ngoài ra còn có ở các xã Mường Sang, Tô Múa, Tân Lập…

Bí ẩn việc đưa gỗ nặng lên cao…

Có lẽ cũng cần nói qua về vấn đề dân tộc học ở đây. Chiếm 90% dân số của xã Suối Bàng người dân tộc Thái. Vẫn theo cụ Mùi Văn Khương, câu chuyện người Thái định cư ở đất này được cụ, kị truyền lại hàng trăm năm trước là từ một cuộc thi bắn cung tên tại nơi có ngọn núi đá Pa- kỉ- sút (tiếng Thái, dịch ra tiếng Kinh có nghĩa là ngọn núi Cắm Tên).

Cách đây hàng trăm năm, người Xá (dân tộc Khơ Mú ngày nay) và người Thái cùng ở trên mảnh đất Mộc Châu. Người Xá bắn tên rất giỏi đã thách người Thái bắn tên lên vách đá để xác định chủ quyền vùng đất. Nếu mũi tên của bên nào bắn cắm vào vách đá nghĩa là thần núi, thần đất thuận cho ở, còn bên nào thua phải đi khỏi mảnh đất này.

Người Xá dùng tên có bịt đồng ở đầu mũi tên nên bắn vào vách đá thì bị nảy ra, còn người Thái lấy sáp ong dính vào đầu mũi tên nên khi bắn vào vách đá, mũi tên đã dính lại. Từ đó, người Thái được ở lại trên mảnh đất này, còn người Xá phải ra đi. Giữ đúng lời giao đấu là không được sinh sống hay săn bắn, trồng trọt nơi đây nữa nên khi chết, người Xá không được chôn cất trên mảnh đất này mà lấy thân gỗ to, khoét bỏ ruột để đưa người chết vào trong rồi treo lên các vách đá. Vì thế, những mộ thuyền tìm được trên các hang núi được cho là của người Xá.

Ông Phạm Việt Hùng, Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Mộc Châu cho biết các mộ thuyền trong hang mộ có niên đại ít nhất khoảng 600 năm, quan tài được làm bằng loại gỗ đinh thối. Nhiều khả năng người ta chọn loại gỗ này vì mùi khó chịu của gỗ sẽ làm thú rừng không lại gần.

Điều đầu tiên mà bất cứ ai khi được tiếp xúc với khu mộ thuyền ở Suối Bàng chính là câu hỏi, “tại sao người ta có thể đưa được những khối gỗ nặng 400 – 500 kg lên độ cao cả ngàn mét để an táng cho người chết?”.

Giả thuyết đầu tiên được đặt ra là những người được an táng dạng này thường là những quan lang hoặc những người có chức sắc trong bộ lạc người Xá thời ấy. Khi chết, họ sẽ được khiêng, rước lên các động đá. Và các dân phu cũng sẽ dùng cưa, rìu để hạ những cây gỗ gần đấy để an táng cho các vị này. Song có một vấn đề là hầu như tất cả các mộ thuyền ở đây đều bằng gỗ đinh thối. Vậy nhưng khi chúng tôi tiến hành khảo sát thì hầu như không thấy một dấu hiệu nào thể hiện nơi đây có một gốc đinh thối nào cũng như những dấu tích thể hiện loài cây này đã từng hiện diện tại đây!?

Giả thuyết thứ hai là người Xá đã dùng thuyền chở gỗ đinh thối từ các khu vực khác, tập kết tại khu bến phà Vạn Yên (nay thuộc xã Tân Phong, Phù Yên, Sơn La) rồi lại chuyển tiếp tới bến đò Lồi. Từ đó sẽ được chuyển tới các động hang ma.

Song câu hỏi ở đây là những khối gỗ nặng với 400-500kg, trong khi chúng tôi di chuyển người không cũng trầy trật mới có thể leo tới nơi thì những người bản địa bằng cách nào có thể mang được chúng lên tít cao như vậy? Nếu quả thật giả thuyết này là chính xác thì có thể nói người Xá cổ xưa đã có trình độ vận chuyển gỗ thuộc hàng… siêu cao thủ!

Một bí ẩn nữa là trong chuyến khảo sát mới đây tới một hang mộ cổ đã bị… kẻ khác khai quật, Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Mộc Châu đã lượm được một đoạn xương ống tay và mấy miếng bát cổ. Điều lạ lùng là đoạn xương ấy lại dài hơn nhiều so với xương ống tay của những người cao lớn bây giờ. Điều ấy đã đặt ra giả thuyết mà chưa ai tìm được câu trả lời thỏa đáng: Người xưa có thể trạng to lớn hơn người bây giờ?

Những bí ẩn trên có lẽ sẽ phải mất nhiều thời gian, công sức của các nhà khoa học, các nhà dân tộc học lẫn các nhà khảo cổ. Tuy nhiên, sau một thời gian chinh phục các động hang ma này, chúng tôi nhận thấy một thực trạng là đến thời điểm này thì hầu hết các điểm mộ thuyền ở xã Suối Bàng đã bị khai quật, không còn nguyên vẹn.

Theo anh Nguyễn Đức Nguyên – cán bộ Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Mộc Châu, những hang mộ đã bị khai quật ở Suối Bàng trên có bàn tay của kẻ săn lùng cổ vật. Những hang mộ trên thường nằm rải rác ở trên các núi đá cao, dốc, lại ở rất xa khu dân cư nên theo anh Nguyên, triển khai các phương án bảo vệ là rất khó khăn. Tới thời điểm này việc giữ gìn những mộ thuyền trên có sự đóng góp rất tích cực của lực lượng Công an xã.

Tuy thế, rừng xanh núi đỏ mênh mông, cố gắng mấy thì Công an xã cũng không thể căng người ra để ngày đêm “gác” ở trước mỗi cửa “hang ma” được.

Ruồi trâu – như một hiện tượng xã hội

Ruồi trâu như một hiện tượng xã hội
Aleksey Svetkov
Phạm Nguyên Trường dịch

Từ “ruồi trâu” trong tiếng Nga không có nghĩa bóng ổn định, không hiểu sao nó lại không mang cái nghĩa thịnh hành nhất trong tiếng Anh, mặc dù đã từng có một nhân vật mang tên Ruồi Trâu trong một cuốn tiểu thuyết và một bộ phim được nhiều người đương thời ưa chuộng. “Ruồi trâu”, tức là từ gadfly trong tiếng Anh, có nghĩa là một người phê bình phiền phức và không khoan nhượng, người tố cáo những khiếm khuyết và tệ nạn – cả có thực lẫn tưởng tượng. Cái nghĩa bóng này đã trở thành nghĩa chính vì đời sống đô thị đã đẩy ra bên lề nguyên mẫu.

Lĩnh vực hoạt động nào, xã hội nào và về nguyên tắc, đất nước nào cũng có những con “ruồi trâu” của mình. Ở Athens cổ đại, đấy là Diogenes, người đã thử mọi phương pháp có thể tưởng tượng được để thể hiện thái độ khinh bỉ đối với đồng bào của mình. Nietzsche, mà Hitler coi gần như là cha đẻ của chủ nghĩa quốc xã, cực kì căm ghét việc đi thành hàng lối. Ông này còn viết về đồng bào của mình như sau: “Tôi không thể cho phép mình nói ra những ý nghĩ của mình về người Đức”. Dù kẻ tố cáo có là ai, đặc biệt nếu đấy là người của công chúng và là một nhân vật kì đặc thì thái độ đối với người đó có thể được coi là mức độ trưởng thành về mặt tinh thần và bản lĩnh của dân tộc – các chỉ số này càng cao thì họ càng tỏ ra độ lượng, thậm chí còn trân trọng nữa, dĩ nhiên là theo một nghĩa nào đó. Trong trường hợp xấu nhất, người đó cũng có thể cho ta thấy kết quả sẽ tai hại như thế nào nếu ta không theo dõi kĩ các hành động của mình.

Ở Mĩ, Noam Chomsky, Giáo sư của Viện công nghệ Masachussets (Masachussets Institute of Technology), đã đóng vai một con “ruồi trâu” như thế suốt nhiều năm qua. Chủ nghĩa cấp tiến tả khuynh của ông đã làm lu mờ cả uy tín của ông trong lĩnh vực ngôn ngữ học, chí ít là đối với những người quan tâm đến chủ nghĩa cấp tiến nhiều hơn là lĩnh vực ngôn ngữ học. Chomsky coi Mĩ là nhà nước xâm lược và gieo rắc chủ nghĩa khủng bố chủ yếu trên thế giới hiện nay. Thế mà sách của ông ta được bày bán trong tất cả các hiệu sách lớn ở Mĩ, ông là khách mời thường xuyên của các talk-show và thường giảng về các đề tài chính trị. Có lần tôi đã nghe ông ta trả lời phỏng vấn trên đài BBC. Khi được hỏi vì sao ông vẫn cứ sống ở Mĩ, ông ta đáp rằng vì Mĩ là đất nước tự do, một người có quan điểm như ông ta vẫn có thể sống và làm việc mà không gặp bất cứ trở ngại nào.

Trong lĩnh vực này Chomsky cũng có một đối thủ, tuy không nổi tiếng bằng nhưng những người quan tâm đến văn học Mĩ đương đại hẳn biết rằng tôi đang nói đến ai: đấy là nhà văn Gore Vidal. Đọc Chomsky không phải là công việc nhẹ nhàng, cá nhân tôi, nếu không phải vì nhu cầu, thì tôi tránh xa ngay lập tức. Nhưng đọc Vidal lúc nào cũng là một ngày hội dù nội dung có làm người đọc tức giận đến đâu. Ban đầu Vidal giành được tiếng tăm nhờ những tác phẩm viết trực diện về đề tài đồng tính ái. Nhưng thể loại không có ai sánh nổi là tiểu luận, trong lĩnh vực này Vidal chính là một huyền thoại. Nếu vũ khí chủ yếu của Chomsky là những luận cứ đầy lí tính, tuy theo tôi không phải lúc nào cũng có đủ căn cứ, thì vũ khí của Gore Vidal lại là bút pháp. Có thể ông chính là hình ảnh lí tưởng cho câu cách ngôn của Voltaire: “Bút pháp chính là người”, dĩ nhiên đây là bút pháp trong lĩnh vực văn chương. Bị ngòi bút nóng bỏng của ông chạm vào là một thảm hoạ, thí dụ như một nữ nhà văn đã trở thành nhân vật trong một câu cách ngôn của ông: “Ba từ thảm hại nhất trong tiếng Anh: Joyce Carol Oates”

Ông thuộc dòng giống những người đến Mĩ từ lâu và có họ với cựu Phó tổng thống Mĩ, ông Albert Gore – Gore chính là họ mẹ của nhà văn, ông lấy họ mẹ để tưởng nhớ người ông ngoại từng có thời là Thượng nghị sĩ của nước Mĩ. Cha ông là người đã để lại dấu ấn quan trọng trong lịch sử không quân và hàng không dân sự Mĩ và là thần tượng của nữ phi công nổi tiếng tên là Amelia Earhart. Vidal từng có quan hệ thân mật với cố Tổng thống John Kennedy và có thời đã mơ trở thành Tổng thống Mĩ, và như bài trả lời phỏng vấn trên tờ Times gần đây cho thấy, ông vẫn còn lấy làm tiếc vì giấc mơ đã không trở thành sự thật.

Rõ ràng là những lời phàn nàn về đất nước của một người thuộc tầng lớp quí tộc, hay ít nhất cũng là của một người gần gũi với khái niệm quí tộc của châu Âu hiện sống ở Mĩ, khác hẳn với ý kiến của hậu duệ của những người Do Thái di cư. Trong đó, rõ nhất là khía cạnh đạo đức và ý chí. Thí dụ như ý kiến của ông về những người đồng bào của mình, có lẽ cũng chẳng khác mấy với ý kiến của Nietzsche về người Đức: “Ai quan tâm đến việc người Mĩ nghĩ gì? Đây là dân tộc vô học nhất trong thế giới thứ nhất. Họ chẳng có tư tưởng gì, chỉ có mỗi phản ứng cảm tính mà các chuyên gia quảng cáo giỏi biết cách khêu gợi lên mà thôi”.

Tôi có lẽ không phải người duy nhất nhận thấy trong lời phê phán này cái nghịch lí của một mô hình quen thuộc: “tất cả người công giáo đều là bọn dối trá”. Còn nói về cách thức tấn công thì khác hẳn với Chomsky. Ông này cố gắng nhồi nhét hiện thực vào một khuôn mẫu của “chủ nghĩa xã hội dân chủ”, của một trật tự hữu lí chỉ có trong đầu óc của ông ta mà thôi. Chủ nghĩa lí tưởng của Vidal hướng về quá khứ, ông trước tác những cuốn tiểu thuyết lịch sử, trong đó cuốn Lincoln có thể được coi là tác phẩm viết về vị Tổng thống thứ XVI của Hoa Kì, thành công nhất. Lời phê phán chủ yếu của Vidal đối với “dân tộc vô học nhất” là họ đã quên mất lịch sử và phản bội lại số phận của chính mình.

Không ai nghi ngờ xu hướng tả khuynh của Chomsky, nhưng thật khó mà biết được Vidal ngả về phía nào. Đây, thí dụ như ý kiến của ông về Barack Obama: “Ông ta tin các tướng lĩnh. Trong khi ngay cả Bush cũng biết rằng muốn kéo một viên tướng về phe với mình thì phải phát cho hắn một ngôi sao nữa. Obama cho rằng Đảng Cộng hòa là một chính đảng trong khi trên thực tế đấy chỉ là một cách nghĩ, tương tự như tổ chức Hitler-Jugendе (Thanh niên phát xít), dựa trên lòng hận thù, hận thù tôn giáo, hận thù sắc tộc. Khi các vị, những người nước ngoài, nghe thấy từ “người bảo thủ”, các vị tưởng đấy là những cụ già hiền từ đang đi săn cáo. Nhưng họ hoàn toàn không phải như thế, họ là những tên phát xít”.

Ở đây dường như mọi sự đều rõ ràng. Nhưng ý kiến của Gore Vidal về những người Cộng hòa cũng chẳng có gì khá hơn. Làm sao gắn kết được đường lối tả khuynh rõ ràng như thế với sự ràng buộc kì quặc với Timothy McVeigh, kẻ đã đánh bom trụ sở liên bang ở thành phố Oklahoma?

Tuy nhiên, trong sự điên rồ đó vẫn có một phương pháp, như nhân vật Polonius của Shakespeare đã nói. Nước Mĩ lí tưởng của Vidal là phương án không tưởng của Jefferson, hoàn toàn không thích hợp với thế giới ngày nay. Đấy là một đất nước tự cấp tự túc, không có những động cơ xâm lược cũng như xu hướng biệt lập. Tốt nhất là với chính ông làm Tổng thống.

Vấn đề ở đây không phải là tư tưởng của Vidal hay Chomsky, nói chung, tôi cũng chẳng thích thú gì những tư tưởng đó, mà là quyền được có những tư tưởng như thế. Nếu một người nghĩ xấu về đất nước tôi hay đất nước của anh ta thì nước đó bao giờ cũng có lựa chọn: cho người ấy phát biểu một cách tự do hay là bịt miệng hắn lại. Mà đấy không nhất định phải là nước Mĩ, một nước có nền tự do mà ngay cả Chomsky cũng phải ca tụng. Ở Nga cũng đã từng có một nhà văn như thế, đấy là M. E. Saltykov-Shedrin. Đến nay người ta vẫn còn nhớ “con ruồi trâu” này. Dĩ nhiên là có thể né tránh, bằng cách nói rằng ông không chế nhạo đất nước mà chỉ tố cáo những khiếm khuyết riêng lẻ mà thôi. Nhưng nếu xây dựng đất nước từ những khiếm khuyết như thế thì chắc chắn ta vẫn sẽ được nước Nga. Nhưng nước Nga đã từng in tác phẩm của Shedrin và sau khi ông qua đời đã có một chiếc tàu thủy mang tên ông.

Vai ruồi trâu, nếu có năng khiếu và biết cách đóng, có thể mang đến vinh quang tầm cỡ thế giới. Trong trường hợp của Gore Vidal vai này hoàn toàn phù hợp với khí chất của ông, không thể coi ông là người hiền lành hay khéo ăn khéo ở. Nhưng cũng có thể đóng một cách có tính toán, nếu biết cân đối một cách khéo léo giữa tấn công và bảo vệ. Đấy là trường hợp nhà văn Thổ Nhĩ Kì, Orphan Pamuk. Nhà văn này đã giận dữ tung ra đề tài về tệ diệt chủng người Armenia, nhưng sau khi đã đạt được hiệu quả tích cực thì lại rút nó xuống.

Nhưng có những nơi mà vai này, nói theo một thi sĩ là “diễn viên không chỉ đọc mà phải chết thật sự”. Chẳng phải tìm đâu xa, nước Nga sau khi Shedrin mất đã đi giật lùi một khoảng cách quá lớn. Trong thời Liên Xô, nhiều người trong chúng ta đã từng nín thở theo dõi số phận của một vài cá nhân dám bước lên con đường chống đối – có người bị trục xuất như Aleksandr Solgienytsyn hay Iosif Brodsky hoặc bị lưu đày như Andrei Sakharov, có người bị chết trong tù như Anatoly Martrenko. Còn ngày hôm nay là những viên đạn của bọn sát nhân, như trường hợp Anna Politkovskaia.

Nếu để thành tích nghệ thuật sang một bên và hỏi thẳng: nước Mĩ cần Gore Vidal để làm gì thì nhiều người sẽ bảo “cẩn tắc vô ưu” hay “vẽ đường cho hươu chạy”. Nhưng ở những nơi mà những câu hỏi như thế này thường xuyên xuất hiện trong óc của nhiều người thì nhu cầu có những tiếng nói phản đối và nghi ngờ là rất rõ ràng. Xã hội cần những tiếng nói tố cáo như mỏ than cần những con chim hoàng yến vậy. Nhìn chim hoàng yến là ta có thể đoán được số phận của mình.

Nguồn: http://www.inliberty.ru/blog/transatlantic/1376/

Bằng cấp không phải là thước đo…

 Chu Hảo

Chu Hảo

Bằng cấp không phải là thước đo người trí thức

Cơ chế dường như chưa đủ để cho người trí thức phát huy hết năng lực của họ. Tôi tin chúng ta đủ khả năng giải quyết nhiều vấn đề cấp thiết hiện nay nếu biết tổ chức, quản lý và quan trọng hơn là cần tạo điều kiện bình đẳng cho mọi tiềm năng được giải phóng.
LTS: Giám đốc Nhà xuất bản (NXB) Tri Thức Chu Hảo học phổ thông ở Trung Quốc, học đại học và làm nghiên cứu sinh ở Liên Xô cũ. Sau đó ông tiếp tục nghiên cứu khoa học và giảng dạy đại học ở Pháp. Con đường quan chức của ông cũng dài không kém con đường học tập nghiên cứu: từng đảm nhiệm các vị trí Viện trưởng Viện Công nghệ Vi điện tử (Viện nghiên cứu Công nghệ Quốc gia), Chánh văn phòng Chương trình quốc gia phát triển công nghệ thông tin, Thứ trưởng thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ, rồi Trưởng ban Quản lý Khu công nghệ cao Hòa Lạc. Đến lúc đã có thể nghỉ ngơi, ông lại tiếp tục chọn cho mình con đường mới nhiều thử thách: thành lập NXB Tri Thức với tôn chỉ là góp phần phổ biến những kiến thức tinh hoa của thế giới tại nước nhà. Người từng dành nhiều công sức để đưa Internet vào Việt Nam này lại một lần nữa mong mỏi nguồn tri thức mới mà mình góp phần mang về sẽ đúc nên những viên gạch đầu tiên cho nền kinh tế tri thức của đất nước. Tháng 9/2009 cũng là kỷ niệm bốn năm ngày thành lập NXB và nhân dịp họp mặt cộng tác viên tại TP. Hồ Chí Minh, ông đã dành cho chúng tôi một cuộc trò chuyện cởi mở.

- Được biết thời gian gần đây và sắp tới, NXB Tri Thức có nhiều hoạt động văn hóa như tổ chức kỷ niệm và in kỷ yếu về các danh nhân thế giới; phối hợp tổ chức những hoạt động tọa đàm; thảo luận các chủ đề về thói quen đọc sách, giáo dục, kinh tế; nói chuyện với sinh viên các trường đại học… Xem ra hoạt động của NXB Tri Thức không chỉ là tổ chức dịch và xuất bản sách?
Trong số những việc bạn vừa kể, có nhiều việc lẽ ra thuộc trách nhiệm tổ chức của Nhà nước, nhưng do không thấy ai làm nên chúng tôi xin tự nguyện làm thôi. Năm 2009 đã được Liên Hiệp Quốc tuyên bố là “Năm Vũ trụ học”, kỷ niệm 400 năm nhà bác học Galileo Galilei người Ý phát minh ra kính viễn vọng, cũng là kỷ niệm 200 năm sinh nhà khoa học Charles Darwin người Anh. Các nước trên thế giới có nhiều hoạt động để tưởng nhớ hai danh nhân đã có đóng góp rất lớn cho loài người này, còn tại Việt Nam cho đến nay các cơ quan hữu quan hầu như chưa hề nhắc tới.
Chúng tôi cũng đã từng làm như vậy đối với 100 năm Đông Kinh nghĩa thục (2007), 100 năm Khai sáng Thuyết Lượng tử (2008); và đang chuẩn bị làm cuốn Lev Tolstoi nhà Văn hóa và Tư tưởng để cùng thế giới kỷ niệm 100 năm ngày mất của ông (2010). Cho đến nay, các cơ quan chức năng của Nhà nước vẫn chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng của những hoạt động văn hóa như thế. Tổ chức kỷ niệm, in kỷ yếu về các danh nhân là việc làm thiết thực để truyền bá tri thức và nuôi dưỡng tình yêu đối với nghiên cứu khoa học và tôn vinh các giá trị văn hóa.
Đối với chúng tôi, ngay cả dịch sách cũng không đơn thuần là công việc kỹ thuật mà đó là hoạt động văn hóa. Dịch thuật góp phần rất lớn trong việc làm nên tính đa dạng văn hóa của xã hội tri thức. Đặc biệt, việc dịch những sách có hàm lượng tri thức cao sẽ tạo ra những thuật ngữ mới, mang về nhiều khái niệm mới. Nhờ đó, ngôn ngữ và vốn văn hóa nước nhà được làm giàu thêm đáng kể. Dịch giả ngoài việc nắm vững ngoại ngữ phải tinh thông ngôn ngữ Việt, phải có kiến thức văn hóa sâu rộng.
- Nhưng cũng vì mang về những khái niệm quá mới đó mà thời gian gần đây, một số sách của NXB Tri Thức bị xem là “có vấn đề”?
Bất cứ nhà xuất bản nào xuất bản những sách giới thiệu tri thức cổ kim nước ngoài đều dễ bị xem là “có vấn đề” chứ không riêng NXB Tri Thức. Sách của NXB Tri Thức (kể cả sách liên kết) phần lớn là dịch từ tác phẩm nước ngoài nên có những chỗ quan điểm của các tác giả không phù hợp với quan điểm chính thống của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Tuy nhiên, tôi tin là trong quá trình phát huy dân chủ theo đường lối của Đảng, cùng với quá trình đổi mới thì phạm vi của “vùng nhạy cảm” đã và sẽ ngày càng được thu hẹp.
Trước đây, cũng nhờ những nguồn tham khảo kiến thức và lắng nghe, mà Đảng đã đi đầu trong việc thay đổi tư duy, quyết định chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hay cho đảng viên làm kinh tế tư nhân… Ngoài ra, muốn hội nhập quốc tế thì phải biết thế giới quanh ta nghĩ gì và phải chấp nhận sự đa dạng văn hóa. Hơn nữa, những sách chúng tôi chọn đều là những kiến thức tinh hoa nhân loại, không chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt mà còn cần thiết cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước trong tương lai. Chừng nào xã hội còn tồn tại, những sách này sẽ vẫn còn hữu ích.
- Ông thường dẫn lời của Karl Marx rằng trí thức là người có đủ tri thức để quan tâm và có chính kiến về những vấn đề trong xã hội. Vậy theo ông, thế nào gọi là đủ tri thức và làm thế nào có đủ tri thức để có chính kiến về những vấn đề trong xã hội?
Tùy từng giai đoạn lịch sử, xã hội càng phát triển, càng phức tạp thì đòi hỏi trình độ của trí thức càng phải cao hơn. Trước 1945, một thầy giáo tiểu học trường làng đã có thể được coi là trí thức vì đã đủ trình độ để hiểu biết và có thể thảo luận về những vấn đề xã hội thời đó. Bây giờ một người tốt nghiệp đại học, thậm chí thạc sĩ, tiến sĩ cũng chỉ là người lao động trí óc nếu không có nhận thức đúng đắn về thời cuộc. Bằng cấp không phải là thước đo người trí thức.
Trong một nền giáo dục tốt, một người học hết chương trình giáo dục phổ thông tiên tiến (chứ không phải như của ta hiện nay!) cũng có thể trở thành trí thức nếu có sự quan tâm và luôn tự đặt ra những câu hỏi về các vấn đề xã hội. Rồi đi tìm câu trả lời qua sách vở kết hợp với chiêm nghiệm thực tế để có thể phản biện và phân tích một cách khoa học và trung thực những bất cập trên tinh thần xây dựng và thiện chí, có sức thuyết phục.
Cao hơn nữa là đề xuất được phương án khắc phục vấn đề. Chẳng hạn, đến năm 1945 một số trí thức nước ta như GS Nguyễn Văn Chiển (mới từ trần tháng trước) vừa học xong bậc đại học, GS Hoàng Tụy mới hết tú tài, còn nhà văn Nguyên Ngọc thì chưa hết tú tài… Sau đấy, họ hoàn toàn tự học, tự trau dồi tri thức và nhân cách của mình, với cái nền vững chắc có được từ thời còn ngồi trên ghế nhà trường, họ trở thành những trí thức có rất nhiều đóng góp giá trị cho đất nước.
- Vậy theo ông, đâu là tiêu chuẩn đánh giá trí thức?
Tiêu chuẩn đánh giá người trí thức không phải là trình độ chuyên môn mà là tầm nhìn của người đó có vượt lên hẳn tầm nhìn chung của quần chúng hay không. Dựa trên tiêu chí đó, theo tôi nước ta chỉ có một số cá nhân trí thức chứ chưa có tầng lớp trí thức với lý tưởng, quan niệm riêng và có sự tranh luận, thảo luận một cách công khai, thẳng thắn và dân chủ.
Những năm gần đây, một nhóm trí thức Nga đã có những nghiên cứu, thảo luận rộng rãi và nghiêm túc về thực trạng giới trí thức nước này trong gần một thế kỷ qua (xin xem quyển Về trí thức Nga NXB Tri Thức 2009). Họ đã đi đến kết luận rằng tầng lớp trí thức Xô viết thực chất chỉ là những người lao động trí óc chứ chưa phải là tầng lớp trí thức theo đúng nghĩa là có tầm nhìn và hiểu biết xã hội vượt trội. Chúng ta học hỏi Liên Xô cũ rất nhiều về các mô hình giáo dục – đào tạo và tôi cảm thấy tầng lớp “có học” của nước ta có nhiều điểm, nhiều vấn đề rất giống họ.
Tuy nhiên, để biết tầng lớp có học của Việt Nam có trình độ nhận thức, có tầm nhìn và hiểu biết xã hội ở mức nào thì phải cần những nghiên cứu cụ thể. Liên Xô đã làm việc này, Trung Quốc cũng bắt đầu làm còn ở Việt Nam thì vẫn chưa.
- Làm thế nào để hình thành tầng lớp trí thức theo tiêu chí vừa nói, thưa ông?
Trong một xã hội bình thường, tầng lớp trí thức được hình thành theo quy luật chọn lọc tự nhiên. Trong xã hội, ngoài số đông học để làm giàu, học để làm quan, vẫn thường có một tỷ lệ người nhất định có sự ham học hỏi và coi việc học để nâng cao nhận thức là niềm vui tự thân. Ngoài cơ chế và tính dân chủ để trí thức có môi trường thảo luận như đã nói ở trên, điều quan trọng là cần có nền giáo dục lành mạnh để một người học hết phổ thông là đã có thể tự đọc sách, tự nghiên cứu để trau dồi kiến thức.
Nền giáo dục ở các nước tiên tiến dạy cho học sinh thói quen đọc sách và thảo luận về sách. Ở cấp phổ thông, học sinh đã biết phần nào những kiến thức nhập môn để lên đại học sẽ nghiên cứu sâu. Còn ở nước ta, nhiều học sinh giỏi khi thi đậu đại học rồi mà vẫn chưa hề nghe đến các sách nhập môn của chính ngành mình sẽ học ở đại học.
- Theo ông thì phẩm chất và trình độ của tầng lớp trí thức có vai trò thế nào trong việc tạo nên số phận của một đất nước?
Chắc chắn là có vai trò rất lớn. Có thể làm một ví dụ so sánh: cách đây hơn một trăm năm, trước sự phát triển mạnh mẽ của phương Tây, nước Nhật thời Minh Trị đã thực hiện canh tân, nỗ lực tiếp nhận những kiến thức tinh hoa của thế giới tạo nên một tầng lớp trí thức có tiếng nói và có tầm nhìn bao quát được thời cuộc, đưa nước Nhật trở thành quốc gia hùng mạnh ở châu Á.
Sau năm 1945, Nhật Bản có thể vươn lên một cách thần kỳ từ đống tro tàn là nhờ xã hội vẫn giữ được tầng lớp trí thức có tầm nhìn xa và tâm huyết, đưa ra những chiến lược phục hồi để hơn 30 năm sau đất nước họ trở thành cường quốc. Tại Trung Quốc thế kỷ XIX, vì đóng cửa với thế giới nên việc truyền bá tri thức diễn ra sau Nhật 50 năm và không tạo được tầng lớp trí thức đủ mạnh để tồn tại qua những biến động thời cuộc.
Đó cũng là lý do xã hội Trung Quốc giai đoạn tiếp theo xảy ra nhiều bi kịch như cách mạng văn hóa và kinh tế kém phát triển hơn Nhật Bản nhiều. Tầng lớp trí thức là bộ phận nhận thức, là bộ não của cơ thể xã hội. Não trạng ù lỳ thì mắc sai lầm dẫn đến bi kịch là chuyện dễ xảy ra.
Đã có nhiều bài học cho thấy để đưa đất nước ra khỏi khó khăn, tầng lớp trí thức phải có tầm nhìn xa và tính quyết đoán cao. Ông Asher, Chủ tịch Degem – Tập đoàn điện tử hàng đầu của Israel đã kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện thực tế: Gần 60 năm trước, khi Nhà nước Israel mới được thành lập, những người Do Thái lưu lạc khắp nơi trên thế giới trở về xây dựng đất nước riêng của mình.
Một hôm, Bộ trưởng Bộ Giáo dục của Israel, sau khi tham khảo ý kiến của những người bạn trí thức đã xin được gặp ngay Thủ tướng để trình bày đề án xây dựng 10 trường đại học kỹ thuật đầu tiên của Israel, với lý do: Nhà nước Do Thái lúc bấy giờ (năm l950) chỉ có người đi buôn chứ không có người làm kỹ thuật và nhà nước ấy sẽ lại tiêu vong nếu không có khoa học – kỹ thuật.
Thủ tướng Israel lúc đó là một người có tầm nhìn xa và dám quyết. Ngay trên bàn ăn sáng hôm ấy với Bộ trưởng Bộ Giáo dục, ông đã quyết định xây dựng năm trường đại học kỹ thuật đầu tiên của Israel (vì chỉ đủ kinh phí xây dựng năm trường). Ngày nay, Israel đã có nền khoa học kỹ thuật rất phát triển, thu nhập bình quân hơn 33 ngàn USD/đầu người.
– Từng đảm trách cương vị Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, ông băn khoăn điều gì nhất trong nền khoa học nước nhà?
Đó là nghiên cứu khoa học tại nước ta hiện nay chưa được chú ý đúng mức. Hẳn chúng ta còn nhớ việc ra quyết định sai lầm trong cơn bão Chanchu năm 2008, và cũng có thể là như vậy đối với cơn bão mới vừa đây đã dẫn đến tác hại nghiêm trọng như thế nào. Đây chắc chắn là hậu quả của sự thiếu được đầu tư nghiên cứu một cách nghiêm túc, bài bản về khoa học khí quyển.
Chẳng những khoa học khí quyển, mà còn nhiều bộ môn khoa học cơ bản khác của nước ta cũng không được chú trọng đúng mức. Về việc này, các nhà khoa học, có uy tín ở trong và ngoài nước đã nhiều lần cảnh báo, nhưng cũng ít được lắng nghe… Tôi e rằng đất nước sẽ còn phải trả giá đắt trong nhiều năm nữa!
Trên thực tế, chỉ những nghiên cứu ứng dụng vụn vặt, nhưng có hiệu quả tính được ra bằng tiền là đang được khuyến khích, còn những nghiên cứu cơ bản thì từ lâu đã dần dần bị bỏ rơi.
Thái độ nhấn mạnh kỹ thuật (công nghệ), coi nhẹ khoa học (đặc biệt là các nghiên cứu cơ bản) là tình trạng phổ biến ở hầu hết các nước đang phát triển. Tâm lý sốt ruột muốn nhanh chóng thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, cùng với nguồn lực eo hẹp và sự thúc bách của cơ chế thị trường đã làm cho các nhà hoạch định chính sách phát triển ở những nước này dễ có khuynh hướng ưu tiên cho những đầu tư sớm có hiệu quả theo kiểu “mì ăn liền”.
Đầu tư cho công nghệ dễ thấy hiệu quả hơn là đầu tư cho khoa học nhưng nếu không có một trình độ khoa học vững vàng thì không thể phát triển công nghệ một cách có hiệu quả bền vững. Nước ta còn nghèo thì phải cân nhắc thật kỹ tỷ lệ đầu tư cho nghiên cứu khoa học và cho phát triển công nghệ để vừa dần dần xây dựng tiềm lực khoa học mạnh mẽ, vừa tiến hành đổi mới công nghệ một cách có hiệu quả. Gần đây tôi vui mừng nhận thấy Bộ Khoa học và Công nghệ đã quan tâm hơn nhiều đến khu vực nghiên cứu khoa học cơ bản.
Một điều đáng buồn khác là Việt Nam với gần 90 triệu dân mà chưa có một tạp chí phổ biến khoa học nào kiểu như La recherche (Pháp), New scientist (Mỹ) v.v… Các cơ quan nghiên cứu và các đại học của Nhà nước không quan tâm và không cấp kinh phí đã đành, khi chúng tôi đề nghị được liên doanh với Tập đoàn IDG của Mỹ để xuất bản một tạp chí như vậy thì lại không được vì luật không cho phép liên doanh với nước ngoài để xuất bản báo chí. Trong khi tại Trung Quốc, có đến 30 đầu báo khoa học liên doanh với IDG đã ra đời.
- Vậy muốn thay đổi thực trạng này chúng ta nên bắt đầu từ đâu, thưa ông?
Từ giáo dục và đào tạo! Ngày nay, không nền kinh tế nào có thể phát triển bền vững nếu không dựa vào khoa học và công nghệ của chính mình. Khi khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp đúng như lời tiên đoán của Karl Marx từ giữa thế kỷ XIX thì bản thân các nhà khoa học – công nghệ, trong một số lĩnh vực, cũng đồng thời là nhà sản xuất.
Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là tiềm năng khoa học và công nghệ bao giờ cũng là chỗ dựa vững chắc của sự phát triển kinh tế – xã hội. Nhìn lại lịch sử nhân loại, chúng ta có thể thấy sự xuất hiện và suy vong của các nền văn minh thường gắn liền với khả năng nắm bắt hoặc bỏ lỡ cơ hội đối với các kỹ thuật mới. Ở thời đại ngày nay, điều ấy càng đúng. Khi thông tin và tri thức là tài nguyên quan trọng nhất thì tài nguyên con người với tiềm năng trí tuệ cao là quý giá nhất. Đó là ai?
Trước hết, đó là các nhà khoa học – công nghệ giỏi. Muốn có các nhà khoa học – công nghệ giỏi thì ưu tiên hàng đầu là phải tập trung mọi nỗ lực để xây dựng một nền giáo dục quốc dân lành mạnh và hiệu quả. Không có một nền khoa học và công nghệ nào có thể phát triển được trên cơ sở một nền giáo dục như của nước ta hiện nay.
- Là người chủ trì tổ chức Hội thảo hè 2008, một hội thảo để giới trí thức trong và ngoài nước có cơ hội gặp gỡ, thảo luận về những vấn đề của đất nước, theo ông, trí thức Việt Nam trong và ngoài nước có tầm nhìn và trình độ như thế nào? Có đủ sức giúp đất nước giải quyết nhiều vấn đề cấp thiết hiện nay?
Số lượng trí thức trong và ngoài nước trên tổng số dân nước ta còn ít so với các nước khác, nhưng tầm nhìn và trình độ của nhiều người trong số ít ỏi đó có lẽ cũng không thua kém. Vấn đề là cơ chế dường như chưa đủ để cho người trí thức phát huy hết năng lực của họ. Tôi tin chúng ta đủ khả năng giải quyết nhiều vấn đề cấp thiết hiện nay nếu biết tổ chức, quản lý và quan trọng hơn là cần tạo điều kiện bình đẳng cho mọi tiềm năng được giải phóng.
- Một câu hỏi cuối, ông nghĩ gì về doanh nhân Việt Nam?
Tôi ngưỡng mộ sự năng động và ý chí làm giàu một cách chân chính của đại đa số trong số họ.
Trong ba loại người tài giỏi mà xã hội ta cần hiện nay là: 1) Những người lãnh đạo ở các cấp Đảng và chính quyền. Thiếu những nhà lãnh đạo tài ba thì mọi hoạt động khác của xã hội sẽ kém hiệu quả. Ước mong sao ở tất cả các cấp này phải là những người có tầm, có tâm và hết sức chuyên nghiệp. 2) Các nhà doanh nghiệp tầm cỡ. 3) Các nhà khoa học giỏi.
Tôi đã cố tình xếp các nhà doanh nghiệp lên trước các bạn đồng nghiệp khoa học và công nghệ của mình mà không lo không được sự đồng tình của họ. Đơn giản là bởi vì ngày nay “sức kéo” của thị trường vẫn mạnh hơn “sức đẩy” của khoa học – công nghệ. Ước mong sao cho đất nước ta sớm có một tầng lớp doanh nhân tài ba và giàu lòng yêu nước như các nhà tư sản dân tộc trước Cách mạng tháng 8 năm 1945.
- Xin cảm ơn ông vì cuộc trò chuyện thú vị này.
• Theo Cẩm Tú (Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần)
• Tranh Hoàng Tường

Matt Mullenweg – ông trùm của WordPress

Matt Mullenweg

Matt Mullenweg


“Ông trùm” của WordPress

TP – Bảy năm trước, không ai có thể nghĩ rằng, cái diễn đàn blog WordPress do Matt Mullenweg sáng lập và thiết kế lại nổi tiếng và phổ biến không chỉ ở nước Mỹ như ngày nay.

Matt Mullenweg, ông chủ 25 tuổi của diễn đàn WordPress
Ông chủ 25 tuổi này vừa được xếp thứ 12 trong số 50 doanh nhân mạng trẻ và nổi tiếng nhất thế giới với tài sản gần 40 triệu USD.

Sinh ra ở Houston, bang Texas, Mỹ, Matt say mê văn và âm nhạc. Vì thế, khi xây dựng WordPress, anh đã lấy phương châm: Mã số (Code) chính là thơ ca.

Tạo ra điều kỳ diệu từ những đam mê

Chính Matt đã nói: “Nếu như bảy năm trước đây, mọi người hỏi tôi, hôm nay tôi sẽ là ai, thậm chí tôi đã không thể tưởng tượng nổi những điều kỳ diệu đã xảy ra với mình trong thời gian đó. Tôi đã làm quen với những người không thể tưởng tượng nổi và đã trở thành một phần của cộng đồng tuyệt vời này”.

Matt cũng yêu thích nhiếp ảnh, nhạc jazz, du lịch, đọc sách và những ý tưởng. Nếu nhìn vào các ảnh của Matt trên Flikr, có thể thấy anh còn thích ăn ngon với một số lượng lớn ảnh các món ăn khác nhau. Ảnh Matt cầm nĩa, thìa và đĩa. Blog của Matt, một blog mẫu, nơi không có cái thừa.

Matt đi du lịch nhiều. Tất nhiên được mời nhiều, vì ai mà không muốn thấy sự hiện diện của nhà sáng lập WordPress tại các hội nghị và hội thảo của mình.

Khi còn là một học sinh trung học, Matt Mullenweg đã thiết kế những dự án phần mềm ngay tại phòng ngủ của mình. Bảy năm sau, anh vẫn làm phần lớn công việc của mình ở nhà. Matt nghĩ ra việc làm WordPress từ năm 18 tuổi. Đối với anh, nó luôn là công cụ tự thể hiện bản thân mình. Đó là một blog với nhiều yếu tố nhiếp ảnh. Đối với nhiều người, nó không giống một blog bình thường mà giống một website hơn.

Trước WordPress là B2. Matt nói, chính vì anh không bao giờ cảm thấy “ấm cúng” trong mạng, công cụ này đã có quá nhiều điều không tiện lợi và chúng làm anh không hài lòng. WordPress ra đời để loại những sự không tiện lợi này.

WordPress ra đời đã hơn sáu năm. Matt nhớ lại khi lần đầu tiên ai đó ở Nhật dịch WordPress sang thứ tiếng khác. Vào lúc đó, WordPress không có chức năng nhiều ngôn ngữ.

Việc dịch sang thứ tiếng khác cũng có nghĩa người đó phải dịch từng file, từng dòng code. Điều đó đã làm anh sững sờ. Và theo Matt, Rayan đã làm một công việc cực kỳ quan trọng, cực lớn và nhàm chán để làm cho WordPress thích nghi việc đa dạng hóa ngôn ngữ blog. WordPress đã trở thành diễn đàn cho một cộng đồng.

Matt nói, những cộng sự của anh bao giờ cũng tiến về phía trước bằng phương pháp thử nghiệm và đạt được thành tựu nhờ những người tình nguyện. Họ gặp nhiều khó khăn nhưng bao giờ cũng hăng hái lao về phía trước.

Matt phát biểu trong một cuộc trả lời phỏng vấn rằng, anh rất sung sướng được bày tỏ sự tôn trọng đối với từng người đã đóng góp công lao cho WordPress. Và đó cũng là nguyên nhân giải thích cho cách làm việc của WordPress.org hiện nay.

Mặc dù trụ sở của Automattic gần căn hộ tại San Francisco của anh, đi bộ chỉ hết năm phút, nhưng anh rất ít khi tới đó. Một tuần anh mới tới một lần, vào ngày thứ Năm, khi có những cuộc họp lãnh đạo.

Giống như việc ăn, thở, âm nhạc, tôi không thể không làm việc cho WordPress. Dự án liên quan tới nhiều người, một vài thứ gần đây tôi mới hiểu rõ giá trị. Tôi tự xem mình rất hạnh phúc vì có thể làm việc cho cái mà tôi rất yêu thích – Matt Mullenweg

Matt dành chủ yếu thời gian đi du lịch vòng quanh thế giới, gặp gỡ những người hâm mộ WordPress hoặc làm việc tại nhà. Theo Matt, ai cũng có thể làm việc tại nhà. Automattic là một công ty “ảo” (virtual). 40 người làm việc cho công ty và họ có thể ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

Năm ngoái, Matt du hành tới 200 ngày và vượt qua 175.000 dặm, bằng bảy lần vòng quanh thế giới. Mục đích của cuộc du hành là vì WordCamps. Matt đã tổ chức WordCamps lần đầu tiên tại Francisco vào năm 2006. Hiện nay, hàng năm có tới hàng trăm WordCamps ở các nước như Argentina, Nhật, và Trung Quốc.

Công ty của Matt chỉ chủ trì WordCamps hàng năm tại Bay Area, còn lại tất cả do các cộng đồng kỹ thuật địa phương tổ chức. Tại mỗi cuộc WordCamps, Matt bắt đầu bằng thông tin tổng hợp về WordPress và lịch sử của nguồn mở (open source). Matt cảm nhận trách nhiệm phát triển rộng những ý tưởng của mình, bởi vì nó tác động sâu sắc tới cuộc đời anh.

Âm nhạc là nguồn cảm hứng tạo code

Matt nghe nhạc hàng ngày, nhiều nhạc jazz – Dexter Gordon và Sonny Rollins. Theo chính lời Matt, âm nhạc giúp anh khi anh tạo code. Chiến lược quản lý của Matt là tìm những người cực kỳ tài năng, có mục đích và sau đó để họ tự phát triển. Không có người quản lý nào ngó qua vai bạn hàng ngày. Bạn cần có khả năng điều chỉnh mình một cách hoàn thiện.

Theo lời Matt, anh thường nghĩ về việc xây dựng một thính đường cho blog của mình, nhưng sau đó quan điểm của anh thay đổi: “Nếu tôi không blog cho chính mình, thì điều đó thực không đáng”. Matt rất thích đưa lên mạng những bức ảnh nơi anh từng đặt chân tới.

Đối với WordPress anh cùng các đồng nghiệp đang cố gắng thiết lập một đội quân thật nổi bật mà độc lập trong vòng 10 – 30 năm nữa. Đội của anh muốn tạo được phong trào như Google, eBay, Amazon.

Matt Mullenweg, sáng lập Automattic, công ty đứng sau công cụ blog WordPress và một loạt những dự án phần mềm khác. WordPress.com có khả năng cung ứng cho 12 triệu blog, bao gồm cả những blog của The New York Times đã đầu tư vào công ty của Mullenweg năm ngoái.

Hoàng Hoa TPonline

Đại học Pháp vẫn trì trệ

Trường khoa học chính trị Pháp

Trường khoa học chính trị Pháp

“Trường Hành chính quốc gia Pháp”]Trường Hành chính quốc gia Pháp

Đại học ở Pháp vẫn chôn chân trên lối cũ
Elaine Sciolino – Trà Mi lược dịch

NANTERRE, Pháp – Hiện có 32.000 sinh viên tại khuôn viên của Đại học Nanterre, Paris, nhưng không có trung tâm sinh viên, không có hiệu sách, không có báo sinh viên, không có chương trình hướng dẫn sinh viên mới, không có hệ thống tuyển dụng của công ty.

Với khối lượng 480.000 cuốn sách, thư viện trung ương chỉ mở cửa 10 giờ một ngày, đóng cửa vào ngày Chủ nhật và ngày lễ. Chỉ có 30 trên 100 máy tính của thư viện có thể truy cập Internet.

Nhà ăn trong khuôn viên đại học đóng cửa sau bữa trưa. Giáo sư thường không có giờ văn phòng; nhiều người không có văn phòng. Một số phòng học quá đông đến nỗi tại kỳ thi sinh viên phải tìm chỗ ngồi ở nơi khác. Tới buổi cuối chiều mỗi ngày khuôn viên đại học Nantere vắng hoét.

Nằm giữa một nhà tù và một văn phòng tìm việc ngay bên ngoài Paris, trường đại học ở đây không phải là nơi tốt nhất, và cũng không phải là chỗ tồi tệ nhất để vào học tại đất nước khá giàu có này. Đúng hơn, nó phản ánh cuộc khủng hoảng của hệ thống đại học Pháp, cổ lỗ sĩ, thuộc sở hữu nhà nước: đông đúc, thiếu ngân sách, vô tổ chức và sợ thay đổi theo yêu cầu của thế giới bên ngoài.

“Ở Mỹ, hệ thống đại học của bạn là một trong những động cơ lèo lái sự thịnh vượng của Mỹ,” Claude Allègre, một cựu bộ trưởng giáo dục, người đã cố gắng để cải cách các trường đại học của Pháp nhưng không thành công. “Nhưng ở đây, đơn giản chúng tôi không đầu tư đủ. Trường đại học rất nghèo. Đại học cũng không phải là ưu tiên cho nhà nước hoặc khu vực tư nhân. Nếu chúng tôi không đảo ngược xu hướng này, chúng tôi sẽ giết thế hệ mới.”

Nỗi bất mãn của sinh viên tại đại học trên toàn nước Pháp đã đẫn đến các cuộc biểu tình gần đây chống lại một đạo luật có thể cho phép chủ nhân dễ dàng hơn để sa thải công nhân trẻ. Sinh viên Cao đẳng lo sợ rằng sự học của họ không có giá trị cào và e rằng sau khi tốt nghiệp họ sẽ không tìm được việc làm.

Các cuộc biểu tình đóng cửa hoặc làm đình trệ một phần lớn các trường đại học của Pháp trong nhiều tuần, các công đoàn lao động tuyên bố đoàn kết và cuối cùng chính phủ buộc đã phải tuyên bố rút lại đạo luật.

“Đại học là nhà máy,” Christine le Forestier, 24 tuổi, tốt nghiệp Thạc sĩ năm 2005 tại Nanterre nhưng vẫn không tìm thấy một công việc ổn định. “Đại học là nhà máy để chế tạo hàng ngàn và hàng ngàn sinh viên đã học được tất cả về lý thuyết nhưng không có gì thực tế. Bằng tốt nghiệp không có giá trị gì trong thế giới thực.”

Những vấn đề này xuất phát một phần từ cuộc nổi dậy của sinh viên vào tháng 5, 1968, bắt đầu từ một sự kiện không có gì nổi bật tại Nanterre vào năm trước. Vào một buổi tối tháng Ba, nam sinh viên phản đối việc phân biệt giới tính tại các ký túc xá, chiếm đóng ký túc xá của nữ sinh viên và bị cảnh sát đuổi ra sau đó.

Một năm sau, sinh viên Nanterre phản đối chiến tranh ở Việt Nam chiếm đóng tòa nhà hành chính, đây là hành động phản chiến đầu tiên của sinh viên tại một trường đại học của Pháp. Các cuộc nổi dậy học sinh lây lan, biến thành một phong trào quần chúng nhằm chuyển đổi hệ thống quản trị độc tài ưu tú Pháp. Cuối cùng 10 triệu người lao động bỏ việc đình công đẩy de Gaulle ra khỏi ghế quyền lực.

Một kết quả là hệ thống trường đại học của cả nước được đảm bảo miễn phí ‒ hoặc gần như miễn phí ‒ giáo dục đại học cho mọi người đã tốt nghiệp trường trung học đã đỗ kỳ thi tú tài. Tuyển sinh đại học tăng vọt. Giá trị bằng cử nhân giảm mạnh.

Nhưng nhà nước đã không đầu tư nhiều vào các trường ốc, cơ sở và lương giáo sư để lcho he6. Thống giáo dục hoạt động. Ngày nay chính phủ Pháp phụ cấp 8.500 đô-la một năm cho mỗi sinh viên đại học, khoảng 40 phần trăm ít hơn số tài trợ đầu tư cho mỗi học sinh trung học.

Hầu hết các sinh viên được yêu cầu ghi danh tại các trường đại học gần trường trung học của họ. Mặc dù một số trường đại học xuất sắc trong một số lĩnh vực cụ thể, các khóa học, thí dụ như lịch sử hoặc văn học, nói chung là như nhau trong cả nước.

Vấn đề trầm trọng hơn vì Pháp mắc kẹt giữa khẩu hiệu chính thức cổ suý khái niệm cộng hòa về bình đẳng và cam kết của Pháp về việc nuôi dưỡng một tầng lớp cán bộ ưu tú làm lãnh đạo và các doanh nhân tương lai.

Chỉ có 4 phần trăm sinh viên Pháp lọt vào trong những trường đại học tuyển chọn nhất nước Pháp, những đại học công lập “grandes Ecoles” (“Trường lớn”). Nhưng những “Trường lớn” này cùng với một số trường đại học bán công lại hút mất 30 phần trăm của ngân sách giáo dục.

Những đại học vừa nêu được tổ chức tốt, được trang bị tốt, đa số là sinh viên da trắng ở trên lớp trung lưu, và chắc chắn rằng sinh viên tốt nghiệp sẽ được những công việc tốt nhất trong chính phủ và trong doanh nghiệp tư nhân. Ngay cả sinh viên được trả tiền khi để đi học.

Lệ thường tại Hoa Kỳ dùng nguồn tài chính tư nhân cung cấp một mảng ngân sách đại học là chuyện kỳ lạ ở Pháp. Học phí là khoảng 250 đô-la một năm, không thể xem đó là một nguồn thu nhập đủ cho các trường cao đẳng.

Nhưng yêu cầu dân Pháp phải trả thêm tiền để đi học đại học là chuyện không thể xảy ra. Năm 2003, khi chính phủ đề nghị một cuộc đổi mới để sắp xếp chương trình học và ngân sách bằng cách cho phép mỗi trường đại học thêm tính linh hoạt và độc lập, sinh viên và giáo sư nổi loạn.

Họ đã nhìn thấy các sáng kiến như thế là một bước về hướng đến việc tư nhân hoá giáo dục đại học mà họ lo sợ sẽ dẫn đến việc phải đóng học phí cao hơn và đe dọa quyền vào đại học (miễn phí) của sinh viên tốt nghiệp trung học phổ thông. Chính phủ Pháp lùi bước.

Tại Nanterre, Alexandre Frydlender, 19, một sinh viên năm thứ hai khoa luật và lịch sử, phàn nàn về việc thiếu các khóa học bằng tiếng Anh cho sinh viên của các khoá luật pháp quốc tế. Nhưng khi được hỏi liệu anh sẽ sẵn sàng trả một khoản học phí cao hơn cho các dịch vụ tốt hơn, anh trả lời: “Đại học là một dịch vụ công cộng. Nhà nước phải chi trả.”

Một poster treo khắp khuôn viên trường lặp lại quan điểm, “Đi học là là một quyền, không phải là một đặc quyền.”

Giáo sư thiếu uy tín và thua mức lương so với khu vực tư nhân. Một giảng viên mới bắt đầu có thể kiếm được ít hơn 20.000 đô-la/năm; giáo sư cao cấp nhất tại Pháp kiếm được khoảng 75.000 đô-la/năm. Nghiên cứu của các giáo sư không phải là một ưu tiên.

Vì học sinh thường được yêu cầu đi học ở các trường đại học gần nhà nên phần lớn không sống trong khuôn viên đại học.

Tại Nanterre, ví dụ, chỉ có 1.050 phòng ký túc xá và một danh sách dài sinh viên chờ được vào ở. Ít tiện nghi. Hai mươi hai sinh viên chia nhau dùng ba nhà vệ sinh, ba phòng tắm và nhà bếp được trang bị với một bồn rửa nhỏ và chỉ có vài lò điện.

“Không có nơi để sinh viên có thể hội họp sinh hoạt, không có nơi để chơi đánh bài hoặc để xem một cuộn phim”, Jean Giraud, 20 tuổi, sinh viên luật năm thứ hai sống ở một trong các ký túc xá nói. “Người ta đến lớp học và sau đó về nhà.”

Trong khi sinh viên sẵn sàng phản đối chống lại những điều gì đó họ không thích, nhưng lại rất ít gắn bó với hay tự hào với môi trường xung quanh. Trong các cuộc biểu tình phản đối luật lao động gần đây thái độ chán ghét góp phần vào việc đập phá tài sản chung, ngay cả máy tính và sách, tại một số trường đại học.

Các cuộc biểu tình cũng là những cảnh báo mới nhất cho chính phủ Pháp và những công ty tư nhân rằng hệ thống đại học cần được sửa chữa. Như nhau, quan chức, doanh nhân, giáo sư và sinh viên đồng ý rằng quá nhiều học sinh đang kẹt trong các chuyên ngành như xã hội học hoặc tâm lý học và khó có khả năng thích ứng vào một nghề nghiệp khác trong một xã hội phân tầng như Pháp, nhất là khi kinh tế của đất nước đang cơn rắc rối.

Nỗi sợ thất nghiệp đã đưa thanh niên về nhiều hướng khác nhau. Sinh viên có tiền đang ngày càng chuyển sang các trường đại học nước ngoài hoặc các trường chuyên ngành tư nhân tại Pháp, đặc biệt là cho các trường học sau đại học. Và càng có nhiều người trẻ tuổi đang tìm kiếm một việc làm chắc chắn (cả đời) trong các cơ quan chính phủ.

Trong một bài phát biểu tại Sorbonne vào cuối tháng Tư sau khi đạo luật lao động đã được hủy bỏ, Thủ tướng Dominique de Villepin cam kết “một hiệp ước mới giữa các trường đại học và nhân dân Pháp.”

Ông de Villepin, tốt nghiệp của École Nationale d’Administration (Trường Quốc gia Hành chánh), trường “lớn nhất” trong các trường “đại học lớn”, hứa hẹn nhiều tiền hơn và linh hoạt hơn, nói rằng, cũng như tại Hoa Kỳ, một sinh viên với một bằng thạc sĩ trong triết học sẽ có thể trở thành một nhà phân tích tài chính.

Khi một học sinh hỏi ông giải thích làm thế nào ông đề xuất để làm được điều đó, ông de Villepin đã không có câu trả lời cụ thể. Thay vào đó, ông đã nói chuyện về “hạnh phúc của con chó đã thoát cũi của nó.”

Tuy nhiên, tính linh hoạt không phải là truyền thống của Pháp, nơi mà học sinh được đưa vào con đường sự nghiệp cố định từ khi còn nhỏ.

“Chúng tôi bị kẹt trong một thế giới của giới hạn ở đó không có chuyện những con người tự lập, tự làm nên,” Claire de la Vigne, sinh viên tốt nghiệp Nanterre đang theo học sau đại học ở trường nhiều uy tín hơn, Institut d’Etudes Politiques de Paris. “Chúng tôi không bao giờ được dạy về ý tưởng về giấc mơ Mỹ, nơi mà mọi thứ đều có thể. Kim chỉ nam của chúng tôi là nỗi sợ.”

Thực trạng Người Việt ở Mỹ

Thực trạng người Việt tại Hoa Kỳ
Kết quả các cuộc nghiên cứu xã hội cho chúng ta một cái nhìn thực tế và khách quan hơn về cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ.
Từ mấy chục năm qua, đã có rất nhiều bài viết trên các phương tiện truyền thông đề cập đến sự thành đạt của người Việt đang sinh sống ở khắp thế giới, nhiều người trong số này đã có những đóng góp không nhỏ trong công cuộc phát triển ở quê nhà. Đa phần những Việt kiều ấy là người đã thành danh ở đất khách, đặc biệt là tại Hoa Kỳ. Mặc dù vậy, con số này không phải là nhiều so với cộng đồng người Việt đang sinh sống tại Mỹ.
Mới đây, một số bài viết của các tác giả ở nước ngoài cũng như kết quả các cuộc nghiên cứu xã hội cho chúng ta một cái nhìn thực tế và khách quan hơn về cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Bài viết sau đây tổng hợp từ các nguồn thông tin vừa nói.

Một vài con số
“Nghiên cứu về cộng đồng người Mỹ” (American Community Survey – ACS) là bộ phận quan trọng của chương trình điều tra dân số thập niên 2010, do chính phủ Mỹ thực hiện từ năm 2005, với sự tham dự của khoảng ba triệu đơn vị gia cư. Công bố của ACS cách đây hơn một năm cho thấy người Việt đang sống tại Hoa Kỳ chiếm khoảng 10,5% tổng số người Mỹ gốc châu Á, là cộng đồng lớn thứ tư sau người Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines; đông hơn các cộng đồng Nhật Bản, Lào, Pakistan, Campuchia, Thái Lan và Đài Loan. Trong tổng số gần 1,3 triệu người Việt đang sống tại Mỹ thì hơn 50% nhập cư vào nước này từ sau năm 1990.
Nghiên cứu cho thấy người Việt tại Hoa Kỳ là cộng đồng Á châu trẻ thứ hai sau người Ấn Độ với 73,5% dưới 44 tuổi, trong số này có gần một phần tư là thanh thiếu niên dưới 18.
Về mặt xã hội, tài liệu ACS cho chúng ta một số thông tin rất đáng quan tâm. Chẳng hạn về khả năng sinh sản, cứ 1.000 phụ nữ Việt ở Mỹ thì có đến 71,8 lần sinh trong một năm, cao hơn nhiều so với phụ nữ Hàn Quốc (chỉ 45,9 lần). Nhưng điều đáng nói là phụ nữ Việt Nam đứng đầu về tỷ lệ “single mom” với 18,6% không chồng mà có con, vượt xa mức trung bình của phụ nữ các nước Á châu khác ở Mỹ.
Điều này đặt ra cho các bậc làm cha mẹ người Việt – vốn còn ràng buộc ít nhiều tập quán phương Đông – một sự lo lắng và cần phải quan tâm hơn nữa về vấn đề giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên.
Về tổ chức gia đình thì gia đình người Việt đông thứ nhì sau người Philippines, nhưng tỷ lệ gia đình có đầy đủ chồng-vợ lại thấp nhất trong cộng đồng người châu Á. Phải chăng đây là con số biểu thị tình hình ly dị của người Việt thuộc loại cao, qua danh sách số phụ nữ Việt phải cưu mang gia đình (không có đàn ông) xếp hạng nhì sau người Philippines; đặc biệt số đàn ông Việt làm

Khả năng nói tiếng Mỹ và học vấn chưa cao
Mặc dù cộng đồng người Việt có tỷ lệ đến 79,1% sinh ra tại Mỹ và có cha hay mẹ là dân Mỹ hoặc đã trở thành công dân Mỹ, nhưng về khả năng Anh ngữ thì bảng phân tích cho thấy đây là cộng đồng gìn giữ tiếng quê nhà cao nhất trong sinh hoạt gia đình, chỉ có 11,8% dân Việt nói tiếng Mỹ ở nhà so với 16,9% ở người Hàn hay 53% ở người Nhật. Trong chừng mực, chính điều này đã hạn chế khả năng giao tiếp xã hội khi mà cộng đồng người Việt ở Mỹ có tỷ lệ người kém khả năng Anh ngữ cao nhất, lên đến 55,1% so với 47,6% người Trung Quốc và 48,9% người Hàn Quốc.
Chính khả năng về ngôn ngữ còn thấp khiến cho cộng đồng người Việt ở Mỹ có tỷ số người học lực dưới trung học nhiều nhất (30%). Con số người Việt tại Mỹ tốt nghiệp cử nhân và có bằng cấp sau đại học cũng thấp nhất trong cộng đồng người Mỹ gốc Á châu (23,5%), dưới mức trung bình của toàn nước Mỹ.
Nghề nghiệp và mức sống
Số liệu về phân bố nghề nghiệp, thu nhập trung bình cho thấy tỷ lệ người Việt ở Mỹ làm nghề lao động xí nghiệp và vận tải hàng hóa cao nhất trong cộng đồng châu Á với 21,0%, so với 10% của người Philippines và Hàn Quốc, hai sắc dân có tỷ lệ hành nghề lao động cao đứng ngay sau Việt Nam.
Cũng theo thống kê được công bố, tỷ lệ người Việt tại Mỹ làm việc trong ngành quản trị và chuyên nghiệp thấp nhất so với những sắc dân gốc châu Á khác với 29,2% so với 60,6% người Ấn (mức cao nhất).
Người Việt ở Mỹ có lợi tức gia đình trung bình hằng năm là 45.980 USD và tỷ lệ nghèo là 14%, chỉ cao hơn cộng đồng người Hàn Quốc (có lợi tức gia đình trung bình 43.195 USD và tỷ lệ nghèo 14,9%). Tất nhiên đây là mức nghèo theo tiêu chuẩn Mỹ: chẳng hạn, một gia đình ba người có một trẻ dưới 18 tuổi được xem là nghèo nếu lợi tức gia đình ít hơn 14.974 USD/năm.
Trong hoàn cảnh nghèo hoặc khó khăn nhưng người Việt, cũng như đa phần những người gốc châu Á khác, vẫn thích mua nhà hơn là ở nhà thuê. Có 61,3% người Việt sở hữu nhà tại Mỹ, đứng đầu bảng thống kê. Cho dù không ít người Việt làm ăn thành công tại Mỹ sở hữu những căn nhà vài triệu USD, thì trị giá trung bình của gia cư người Việt chỉ ở mức 207.577 USD, thấp hơn nhiều so với các sắc dân châu Á khác (300.000 USD).

* * *
Có thể nói, sau mấy chục năm tạo dựng cuộc sống mới nơi xứ người, cộng đồng người Việt tại Mỹ đã có những phát triển tích cực và thành đạt nhất định.
Tuy nhiên, thống kê của ACS cũng đã cho thấy một vài điều đáng lưu ý: tỷ lệ nghèo cao nhất nhì; số lượng người làm nghề lao động cao nhất, tỷ lệ thuận với trình độ học vấn và khả năng Anh ngữ kém nhất; tỷ lệ phụ nữ độc thân sinh con gấp đôi trung bình của người gốc Á châu và gần bắt kịp người Mỹ da trắng.
Đó chính là những vấn nạn cần được các tổ chức xã hội của người Việt quan tâm hầu có những phương án khả thi và hiệu quả để điều chỉnh.
Ông Nguyễn Xuân Vinh, giáo sư danh dự ngành Kỹ thuật không gian của Đại học Michigan – Hoa Kỳ, trong quyển sách về người Việt tại Mỹ đã viết với tất cả tâm tình của mình rằng: “…Tôi mong rằng thế hệ của tôi chỉ là lớp người đi trước đặt những viên đá sơ sài lót đường… Sau này các bạn sẽ đạt được những thành công rực rỡ xây nên một đại lộ thênh thang cho toàn thể những người Việt cùng tiến bước, cho non sông được mở mặt với đời….”.
Đó có lẽ cũng là mơ ước của tất cả những người Việt, không chỉ ở đất Mỹ mà ở trên toàn thế giới.
• Theo Phạm Thành Sơn (Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần)

Một góc nhìn khác về Người Việt Nam ở Mỹ

Sau khi đọc bài viết “Thực trạng người Việt tại Hoa Kỳ” của Phạm Thành Sơn, tôi thấy cần phải trao đổi với tác giả một đôi điều mà có lẽ những người không sống ở Mỹ sẽ bị ngộ nhận khi đọc những báo cáo về thống kê dân số của chính quyền Mỹ.

Những con số trên chỉ nói đúng được phần nào trên thực tế nếu ta không xem xét bối cảnh lịch sử, văn hóa và các cuộc di dân lớn của các nhóm người thiểu số ở Mỹ. Phần lớn người Hàn Quốc, người Nhật, người Hoa ở Mỹ đã đến định cư ở đây cả trăm năm trước từ những cuộc di dân nhằm cung cấp lực lượng lao động cho các đồn điền, ngành đường sắt và xây dựng của Mỹ, do đó những thế hệ con cháu của họ bây giờ nói tiếng Anh giỏi và hòa nhập vào xã hội Mỹ là chuyện không có gì lạ.

Trong khi đó ở Ấn Độ tiếng Anh là ngôn ngữ chính dạy trong các trường học. Ấn Độ lại có lịch sử gắn liền với Anh quốc từ hơn trăm năm nay cho nên họ hội nhập vào xã hội phương Tây rất nhanh chóng. Hơn nữa, ở Mỹ ai cũng biết người Ấn Độ nổi tiếng là siêng năng, thông minh nhưng biết nhẫn nhục, lại rất tiết kiệm dè sẻn, không chi tiêu hào phóng như các nhóm người khác. Nếu ai cũng tích lũy tài sản theo kiểu Ấn Độ thì chắc chắn sẽ giàu to nhanh chóng!

Về phần cộng đồng người Việt, các cuộc di dân lớn của người Việt Nam đến Mỹ chỉ xảy ra sau 1975 (di tản) và 1990 (đi theo diện HO), khoảng thời gian hơn 30 năm chỉ đủ để thế hệ thứ nhất ổn định cuộc sống trên vùng đất mới chứ đừng nói đến làm giàu. Phải biết rằng những năm đầu tiên đặt chân đến Mỹ là giai đoạn rất khó khăn cho bất cứ người nhập cư nào và cả con cái của họ. Rào cản ngôn ngữ, khác biệt về phong tục tập quán đi đôi với thiếu thông tin, chậm cập nhật khiến cho người mới nhập cư luôn bị tụt hậu về mọi mặt. Phần lớn người Việt những năm mới sang Mỹ, trừ phi có người nhà bao bọc giúp đỡ, đều sống dưới mức nghèo khổ. Dần dần, cùng với tiếng Anh khá hơn và một số đi học tốt nghiệp ra trường, họ tìm được việc làm có lương cao hơn, rồi mua nhà tốt hơn, xe mới hơn. Trong giai đoạn đầu, chính con cái của người Việt nhập cư, thế hệ thứ hai, cũng gặp không ít khó khăn vì cha mẹ của chúng do không nói được tiếng Anh nên không biết cách hướng dẫn và giúp đỡ chúng nhiều trong việc học tập và hoạt động ở trường. Từ đó thế hệ thứ hai cũng chưa thành công đúng mức về học tập cũng như phát triển bản thân.

Nếu muốn so sánh sự thành công của cộng đồng người Việt với các cộng đồng thiểu số khác, phải chờ thêm khoảng 15 năm nữa khi thế hệ thứ ba, thứ tư của người Việt bắt đầu tốt nghiệp đại học, ra trường có việc làm có lương và xây dựng gia đình. Theo ước tính cá nhân tôi, có đến 85% con em người Việt Nam trong tương lai sẽ có bằng cử nhân và cao hơn.

Hy vọng vài dòng tóm tắt này sẽ giúp chúng ta có cái nhìn rõ ràng hơn đằng sau những con số khô khan kia.

Theo Vân Nguyễn (Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần)

Bài nói chuyện của Steven Jops với SV đại học Standford

Bài diễn văn của ông Steven Jobs đọc trong buổi lễ ra trường của đại học Standford. Ông là người sáng lập ra hãng Apple rất nổi tiếng ở Silicon Valley. Rất nhiều người biết đến ông, nhất là trong ngành IT. Steven Jobs theo Phật Giáo, và có thời gian tu tập tại Ấn Độ, và là một người ăn chay trường.

Đây là bài diễn văn của ông:
Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học.
Nói một cách trung thực nhất thì thực ra, tôi chưa bao giờ học đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra trong cuộc đời tôi. Chỉ như vậy thôi, không có gì to lớn, chỉ đơn giản là ba câu truyện.
Câu chuyện thứ nhất là về việc kết nối những dấu chấm
(Connecting the dots – nối những dấu chấm từ hàng vạn cái chấm hỗn độn – để thấy con đường mình sẽ phải đi) Tôi đã bỏ học chỉ sau sáu tháng theo học trường cao đẳng Reed, tôi lưu lại đó tạm thời trong vòng 18 tháng nữa trước khi tôi chính thức rời trường Reed.
Tại sao tôi lại bỏ học?
Tôi đã bắt đầu điều đó khi tôi mới được sinh ra. Mẹ ruột của tôi là một nữ sinh viên trẻ, độc thân và bà đã quyết định cho tôi đi làm con nuôi. Bà thực sự muốn tôi được làm con nuôi của những người đã tốt nghiệp đại học. Vì thế, tất cả mọi chuyện đã được sắp đặt để tôi trở thành con nuôi của một cặp vợ chồng luật sư. Tuy nhiên, tất cả chuyện đó đã bị thay đổi ở phút cuối cùng khi tôi vừa cất tiếng khóc chào đời, họ đã đổi ý và muốn nhận một đứa bé gái làm con nuôi chứ không phải tôi.
Chính vì thế, bố mẹ nuôi của tôi hiện giờ đã nhận được một cú điện thoại vào lúc nửa đêm hỏi có muốn nhận tôi, một đứa bé trai được sinh ra không mong đợi, làm con nuôi hay không. Bố mẹ tôi đã trả lời rằng tất nhiên rồi. Tuy nhiên, sau đó, mẹ ruột của tôi biết được mẹ nuôi tương lai của tôi chưa tốt nghiệp đại học và bố nuôi của tôi chưa tốt nghiệp trung học, bà đã từ chối ký vào giấy tờ giao nhận con nuôi. Một vài tháng sau bà mới đồng ý khi bố mẹ nuôi của tôi hứa sẽ cho tôi đi học đại học.
17 năm sau, tôi cũng vào đại học, nhưng tôi đã rất ngây thơ khi chọn một trường đại học danh giá ngang hàng với Stanford. Tất cả tiền tiết kiệm của bố mẹ tôi đã phải dành để đóng học phí cho tôi. Sau sáu tháng, tôi chẳng thấy được ích lợi gì của việc học đại học. Tôi chẳng có một câu trả lời nào về việc tôi sẽ làm gì với cuộc đời của mình và cũng chẳng tin rằng trường đại học có thể giúp tôi trả lời câu hỏi đó. Tôi đã tiêu tất cả tiền tiết kiệm của bố mẹ tôi dành dụm phòng khi về hưu vào trường đại học. Vì vậy tôi đã quyết định bỏ học và tin tưởng rằng rồi mọi chuyện cũng sẽ tốt đẹp thôi.. Tại thời điểm đó, mọi việc dường như có vẻ rất khó khăn nhưng khi nhìn lại, tôi lại thấy rằng đó là một quyết định đúng đắn nhất của tôi. Giây phút mà tôi bỏ học, tôi đã từ bỏ những môn học mà tôi không hề thích, thay vào đó, tôi bắt đầu tìm hiểu những môn học khác có vẻ như thú vị hơn rất nhiều.
Mọi chuyện không diễn ra nhẹ nhàng một chút nào. Tôi không có phòng trọ vì thế, tôi phải ngủ nhờ dưới sàn nhà trong phòng trọ của các bạn tôi. Tôi kiếm tiền mua đồ ăn bằng 5$, tiền công trả lại các chai Coca-cola và mối tuần tôi đi bộ 7 dặm qua phía bên kia thành phố để có được một bữa ăn ngon ở trại Hare Krishna. Tôi rất thích những món ăn ở đó. Sau này, tôi mới biết được rằng những gì mà tôi đã phải trải qua khi cố gắng theo đuổi niềm đam mê của mình là vô giá. Tôi sẽ lấy một ví dụ cho các bạn:
Có lẽ ở thời điểm đó, trường Reed là trường duy nhất của cả nước giới thiệu nghệ thuật viết chữ đẹp. Ở tất các các khu học xá, tất cả các poster, tiêu đề của tất cả các tranh vẽ đều được viết tay rất đẹp. Vì tôi đã thôi học và không phải tham gia vào những khóa học bắt buộc thông thường nên tôi đã quyết định tham gia khóa học nghệ thuật viết chữ đẹp. Tôi học cách viết các chữ có nét ở chân, những biến đổi về khoảng cách giữa các nét chữ, học cách trình bầy một bản in lớn sao cho đẹp. Tôi nhận thấy rằng đây là một môn học mang tính nghệ thuật, lịch sử và đẹp một cách tinh vi mà khoa học không thể làm được.
Những thứ đó dường như chẳng có ý nghĩa thực tế gì cho cuộc sống của tôi. Tuy nhiên, 10 năm sau này, khi chúng tôi đang thiết kế thế hệ đầu tiền của máy tính Machintosh, tất cả những điều đó dường như lại trở lại với tôi và chúng tôi đã thiết kế để cài đặt tất cả những mẫu chữ đó vào máy tính, Machintosh là máy tính đầu tiên có những mẫu chữ nghệ thuật rất đẹp. Nếu như tôi không tham gia vào khóa học đó ở trường thì Mac sẽ chẳng bao giờ có nhiều phông chữ như vậy. Kể từ khi Windows copy những mẫu chữ đó của Mac thì không có một máy tính cá nhân nào không có những phông chữ đó. Nếu tôi không bỏ học và không tham gia vào khóa học viết chữ đẹp thì tất cả các máy tính cá nhân bây giờ có thể chẳng có được chúng. Tất nhiên là khi tôi đang ở trường đại học thì tôi không thể kết nối những điểm mốc đó khi nó còn đang ở tương lai phía trước. Nhưng 10 năm sau thì những điều đó rất, rất rõ ràng.
Một lần nữa tôi muốn nói với các bạn rằng, chúng ta không thể biết những điểm mốc có nối kết với nhau trong tương lai không, các bạn chỉ có thể biết những điều đó khi nhìn lại mà thôi. Vì thế, các bạn hãy tin tưởng rằng, theo một cách nào nó, những điểm mốc sẽ nối kết với nhau trong tương lai của bạn. Các bạn cũng cần phải tin vào một số thứ khác như: sự quyết tâm, vận mệnh, cuộc sống, nhân quả hoặc bất cứ cái gì. Phương pháp đó chưa bao giờ làm tôi thất vọng và nó đã tạo ra những thay đổi trong cuộc sống của tôi.
Câu chuyện thứ hai của tôi là về tình yêu và sự mất mát.
Tôi đã rất may mắn khi tôi đã muốn bắt đầu làm việc từ rất sớm. Woz và tôi đã bắt đầu những trang đầu tiên cho lịch sử của Apple trong gara của bố mẹ tôi khi tôi mới 20 tuổi. Chúng tôi đã làm việc rất chăm chỉ để sau 10 năm, từ chỗ chỉ có 2 người, trong cái gara bé nhỏ, Apple đã phát triển thành một công ty trị giá 2 tỷ đô la Mỹ với hơn 4000 nhân viên. Một năm trước đây, chúng tôi vừa mới bỏ đi sáng tạo đầu tiên của mình, máy tính Macintosh và tôi vừa mới bước sang tuổi 30. Sau đó, tôi bị sa thải. Làm sao mà bạn lại có thể bị sa thải bởi một công ty mà bạn đã sáng lập ra nó ? Oh, khi mà Apple đã phát triển lớn hơn, tôi đã thuê một người mà tôi đánh giá là có khả năng cùng tôi lãnh đạo công ty.
Khoảng một năm gì đó, tình hình có vẻ rất khả quan. Nhưng sau đó, quan điểm của chúng tôi về tương lai bắt đầu khác nhau, thậm chí chúng tôi còn trở nên bất hòa. Khi có mối bất hòa đó xẩy ra giữa chúng tôi, hội đồng quản trị đã đứng về phía anh ta, và tôi, ở tuổi 30, đã bị sa thải một cách rất rõ ràng. Những điều mà tôi theo đuổi trong suốt cuộc đời đã biến mất, chúng đã bị phá hủy.
Trong một vài tháng, tôi đã thực sự chẳng biết phải làm cái gì. Tôi cảm giác rằng mình đã làm cho những thế hệ đi trước tôi thất vọng và rằng tôi đã đánh rơi lá cờ khi nó đã được chuyền đến tay tôi. Tôi đã gặp David Packard và Bob Noyce, cố gắng xin lỗi cho việc cư xử không hay của mình. Tôi đã thua một cách rõ ràng và thậm chí, tôi đã có ý định bỏ cuộc. Nhưng có một cái gì đó bắt đầu chậm chậm sáng lên trong tôi. Tôi vẫn rất yêu quý những gì tôi đã tạo ra. Sự việc xẩy ra ở Apple có thay đổi tình yêu đó một chút nhưng trong tôi, tình yêu ấy vẫn còn. Chính vì thế, tôi đã quyết định bắt đầu lại.
Ngay lúc đó tôi không nhận thấy, nhưng sau này, tôi mới biết rằng việc tôi bị Apple sa thải hóa ra lại là một việc tốt đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Gánh nặng của sự thành công đã được thay thế bằng ánh sáng của sự bắt đầu mới tuy không có điều gì chắc chắn. Tôi đã để cho mình tự do bước vào một quãng đời đầy những sáng tạo của cuộc đời mình.
Trong khoảng 5 năm sau đó, tôi đã bắt đầu xây dựng công ty NeXT và một công ty khác tên là Pixar. Tôi gặp và đã yêu một người phụ nữ tuyệt vời, chính là vợ tôi sau này. Pixar đã sáng tạo ra phim truyện hoạt hình máy tính đầu tiên trên thế giới, câu chuyện đồ chơi. Hiện tại, nó đã trở thành xưởng phim hoạt hình thành công nhất trên thế giới. Một sự kiện thay đổi đáng ghi nhớ đã xẩy ra khi Apple mua NeXT, tôi trở lại Apple, những kỹ thuật mà NeXT đã phát triển trở thành nguồn sinh khí cho thời kỳ phục hồi của Apple.
Tôi và Laurene cũng có một gia đình hạnh phúc.
Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng tất cả những điều đó sẽ chẳng bao giờ xẩy ra nếu tôi không bị Apple sa thải. Đó là một viên thuốc đắng nhưng tôi chắc bệnh nhân sẽ rất cần đến nó.
Đôi khi cuộc sống dường như muốn cố tình đánh ngã bạn. Nhưng hãy đừng mất lòng tin. Tôi biết chắc chắn rằng, điều duy nhất đã giúp tôi tiếp tục bước đi chính là tình yêu của tôi dành cho những gì tôi đã làm. Các bạn phải tìm ra được cái các bạn yêu quý. Điều đó luôn đúng cho công việc và cho cả những người thân yêu của bạn. Công việc sẽ chiếm phấn lớn cuộc đời bạn và cách duy nhất để thành công một cách thực sự là hãy làm những việc mà bạn tin rằng đó là những việc tuyệt vời. Và cách để tạo ra những công việc tuyệt vời là bạn hãy yêu việc mình làm. Nếu như các bạn chưa tìm thấy nó, hãy tiếp tục tìm kiếm. Đừng bỏ cuộc bởi vì bằng trái tim bạn, bạn sẽ biết khi bạn tìm thấy nó. Và cũng sẽ giống như bất kỳ một mối quan hệ nào, nó sẽ trở nên tốt dần lên khi năm tháng qua đi. Vì vậy hãy cố gắng tìm kiếm cho đến khi nào bạn tìm ra được tình yêu của mình, đừng từ bỏ.
Câu chuyện thứ ba của tôi là về cái chết.
Khi tôi 17 tuổi, tôi đã đọc được một câu châm ngôn như sau: Nếu bạn sống mỗi ngày đều như ngày cuối cùng của cuộc đời mình, một ngày nào đó bạn sẽ hoàn toàn tin tưởng rằng bạn đã đúng. Câu châm ngôn đó đã để lại ấn tượng rất sâu trong tôi và kể từ đó, trong suốt 33 năm qua, tôi luôn nhìn vào gương mỗi buổi sáng và tự hỏi mình: nếu ngày hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc đời tôi, tôi sẽ muốn làm gì và tôi chuẩn bị làm gì hôm nay? Và nếu trong nhiều ngày, câu trả lời vẫn là “không” thì tôi biết, tôi cần phải thay đổi điều gì đó.
Suy nghĩ rằng mình sắp chết chính là điều quan trọng đã động viên tôi tạo ra cơ hội lớn cho cuộc đời mình. Bởi vì tất cả mọi điều từ sự kỳ vọng của mọi người vào bạn, tất cả mọi niềm tự hào cho đến nỗi sợ phải đổi mặt với sự xấu hổ hay thất bại, tất cả sẽ biến mất khi bạn phải đổi mặt với cái chết. Khi đó, chỉ còn lại điều gì thực sự quan trọng.Ý nghĩ rằng chúng ta đang đối mặt với cái chết, khi chúng ta sắp chẳng còn gì nữa, là cách tốt nhất mà tôi biết để tránh khỏi việc chúng ta cảm thấy sợ hãi khi sắp đánh mất đi thứ gì đó.
Chẳng có lý do gì để bạn không lắng nghe sự mách bảo của trái tim mình.
Khoảng một năm trước đây tôi đã bị chẩn đoán là bị ung thư. Tôi đã chụp cắt lớp lúc 7:30 sáng và trên phim hiện rõ ràng một khối u trong tuyến tụy. Thậm chí tôi chẳng biết tuyến tụy là cái gì. Các bác sỹ nói với tôi rằng đây là một dạng của ung thư và bệnh này không chữa được, rằng tôi nên chuẩn bị tinh thần mình sẽ chỉ sống được từ 3 đến 6 tháng nữa thôi. Bác sỹ của tôi khuyên tôi về nhà và sắp xếp lại các công việc của mình, đó là cách họ nói khi khuyên bệnh nhân chuẩn bị cho cái chết. Điều đó có nghĩa là hãy về và sử dụng mấy tháng còn lại để nói với các con bạn những gì mà bạn dự định sẽ nói với chúng trong khoảng mười năm tới. Điều đó cũng có nghĩa là hãy cố gắng kín đáo để gia đình bạn có thể chấp nhận điều này một cách dễ dàng hơn. Điều đó có nghĩa là bạn hãy nói lời vình biệt.
Tất cả mọi ngày tôi đều sống với sự chẩn đoán đó. Sau đó, vào một buổi tối, tôi tiến hành kiểm tra sinh thiết, họ đút một cái ống qua cổ họng tôi, luồn sâu xuống dạ dày, sâu xuống ruột, ấn một cái kim vào tuyến tụy của tôi để lấy mẫu một số tế bào của khối u. Khi đó, tôi rất bình thản, nhưng vợ tôi, người có mặt lúc đó đã kể với tôi rằng khi các bác sỹ phân tích những tế bào đó dưới kính hiển vi, họ đã reo lên khi phát hiện ra rằng đây là một trường hợp ung thư tuyến tụy hiếm hoi có thể chữa được bằng cách phẫu thuật. Tôi đã được phẫu thuật và bây giờ tôi đã khỏe lại.
Đó là cảm giác mà tôi đã có khi phải đối mặt với cái chết và tôi cũng hy vọng tôi sẽ còn cái cảm giác đó một vài thập kỹ nữa. Khi đã từng trải qua điều đó, tôi có thể nói với các bạn một cách chắn chắn hơn là chỉ đơn thuần nhắc đến cái chết như là một điều hữu ích nhưng chỉ hoàn toàn là một nội dung mang tính trí tuệ mà thôi.
Không ai muốn chết. Thâm chí những người muốn được lên thiên đàng cũng không muốn chết chỉ vì muốn được lên đó. Và cái chết là cái đích mà tất cả chúng ta đều phải đến, không ai trong chúng ta thoát khỏi nó. Và đó là cách mà nó phải diễn ra bởi lẽ cái chết chính là sáng tạo tuyệt vời nhất của cuộc sống. Đó chính là tác nhân thay đổi cuộc sống. Nó loại đi những người già để mở đường cho những người trẻ. Ngay lúc này, các bạn đang là những người trẻ tuổi, nhưng sẽ không lâu nữa, khi các bạn tốt nghiệp, rồi trở nên già đi, và sẽ bị loại bỏ.
Tôi xin lỗi vì có vẻ như tôi hơi xúc động nhưng điều đó là sự thật. Thời gian của các bạn là có hạn, vì thế đứng lãng phí để sống cho một cuộc đời ai đó. Đừng nhốt mình trong những tín điều nào đó, sống như vậy là sống bằng suy nghĩ của những người khác. Đừng để quan điểm của những người khác làm mờ nhạt đi quan điểm của chính bản thân bạn.
S.T Điều quan trọng nhất là bạn hãy dũng cảm đi theo sự mách bảo của trái tim và trực giác của mình. Bằng cách nào đó, chúng biết rõ bạn thực sự muốn trở thành cái gì. Những điều khác chỉ là thứ yếu.
Khi tôi còn trẻ, có một cuốn sách kỳ lạ được xuất bản với cái tên Cẩm nang toàn thế giới, cuốn sách này giống như kinh thánh của thế hệ chúng tôi. Người sáng tạo ra cuốn sách này là Steward Brand, một nghiên cứu sinh ở Menlo Park, cách đây không xa. Anh ta đã tạo ra nó bằng cảm giác đầy tính thi sỹ của mình. Thời điểm đó là vào cuối thập kỷ 60, trước khi có máy tính cá nhân và máy tính sách tay. Tất cả cuốn sách được đánh bằng máy chữ, cắt bằng kéo và bằng máy ảnh. Nó giống như trang Google trên giấy vậy, 35 năm trước khi có trang Google. Nó thực sự mang tính duy tâm, được tạo ra từ những công cụ tinh xảo và những ý tưởng vĩ đại.
Steward và các đồng sự của ông đã xuất bản một số tập của Cẩm nang toàn thế giới và sau đó, họ xuất bản tập cuối cùng. Thời gian đó vào khoảng giữa những năm 70 và tôi chỉ bằng tuổi các bạn bây giờ. Ở trang bìa sau của cuốn sách có in ảnh một con đường vùng nông thôn trong ánh bình minh, điều mà bạn có thể tìm thấy sự an bình nếu bạn là người ưa mạo hiểm. Bên dưới tấm ảnh có dòng chữ: “Hãy luôn khao khát. Hãy cứ dại khờ“ Đó là lời tạm biệt của họ khi kết thúc cuốn sách. “Hãy luôn khao khát. Hãy cứ dại khờ” Và tôi luôn cầu chúc điều đó cho chính mình. Ngày hôm nay, các bạn đã tốt nghiệp và chuẩn bị bước vào con đường mới, tôi cầu chúc điều đó cho các bạn.
Hãy luôn khao khát. Hãy cứ dại khờ.
Cảm ơn các bạn rất nhiều

Bài sưu tầm

Phóng sự ảnh: Hội ngộ mùa thu 3 của Hanoi bloggers

>Mời xem phóng sự ảnh và clip của Đặng Minh Liên về cuộc Hội ngộ mùa thu 3 của các bloggers Hà Nội
Sáng 8 – 11 tại Ba mẫu quán diễn ra cuộc gặp gỡ đông vui của anh chị em – cao nhất ngoài 70, thấp nhất dưới 30 tuổi

Rất nhiều ảnh và 1 clip “Khúc hát sông quê” với ca sỹ Minh Phương hát bài của Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã được up lên

Nhấn vào bất kỳ ảnh nào cũng xem được clip bài h
át trên Youtube

IMG_1474IMG_1470
IMG_1475
IMG_1472

IMG_1471
IMG_1463
IMG_1461
IMG_1457
IMG_1456
IMG_1455
IMG_1400

IMG_1451
IMG_1453


IMG_1450
IMG_1449
IMG_1447
IMG_1444
IMG_1442
IMG_1440
IMG_1439
IMG_1437IMG_1434IMG_1430IMG_1427IMG_1423IMG_1418IMG_1414IMG_1412IMG_1411IMG_1409IMG_1406IMG_1401IMG_1398IMG_1376IMG_1377IMG_1476IMG_1478IMG_1479

IMG_1466

Hội ngộ mùa thu 3

[caption id="attachment_346" align="aligncenter" width="300" caption="Ảnh off Hà nội bloggers"]IMG_1465[/caption] IMG_1400
IMG_1467

IMG_1468

IMG_1468
<a href=" “>

Về trí thức Việt Nam

Trích:Bài của TS Hoàng Kim Phúc – đại học Oxford góp một cái nhìn đáng tham khảo về chất lượng trí thức nước ta cũng như hướng đào tạo sử dụng năng lực trí thức

Thôi thì ta tạm gọi những người được đào tạo có trình độ đại học trở lên ở Việt Nam là trí thức, mặc dù GS Phan Đình Diệu đã từng cho rằng Việt Nam chưa có đội ngũ trí thức theo đúng nghĩa.

Nhắc lại như vậy để thấy, loại trí thức cây Đa, cây Gạo ở Việt Nam hầu hết là bắt nguồn đào tạo từ “lò” Liên Xô, Đông Đức, Trung Quốc và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) cũ. Riêng Liên Xô (cũ) cho tới lúc rã đám (1990) đã đào tạo cho Việt nam 52.000 đại học, sau đại học và khoảng 100.000 công nhân kỹ thuật. Trong suốt chiều lịch sử của chiến tranh lạnh, do lằn phân chia ý thức hệ, “kênh” thông thương của trí thức Việt nam với thế giới cơ bản là các nước XHCN.

Khối XHCN Đông Âu sập đổ, giới trí thức Việt Nam mất đi chỗ dựa tinh thần và hệ thống chính trị thì mất điểm tựa về ý thức hệ. Trí thức Việt Nam đồng thời mất cơ hội đào tạo cơ bản và nâng cao trình độ, nhưng nghiêm trọng nhất là mất đi “chiếc cầu trung gian” để giúp họ mường tượng ra thế giới bên ngoài đã biến đổi sang nền kinh tế tri thức như thế nào, dù rằng trình độ của các nước Đông Âu lúc ấy còn đi sau các nước Tây Âu hàng chục năm.

Mô hình công nghiệp ở những năm cuối thập kỷ 80 tại Liên xô và Đông Âu là những công xưởng “đại tướng” nhưng lãng phí tài nguyên, năng lượng và ô nhiễm. Nền công nghiệp hóa được vẽ ra bởi đội ngũ trí thức lãnh đạo Việt nam cho tương lai 2020, có dáng dấp của “thời đại công nghiệp” này vay mượn cách tổ chức của các tập đoàn công nghiệp Hàn Quốc.

Trong các quốc gia phát triển, giới trí thức thường đi đầu trong các trào lưu tư tưởng và sáng tạo, làm lực lượng tiên phong đưa cả xã hội đi lên. Có thể gọi đó là tính tiên phong và “lãng mạn” mà xã hội đòi hỏi ở đội ngũ này.

Sức mạnh của trí thức phụ thuộc vào chất lượng đào tạo, trình độ cập nhật thông tin và điều kiện tự do tư tưởng. Thiếu một trong ba yếu tố trên, giới trí thức không thể phát triển được. Cả ba điều trên đều là những thứ còn thiếu vắng trong xã hội Việt nam hiện nay.

Trong cả một thập kỷ 90 biến động và “cô lập”, giới khoa bảng Việt Nam xào xáo lại những kiến thức cũ, quay lại đào tạo lẫn nhau theo những quy chuẩn tự họ đặt ra. Đa phần những “tri thức” này giúp họ hợp thức hoá bằng cấp để giành chỗ trong hệ thống chính trị nhưng nó còn ít giá trị phục vụ xã hội vì đã lỗi thời. Lớp cán bộ này hiện nay đang nắm hầu hết các vị trí quan yếu của đất nước.

Nền tảng tri thức như vậy dĩ nhiên dẫn tới sự mất niềm tin vào khả năng tự tác nghiệp khi cọ sát với sự phát triển khoa học, công nghệ chóng mặt ở thế giới.

Thiếu niềm tin vào năng lực tri thức cùng thứ văn hóa Khổng nho, gia trưởng được xây trên nền tảng nhất nguyên ý thức hệ được tuyên huấn ngay từ thơ ấu đã đẩy lớp người đang nắm quyền lực trong các sở, vụ, viện, bộ, trung ương … tới một trạng thái tâm lí duy lợi, và giữ quyền lực bằng mọi giá. Tâm tư phổ biến của lớp cán bộ này là nhìn sự nhũng lạm quyền lực với con mắt vừa căm ghét, vừa thèm khát nhưng cũng đầy sợ sệt. Thực trạng mua quan bán tước rộng khắp từ thấp tới cao là một hệ quả nhỡn tiền.

Mọi thứ lý tưởng hoa mỹ sau “sụp đổ Đông âu” chỉ còn là màn trình diễn nhằm biện bạch cho tính chính thống hay tính tiên phong mà thực ra họ đã không còn thủ đắc nữa.

Phía bên kia

Trong những năm tháng đó, ở phía bên kia của lát cắt có một thành phần mới khác đang lớn lên. Dẫn đầu họ là những trí thức xuất sắc do may mắn nào đó “sống sót” sau những cơn “lũ quét” hồng hơn chuyên như Hoàng Tụy, Lê Đăng Doanh, Nguyễn Quang A…

Lớp trẻ hơn nằm trong nhóm người may mắn tìm được cơ hội đào tạo từ ở những nước dân chủ phát triển, bao gồm một số “con ông cháu cha”, hay những du học sinh cuối cùng ở Đông Âu XHCN tìm được cơ hội học tập và làm việc ở nước thứ ba. Số khác được đào tạo tại Việt Nam nhưng sau đó có cơ hội làm việc và trưởng thành trong các công ty, tổ chức nước ngoài, thậm chí đang làm việc trong thể chế nhưng bắt buộc phải cọ sát có hệ thống với bên ngoài do công việc đòi hỏi. Nhiều người là du học tự túc.

Sự khác biệt cơ bản của tập hợp này với những người ở phía bên kia lát cắt không hẳn là nền tảng tri thức nghề nghiệp cập nhật, tiếng Anh hoặc phương pháp tổ chức làm việc hiệu quả, vì đó chỉ là những kĩ năng nếu có đầu tư và phương cách đúng là có thể đào tạo được ở Việt Nam.

Nhiều người Việt đang được các trường lớn ở phương Tây đào tạo
Khác biệt chính là ý thức của họ về một xã hội dân chủ.

Hoàn cảnh cọ sát học tập và làm việc đã chỉ cho họ một điều rõ ràng rằng “hoàn toàn có thể xây dựng một xã hội ít tham nhũng hơn, con người có cơ hội được đào tạo và chăm sóc sức khỏe tốt hơn nếu vận hành xã hội theo những nguyên tắc kỹ trị trên nền tảng của dân chủ và thượng tôn tam quyền phân lập.

Mặc dù về số lượng họ còn rất nhỏ so với cả một bộ máy cầm quyền, chưa kể bộ máy này còn luôn được bổ sung những “kế cận” là sản phẩm của nền giáo dục lạc hậu đang tạo ra, nhưng nhóm “thiểu số” này có những điểm mạnh tuyệt đối, đó là nó phát triển đúng với xu thế của nhân loại nên được bổ sung liên tục bởi nhiều phần tử trẻ từ lát cắt bên kia, mỗi khi họ có cơ hội đào tạo ở thế giới văn minh và nhận thức lại. Hơn nữa, khát vọng của “tập hợp” này hướng tới chính là ước vọng của cả dân tộc. Khát vọng mà trào lưu cộng sản đã hứa mang đến nhưng thất bại vì chính những phi lí từ nguyên lí của nó.

Thực tế và viễn cảnh

Người Việt chưa có văn hóa phản đối tập thể nhưng việc hàng ngàn cán bộ có năng lực, sau khi được đào tạo, bỏ “khu nhà nước” để ra tư nhân thực chất là họ đã “tỏ thái độ bằng chân” thể hiện sự xung đột mạnh mẽ giữa hai lát cắt này.

Mâu thuẫn kể trên sẽ bị trầm trọng hóa và biến thành đối kháng khi những vấn đề liên quan tới ngoại xâm và an ninh quốc gia nổi lên, vì lúc đó sự cố kết để giữ quyền lợi của các nhóm quyền lực và lợi ích trở thành vật cản để đất nước cải biến và tìm lối thoát hiểm cho cả dân tộc.

Từ thực tế trên cho thấy, ngay cả những tinh hoa trí thức hiện tại đang sống trong nước cũng không được phát huy hay sử dụng hiệu quả, thì việc kêu gọi góp sức chấn hưng đất nước từ trí thức Việt kiều, những người đang sống và làm việc trong môi trường tự do, với nhân sinh quan và thế giới quan khác biệt với không gian chính trị trong nước sẽ khó mà đồng điệu và khả thi.

Để một đất nước phát triển bền vững, giới cầm quyền cần nhận thức những quy luật có tính tất yếu để tìm kiếm những chính sách phù hợp, giải phóng năng lực sáng tạo và tránh tổn thất. Điều đó sẽ khôn ngoan hơn là làm chậm sự phát triển quy luật bằng mọi giá. Hơn nữa, chỉ khi nào những mâu thuẫn nội tại giữa quyền lực và tri thức bên trong giới trí thức tại Việt Nam được giải quyết thì khi đó mới hy vọng động viên hiệu quả trí tuệ của trí thức Việt kiều.

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/

Xã hội cần gì ở người trí thức?

Xã hội cần những trí thức suy nghĩ độc lập

Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, Phó Giám đốc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, là một trong những chuyên gia trẻ được nhiều người biết. Anh là thành viên nhóm nghiên cứu của Trường Kennedy thuộc Đại học Harvard (Hoa Kỳ), tham gia thực hiện bốn bài thảo luận chính sách theo đề nghị của Chính phủ Việt Nam, là “cánh chim báo bão” nhẫn nại với nhiều bài báo đề cập những giải pháp tháo gỡ khó khăn từ một số chính sách của Nhà nước. Người đàn ông 36 tuổi này là thế hệ thứ ba trong một gia đình có truyền thống làm nghề dạy học.

Gặp Vũ Thành Tự Anh không dễ. Một phần vì công việc của anh khá bận rộn, phần khác vì anh ngại nói về mình. Ở anh có sự khiêm cung của một nhà giáo, thái độ điềm tĩnh của một nhà nghiên cứu và tâm thế dấn thân của một trí thức có lòng với đất nước.
Được thành lập từ năm 1994, chuyên giảng dạy và nghiên cứu về chính sách công, nhưng dường như những góp ý từ Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright về các vấn đề chính sách mới chỉ xuất hiện trong thời gian năm, sáu năm trở lại đây?

Trong thời gian gần mười năm đầu kể từ khi mở trường, chúng tôi tập trung vào những vấn đề chuẩn tắc của kinh tế học cơ bản, nhằm hỗ trợ quá trình chuyển đổi khung tư duy từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường, tạo ra một “ngôn ngữ chung” để chuẩn bị cho những thảo luận sau này, đồng thời giúp cho hệ thống làm chính sách tiếp cận với nhiều tài liệu khác, chẳng hạn như của Ngân hàng Thế giới, IMF hay UNDP…
Trong giai đoạn đầu của chuyển đổi, khác với trường chúng tôi, vị thế quốc tế và đa phương của các tổ chức này giúp những phân tích chính sách của họ đến được với Chính phủ. Thêm nữa, trường chúng tôi cũng cần thời gian để tạo dựng niềm tin đối với các cơ quan của Nhà nước và với xã hội.
Từ những năm 2000, chúng tôi tiến hành nhiều phân tích chính sách hơn, và đến năm 2007, chúng tôi xuất bản quyển Lựa chọn thành công và sau đó là một số bài phân tích chính sách theo yêu cầu của Chính phủ, thảo luận những vấn đề chính sách quan trọng của Việt Nam để giúp nền kinh tế vượt qua bất ổn vĩ mô, trở lại quỹ đạo tăng trưởng bền vững trong dài hạn.
Việt Nam chủ trương mở cửa từ năm 1986 nhưng đến đầu thập niên 1990 mới có những chuyển biến tương đối rõ nét. Theo anh, cánh cửa đã thực sự mở đối với mọi tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là với đội ngũ trí thức?
Nhìn lại lịch sử đất nước, đội ngũ trí thức ở Việt Nam nếu có tồn tại thì thường gắn bó chặt chẽ với chính quyền. Những người có tiếng nói cách tân độc lập như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ… bao giờ cũng rất hiếm hoi. Trong hai thập niên trở lại đây, những người trí thức có điều kiện trở nên độc lập hơn nhờ xu thế phát triển chung của đất nước. Trong thời gian qua, chúng ta thấy một số trí thức đã từng cống hiến nhiều năm ở các cơ quan nhà nước chuyển sang làm việc ở khu vực dân doanh, liên doanh, doanh nghiệp nước ngoài hoặc thậm chí ra nước ngoài làm việc.
Việc bốn nhà văn Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt, Hoàng Cầm được trao tặng Giải thưởng Nhà nước trong năm 2007 là sự thừa nhận về những giá trị đích thực sẽ luôn sống cùng thời gian.
Phải chăng người trí thức trong xã hội chúng ta vẫn còn mang trên vai một gánh nặng quá khứ ngột ngạt?
Đó là phản ứng có tính tự nhiên. Tuy vậy, tôi nghĩ thái độ thận trọng có thể chia thành hai nhóm: tiêu cực và tích cực. Những người thận trọng một cách tiêu cực là tròn vo như quả bóng, không có kẽ hở để tấn công, có ngã cũng không tổn thương. Còn thận trọng tích cực là cố gắng hiểu để đẩy cái giới hạn lên cao và ra xa hơn.
Trong ngành hàng không có một thuật ngữ rất hay là “push the envelope.” “Envelope” ở đây không phải là “phong bì” theo nghĩa bình thường, mà trong kỹ thuật hàng không, nó miêu tả “phạm vi an toàn” (hay giới hạn trên và giới hạn dưới) của những nhân tố như tốc độ bay, công suất động cơ, độ cao, tốc độ gió v.v. Như vậy, “push the envelope” có nghĩa là kiểm nghiệm những giới hạn đó để xem phạm vi bay an toàn có thể xa đến đâu. Đương nhiên, trên thực tế, xác định được cái lằn ranh nhiều khi mong manh đó rất khó, quá một chút thì vượt giới hạn, có thể gặp nguy hiểm, bước lui một chút thì lại thành ra thận trọng tiêu cực.
Mới đây, Chính phủ đã ban hành Quyết định 97, một vài điều khoản giới hạn phạm vi phản biện đối với các tổ chức khoa học công nghệ. Theo anh, phản biện như thế nào để có chừng mực?
Đúng là chúng tôi có đôi chút kinh nghiệm về vấn đề này. Nguyên tắc thứ nhất, vấn đề mình phản biện phải quan trọng và là mối bận tâm của những nhà hoạch định chính sách. Việc Chính phủ đề nghị chương trình Fulbright thực hiện loạt bài về thảo luận chính sách là cơ hội rất tốt để chúng tôi phân tích những vấn đề chính sách một cách chính danh.
Nguyên tắc thứ hai là cần giữ thái độ khách quan, phê phán trên tinh thần xây dựng. Nếu không thì cũng giống như chê một ông bác sĩ bốc nhầm thuốc nhưng không đưa ra được toa mới hiệu nghiệm hơn. Nguyên tắc thứ ba là công khai minh bạch. Cụ thể là trình bày quan điểm nhất quán của mình ở mọi diễn đàn, dù đó là hội thảo của các cơ quan nhà nước tổ chức hay khi tiếp xúc với cộng đồng doanh nghiệp. Đảm bảo được các nguyên tắc này sẽ giúp đối tượng bị phản biện và toàn xã hội nói chung thấy được thái độ nghiêm túc và xây dựng của người phản biện. Thế nên, dù ý kiến có tính phê bình nhưng Chính phủ vẫn tiếp nhận, vẫn đề nghị chúng tôi tiếp tục đóng góp. Tôi cho rằng sẽ luôn có chỗ cho những phản biện trên tinh thần hợp tác.
Một điều cần nói thêm là những phân tích chúng tôi đưa ra đều dựa trên nền tảng số liệu chính xác và lý thuyết mạch lạc, từ đó Chính phủ có thể phản biện lại. Điều này tạo điều kiện cho sự đối thoại giữa hai phía. Phản biện mà không có đối thoại là thất bại.
Tiếp tục với “nguyên tắc thứ nhất” anh vừa đề cập, đâu là những vấn đề các nhà hoạch định chính sách đang quan tâm?
Có những vấn đề có tính ngắn hạn và dài hạn. Về ngắn hạn, trong bối cảnh tiêu dùng đi xuống, đầu tư giảm, tăng trưởng chậm lại thì thách thức cấp bách là làm thế nào để phục hồi nền kinh tế và chớp được cơ hội sau khủng hoảng. Bên cạnh đó, ngân hàng bắt đầu chạy đua lãi suất, thị trường ngoại hối đóng băng – người xuất khẩu không muốn bán USD, người nhập khẩu không mua được USD, rồi nguy cơ lạm phát, bong bóng chứng khoán và bất động sản có thể quay trở lại khi tín dụng vẫn tiếp tục được nới lỏng…
Về dài hạn, mặc dù tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam là rất lớn nhưng chưa đạt được do những bất cập có tính cơ cấu. Cụ thể là theo báo cáo giám sát mới đây của Thường vụ Quốc hội, trong khi khu vực nhà nước chiếm tới 47% về vốn đầu tư nhưng chỉ tạo ra được 31% doanh thu và 24% lao động thì khu vực dân doanh tuy chỉ chiếm 35% về vốn đầu tư nhưng lại tạo ra được 47% doanh thu và 53% lao động. Nói cách khác, chính sách đầu tư của chúng ta đang kém hiệu quả, do vậy để đạt mức tăng trưởng khoảng 7,5% trong giai đoạn 2000-2007, mỗi năm Việt Nam phải đầu tư tới gần 40% tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Trong khi đó, ở giai đoạn phát triển tương tự như chúng ta hiện nay, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan chỉ cần đầu tư khoảng 30% GDP để đạt mức tăng trưởng 9% đến 10%. Nói nôm na, chi phí tăng trưởng của Việt Nam cao gấp rưỡi, thậm chí gần gấp đôi so với các nền kinh tế này. Một cách khác để nhìn vấn đề là nếu đầu tư của Việt Nam hiệu quả như các con rồng Đông Á thì với tỷ lệ đầu tư hiện nay, chúng ta có thể tăng trưởng trung bình 10-12% hàng năm.

Một thách thức có tính dài hạn nữa là làm sao để Việt Nam thoát được bẫy của những nước thu nhập trung bình. Thu nhập bình quân trên đầu người của Việt Nam hiện nay khoảng 1.000 USD, nằm trong nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp. Thực tế cho thấy chỉ có rất ít quốc gia vượt qua ngưỡng thu nhập trung bình để tiến lên nhóm có thu nhập cao. Nếu chúng ta không có chiến lược và chính sách đúng đắn thì có thể lại rơi vào tình trạng “giậm chân tại chỗ” của một số nước ASEAN như Indonesia hay Philippines.
Lý do là gì, thưa anh?
Có nhiều lý do. Về phương diện kinh tế, thứ nhất vẫn là đầu tư kém hiệu quả. Thứ hai, sự tồn tại của các nhóm đặc quyền, đặc lợi cản trở cải cách, nền kinh tế thì kém hiệu quả nhưng họ lại được lợi. Thứ ba, hệ thống giáo dục lạc hậu, không theo kịp yêu cầu của sự phát triển và hội nhập. Vấn đề thứ tư là các nút cổ chai của nền kinh tế, gồm hạ tầng, hệ thống hành chính, thể chế, luật pháp… và năng lực điều hành của Nhà nước đều bất cập.
Trong thời gian vừa qua, nhiều người có năng lực đã rời khỏi hệ thống nhà nước. Việc này dẫn đến thực trạng là năng lực của bộ máy quản lý đất nước đi xuống trong khi mặt bằng xã hội đang dần được nâng lên, tạo ra mâu thuẫn trong hệ thống quản trị nhà nước của Việt Nam. Chỉ khi giải quyết được vấn đề này thì hệ thống quản lý nhà nước mới đóng được vai trò trợ giúp và xúc tác cho quá trình phát triển.
“Kém hiệu quả” có phải là lý do khiến anh phê phán mô hình tập đoàn trên nhiều diễn đàn?
Các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam tuy nói là học theo mô hình chaebol của Hàn Quốc, nhưng là một sự học tập không đầy đủ. Cần lưu ý là hai mô hình này có nhiều điểm khác nhau rất cơ bản.
Thứ nhất, tập đoàn ở Việt Nam thuộc sở hữu nhà nước, trong khi các chaebol của Hàn Quốc về cơ bản thuộc sở hữu tư nhân. Hình thức sở hữu khác nhau thì ứng xử cũng sẽ rất khác do một bên tiêu tiền của Nhà nước, còn bên kia tiêu tiền do mồ hôi nước mắt của mình tích lũy nên.
Thứ hai, cách thức hỗ trợ của nhà nước ở hai mô hình cũng khác nhau. Điều kiện tồn tại của chaebol là phải nhanh chóng có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế, mà cụ thể là sau một thời gian, thường là 5-7 năm phải xuất khẩu được. Trong khi đó, ở Việt Nam nhiều tập đoàn được hưởng “ngân sách mềm”, hưởng lợi thế độc quyền trên thị trường nội địa và không bị buộc phải xuất khẩu.
Thứ ba, các chaebol phát triển một cách hữu cơ, không hình thành bằng cách lắp ghép một cách máy móc. Ngược lại, ở Việt Nam, các tập đoàn được dựng lên bằng việc sáp nhập cơ học các doanh nghiệp nhà nước với nhau.
Thêm nữa, do ra đời trong bối cảnh chưa có Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nên trong những năm 1960-1980, Chính phủ Hàn Quốc có thể sử dụng mọi biện pháp để hỗ trợ chaebol. Còn Việt Nam hiện đã là thành viên của WTO nên không thể đi lại con đường của Hàn Quốc. Sau cuộc khủng hoảng năm 1997, bản thân Hàn Quốc cũng đã nhận ra rằng mô hình chaebol thực sự có vấn đề và cần phải cải cách. Cả thời, thế và cấu trúc tập đoàn đều đã thay đổi. Nói cách khác, Việt Nam đi theo một mô hình đã trở nên lỗi thời vào thời điểm không thích hợp.
Hai cái sai cộng lại thì rất khó cho ra một kết quả đúng.
Anh có nghĩ rằng những nhà hoạch định chính sách không nhìn thấy những khuyết tật của mô hình tập đoàn?
Tôi không nghĩ như vậy. Có nhiều nguyên nhân nhưng chắc không phải do hạn chế về sự hiểu biết. So với tổng công ty, tập đoàn có khả năng tiếp cận vốn ngân sách, đất đai… lớn hơn rất nhiều. Người ta gắn cho nó những nhiệm vụ nghe có vẻ rất hay như tạo ra những “cú đấm thép”, trở thành những con tàu vươn ra biển lớn, cạnh tranh với thế giới. Nhìn dưới góc độ tổng thể nền kinh tế, sự ra đời của tập đoàn không có lợi về nhiều mặt.
Như đã nói ở trên, khoảng 50% tổng đầu tư xã hội được đổ vào các doanh nghiệp nhà nước, phần lớn là các tập đoàn, nhưng giá trị gia tăng và số lượng việc làm mới do những đơn vị này tạo ra lại thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp dân doanh và doanh nghiệp FDI. Đóng góp của tập đoàn vào GDP cũng thấp, không tương xứng với những ưu đãi nhận được.
Hơn nữa, việc tập đoàn được hưởng nhiều lợi thế về thị trường, vốn, đất đai còn gây ra hiệu ứng chèn ép đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Chưa hết, nhờ vị thế rất lớn nên tập đoàn tạo ra những méo mó trên thị trường, thí dụ như độc quyền và việc bảo vệ thế độc quyền dẫn đến việc cản trở cải cách.
Một ví dụ là thời gian vừa qua Bộ Công Thương có đề xuất tái cấu trúc Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) bằng cách chia nhỏ EVN thành các công ty và để chúng cạnh tranh với nhau. Đề xuất này của Bộ Công Thương theo tôi là rất đúng hướng, thế nhưng EVN lại không mặn mà với đề xuất này vì như vậy có thể họ sẽ mất thế độc quyền hiện có. Mà nếu EVN không “ưng” thì việc tái cấu trúc EVN tuy đúng đắn nhưng cũng khó được triển khai.
Đúng là tập đoàn có những lý do để tạo ra nhiều bất cập. Liệu còn giải pháp nào để sửa tập đoàn cho phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay?
Giải pháp luôn luôn có, vấn đề là ý chí thực hiện như thế nào. Kể từ khi Viettel tham gia thị trường viễn thông, VNPT mất thế độc quyền thì chất lượng dịch vụ đã thay đổi rõ rệt, sóng phủ rộng hơn, giá rẻ hơn, và toàn nền kinh tế được lợi rất nhiều. Trong khi đó, ngành điện dù đã có thêm Petro Việt Nam, sản xuất điện bằng khí, nhưng tình trạng thiếu điện vẫn không được cải thiện, ngay cả trong mùa mưa.
Nguyên nhân là EVN vẫn một mình một chợ, có thể định giá thấp hay từ chối mua điện của Petro Việt Nam. Từ hai câu chuyện này, tôi nghĩ rằng vấn đề không hoàn toàn nằm ở chỗ tập đoàn của Nhà nước hay tư nhân, mà yếu tố quyết định là phải có cạnh tranh bình đẳng, phải xóa thế độc quyền. Bên cạnh đó, cũng cần phải thay đổi hệ thống quản trị của các tập đoàn, tạo ra động cơ kinh doanh có lợi nhuận.
Về phía Nhà nước, cần tách bạch ba chức năng: quản lý hành chính, sở hữu nhà nước, và điều tiết độc quyền trong việc quản lý tập đoàn nhà nước. Về phía doanh nghiệp, cần tách bạch chức năng kinh doanh và chức năng xã hội của các tập đoàn.
Lấy ví dụ như EVN có thể kêu lỗ vì phải đầu tư hạ tầng để kéo điện lên vùng cao, hoặc phải phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Việc này là trách nhiệm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Chính sự nhập nhằng giữa chức năng kinh tế và xã hội này là cái cớ để các tập đoàn biện bạch cho sự kém hiệu quả. Mặt khác, các tập đoàn sử dụng vốn ngân sách thì phải chịu sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước bằng công tác kiểm toán công khai minh bạch, quy định đầu tư đến một ngưỡng nào đó thì phải chuyển qua một cơ quan thẩm định và giám sát đầu tư công độc lập.
Thế còn vai trò của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì sao?
Để đảm bảo tính minh bạch, những dự án cần phải được giao cho các tổ chức có tính khách quan hơn, chẳng hạn như Ủy ban Kinh tế hay Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội. Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan trực thuộc Chính phủ. Thực ra, thẩm định về kỹ thuật không khó, nhất là trong thời buổi hiện nay khi chúng ta có thể thuê các công ty tư vấn quốc tế giàu kinh nghiệm.
Chẳng hạn như một công ty tư vấn quốc tế có thể nói cho bạn biết rằng chi phí trung bình của đường sắt cao tốc Bắc Kinh – Thượng Hải là 17 triệu USD/km, và từ đó đặt câu hỏi là tại sao chi phí trung bình của đường sắt cao tốc với chuẩn tương đương giữa Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh (tổng vốn đầu tư của dự án này là 56 tỉ USD, gồm các nguồn vốn vay viện trợ phát triển ODA của Nhật Bản, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á – theo VOV) – lên tới 40 triệu USD/km, tức là cao gấp hơn hai lần.
Chính sách được hoạch định tốt thì sẽ tiết kiệm được thời gian và tiền bạc. Nếu như có những lời mời tham gia hoạch định chính sách, anh nghĩ sao?
Tôi tự xác định vị thế của mình là một trí thức độc lập. Cũng như một hệ thống điều khiển học, điều kiện tiên quyết để vận hành hiệu quả là phải có phản hồi. Vì vậy, khi trở thành một con ốc trong bộ máy nhà nước, chắc chắn tôi sẽ không thể phản hồi một cách khách quan. Ở tất cả các quốc gia phát triển luôn tồn tại một đội ngũ trí thức độc lập, đóng góp tích cực và mạnh mẽ cho đời sống xã hội. Lực lượng này hành động vì lợi ích của đất nước. Họ cất tiếng nói luôn vì những điều lớn lao hơn cá nhân họ, và chính điều này khiến họ trở thành người trí thức. Để phát triển, xã hội luôn cần những trí thức suy nghĩ độc lập.
Là người thường xuyên tiếp xúc với cộng đồng doanh nghiệp, anh nghĩ thế nào về lực lượng này?
Rõ ràng đây là bộ phận năng động trong nền kinh tế của chúng ta. Tinh thần doanh nhân của họ rất đáng khâm phục, dù gặp trăm ngàn khó khăn nhưng họ vẫn bơi được. Tuy nhiên, về cơ bản thì những doanh nghiệp này vẫn còn nhỏ quá, cụ thể là quy mô vốn và lao động trung bình của họ thấp hơn hàng chục lần so với khu vực doanh nghiệp nhà nước hay FDI.
Thường xuyên tiếp xúc với doanh nghiệp, am hiểu về doanh nghiệp và am hiểu về cộng đồng này cũng như những bất cập của chính sách. Nếu làm kinh doanh, anh có nhiều điều kiện để thành công?
Tôi lại nghĩ mình không có những phẩm chất để bước vào thương trường. Nếu dùng thuật ngữ kinh tế thì “lợi thế so sánh” của tôi là giảng dạy và nghiên cứu. Không vơ đũa cả nắm nhưng môi trường kinh doanh hiện nay ở Việt Nam đòi hỏi nhiều sự hy sinh về gia đình và trong một chừng mực nào đó là những quan niệm về giá trị. Nghiệm lại thì nghiệp của tôi là làm nhà giáo và nhà nghiên cứu, mà đã là cái nghiệp thì rất khó thay đổi.
Xin cảm ơn anh về cuộc trò chuyện này.
Theo Thượng Tùng (Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần)

Bàn về an ninh đất nước theo cách nhìn mới

AN NINH

GS: Cao Huy Thuần

Chút lý thuyết
Bàn về an ninh trong quan hệ quốc tế, cho mãi đến gần đây khuynh hướng có
phần chiếm ưu thế là đồng hóa an ninh với quốc phòng, định nghĩa an ninh
như là khả năng có thể ngăn chận được các cuộc xâm lược vũ trang đến từ
bên ngoài. Cách nhìn này xuất phát từ lý thuyết được gọi là duy thực, theo
đó nổi cộm trong các quan hệ quốc tế, trên thực tế là sức mạnh và tiềm
năng quân sự của các quốc gia. Trên tiêu chuẩn sức mạnh đó, ta có thể xếp
hạng các quốc gia trên thế giới – nhược tiểu, trung cường, bá chủ, siêu
cường… – cũng như nghiên cứu chiến lược của các quốc gia để tạo chiến
tranh, để bảo vệ chủ quyền – thế liên minh, thế cân bằng lực lượng, thế
trung lập, thế phi liên kết, thế môi hở răng lạnh, thế hữu nghị, thế đoàn
kết anh em v.v… Với cách nhìn đó, quốc gia là chủ thể trên bàn cờ quốc tế
và an ninh là nghề của hai chàng, chàng ngoại giao và chàng đánh đấm,
chàng này đánh, chàng kia đàm. Đánh và đàm, quan hệ quốc tế chủ yếu là như
thế: là hòa bình và chiến tranh.
Lúc nhỏ, ta cũng học lịch sử như thế, toàn là anh hùng và trận mạc. Lớn
lên với chiến tranh lạnh, lại chạm trán với bom nguyên tử và hai khối,
trong đầu lúc nào cũng sừng sững bức tường Bá Linh, trước mắt thì ầm ầm
B52 củng cố vĩ tuyến. Đâu đâu chúng ta cũng thấy phô trương sức mạnh quân
sự như là yếu tố hàng đầu trong việc đo lường sức mạnh quốc gia? Có lý
thuyết nào ăn đứt được lý thuyết duy thực!
Thế rồi chiến tranh lạnh chấm dứt, bom đạn rút lui, nhường mặt tiền sân
khấu cho thương mãi, hàng hóa, sản xuất, kinh tế. Đe dọa quân sự im lắng,
nhưng rất nhanh một loạt hiểm nguy khác xuất hiện, bất kể biên giới quốc
gia, bất cần phân biệt lớn nhỏ mạnh yếu, đe dọa đến từ bên trong các nước,
trong dân chúng, trong xã hội như: bệnh dịch, môi trường, khủng bố, ma
túy… Quan tâm về an ninh, do đó, chuyển từ bên ngoài các quốc gia vào bên
trong các xã hội, nới rộng khái niệm an ninh cổ điển sang đến các cá nhân,
các xã hội, biến an ninh xã hội thành đối tượng tranh chấp, đối tượng
nghiên cứu trong quan hệ quốc tế.
Tác giả đầu tiên nâng an ninh xã hội lên thành một đối tượng nghiên cứu
độc lập và biệt lập với an ninh quốc gia là Barry Buzan. Để làm như vậy,
trước tiên ông phải định nghĩa “xã hội” là gì. Ông viết: “Chìa khóa để
hiểu xã hội là những ý nghĩ và tập quán đồng hóa các cá nhân như là thành
phần của một nhóm xã hội. Xã hội là liên quan đến bản sắc, liên quan đến
quan niệm về mình của các cộng đồng và của các cá nhân tự đồng hóa mình
như là thành phần của một cộng đồng”.[1]
Trong định nghĩa đó, bản sắc là khái niệm cốt tủy. Vì sao? Vì di dân đã
trở thành một thực tại quốc tế ngày nay, và, dưới mắt các xã hội nhập cư,
di dân đe dọa bản sắc của dân tộc tiếp quản. “Xã hội, tận căn bản, là liên
quan đến bản sắc”, ông nhắc lui nhắc tới.[2] Và “an ninh xã hội liên quan
đến khả năng trường tồn của một xã hội phù hợp với đặc tính căn bản của xã
hội ấy khi hoàn cảnh thay đổi”.[3]
Bản sắc và di dân: quả thật đó là quan tâm hàng đầu hiện nay về an ninh ở
Âu Mỹ sau khi các mối đe dọa về chiến tranh đã phần nào lắng dịu. Tại Mỹ,
vấn đề di dân đã được đặt ra từ lâu, nhất là đối với việc nhập cư bất hợp
pháp từ Mêhicô, nhưng gần đây người Mỹ lại có thêm lo ngại nữa từ thế giới
Hồi giáo sau sự cố 11-9. Tại Âu châu cũng vậy, đồng hóa dân ngụ cư đến từ
các nước Ả Rập-Hồi giáo là chuyện nan giải, chưa đâu làm được, trong khi
giới cực hữu tha hồ khai thác mối sợ hãi bàng bạc trong dân chúng. Nhưng
hiện tượng di dân đâu phải chỉ đe dọa Mỹ với Âu! Ở nhiều nơi khác, tình
trạng còn thực sự trầm trọng hơn nữa, trầm trọng đến mức báo động, nhất là
khi việc di dân là quốc sách của một nước tạo mọi điều kiện để gửi dân họ
đi. Cứ nhìn tỉ lệ người Hán ở Tây Tạng ngày nay thì biết.
Buzan mở đầu cho cả một trào lưu nghiên cứu mới hiện nay, đặt trọng tâm
trên an ninh xã hội thay vì an ninh quân sự trong quan hệ quốc tế. Trường
phái mà ông hướng dẫn – được gọi là “trường phái Copenhagen” – đưa ra
nhiều ý tưởng mới lạ. Chẳng hạn trong tương quan giữa di dân và chính sách
an ninh của các nước, trường phái Buzan vạch ra hai yếu tố quan trọng: sự
khác biệt giữa các quốc gia và việc an ninh hóa những vấn đề chính trị.
Về điểm thứ nhất, ai chẳng biết các quốc gia vốn khác nhau về mọi mặt,
nhưng cách nhìn của Buzan không phải là nhìn từ bên ngoài các quốc gia như
phái duy thực từng chủ trương, mà từ bên trong mỗi quốc gia để phân biệt
văn hóa, ý thức hệ, chính thể… Mỗi quốc gia mỗi khác, nhưng điểm khác biệt
căn bản nhất phải xét đến là sự vững chắc, gắn bó, đoàn kết về xã hội,
chính trị vìan ninh trường tồn của một quốc gia nằm ở chỗ đó. Tiêu chuẩn
để phân biệt giữa quốc gia “mạnh” và “yếu” cũng đặt trọng tâm ở đó: một
quốc gia “mạnh” là quốc gia có nhiều khả năng đối đầu với những đe dọa về
an ninh hơn một quốc gia “yếu”.
Về điểm thứ hai, vì mỗi quốc gia mỗi khác như vậy, nên bản chất của vấn đề
an ninh cũng thay đổi tận căn bản từ quốc gia này qua quốc gia kia, không
phân biệt yếu mạnh. Nói cách khác, không thể có một định nghĩa chung cho
tất cả các quốc gia về vấn đề an ninh, mỗi quốc gia tự định nghĩa lấy khi
chạm mặt với những vấn đề cụ thể. Điều đó có nghĩa rằng không thể định
nghĩa các luồng di dân như là một vấn đề an ninh có cùng và có sẵn những
biện pháp đối phó giống nhau bất kể nơi đâu. Ngay cả chuyện di dân, có thể
nước này xem đó là một vấn đề an ninh mà nước kia thì không. Bởi vậy, định
nghĩa di dân có phải là quan tâm an ninh hay không còn tùy thuộc vào sự an
ninh hóa vấn đề di dân. An ninh hóa có nghĩa là một vấn đề được trình bày
như là một đe dọa liên quan đến chính sinh mạng, đòi hỏi phải có những
biện pháp cấp bách, tương ứng, khác với những vấn đề chính trị bình
thường. Vấn đề đó có thực hay không, không phải là chuyện đáng xét; chuyện
đáng xét là vấn đề đó được trình bày như là một đe dọa liên quan đến sinh
mạng và vận mệnh của cả một dân tộc.
Điều này hàm chứa ba kịch bản khác nhau. Một, là các nhóm xã hội trong một
nước xem một cộng đồng di dân nào đó như là đe dọa trong khi các nhóm khác
thì không nghĩ như thế. Hai, là cộng đồng di dân nào đó không tạo nên một
đe dọa gì thực sự cho nước di trú, nhưng những nhóm xã hội nào đó trong
nước ấy thuyết phục được mọi người xem đó như là đe dọa. Ba, là cộng đồng
di dân nào đó thực sự là một đe dọa, nhưng nhà cầm quyền, vì lý do gì gì
đó, cứ nguây nguẩy nói không, nghĩa là từ khước, không chịu an ninh hóa.
Từ bên ngoài đi vào, di dân có thể gây bất ổn an ninh cho xã hội bên trong
một nước nếu nước ấy thiếu bền vững xã hội; bất ổn ấy, nếu giải quyết
không xong, không những loạn xảy ra ở bên trong mà còn có cơ tuôn ra bên
ngoài để trở thành tranh chấp quốc tế. Do đó, muốn nghiên cứu vấn đề di
dân, không thể không nhìn tầm cỡ của nước gửi dân đi, vị thế của nước đó
trên thế giới, chính sách của nước đó, quan hệ của nước đó với nước tiếp
quản. Di dân là vấn đề an ninh số một trong nghiên cứu quan hệ quốc tế
ngày nay. Buzan và trường phái Copenhagen trở thành sách giáo khoa trong
giới đại học.
Tóm tắt lý thuyết như thế này, tôi biết là quá sơ sài, nhưng tôi đâu có
muốn bàn ở đây chuyện di dân ở Âu Mỹ xa xôi? Tôi hạn chế vấn đề vào các
nước sát nách chúng ta thôi, nhưng tôi phải trình bày chút lý thuyết như
vậy bởi vì, như vừa nói, nước di dân ở trên đầu chúng ta có vai vế quốc tế
quá chóng mặt, không thể không nhìn di dân từ nước ấy mà không xét đến
chính sách của họ trên bình diện quốc tế. Các anh chị biết tôi muốn nói gì
rồi.

Nói chuyện ở xa
Vâng, sách vở nào bây giờ cũng đều nói đến chuyện ấy nhàm tai: cùng với
phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng năng lượng, sức mạnh mềm của Trung
Quốc đang tỏa ra khắp thế giới, trên mọi lĩnh vực, chính trị, ngoại giao,
quân sự, kinh tế, công nghệ, buôn bán vũ khí, viện trợ, y tế, thương mãi,
du lịch, văn hóa, và nhất là văn hóa. Riêng về lĩnh vực xã hội mà chúng ta
đang bàn ở đây, sách vở nói: vì Trung Quốc đã trở thành tay đầu tư quốc
tế, tay lái buôn quốc tế, chính phủ họ không những dẹp bỏ những hạn chế về
di dân trong nội địa mà còn làm dễ dàng việc xuất ngoại của dân chúng để
kinh doanh, để du lịch. Hàng loạt, hàng loạt doanh nhân được khuyến khích
đi ra nước ngoài đầu tư, hàng loạt, hàng loạt công ty được mở ra ở ngoại
quốc, hàng loạt, hàng loạt công nhân đi theo, hàng loạt, hàng loạt du
khách xỉa răng trên mọi đường phố.
Di dân… Có bao giờ nước Trung Hoa ngớt di dân trong lịch sử đâu, nhưng di
dân ngày nay không phải như trước: ngày nay người Trung Quốc di dân hàng
loạt. Ước tính của các tổ chức lao động là công nhân Trung Quốc nhập biên
các nước ngoài tăng mỗi năm khoảng 20%, phần đông “hề” một tiếng như Kinh
Kha vượt sông Dịch, “tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn”. Con số chính xác
thì khó có và khó biết đúng sai, nhưng tạm ghi về khuynh hướng tăng vọt ở
Phi châu, nơi Trung Quốc đang tìm mọi cách hốt năng lượng, nhiên liệu:
24.000 ở Sudan năm 2004, gấp ba so với những năm trước; 50.000 ở Nigeria,
so với 2000 năm 2001; 300.000 ở Nam Phi.[4] Mới đây, nhân một vụ đụng độ
giữa di dân Trung Quốc với người bản xứ ở Alger, báo Le Monde đưa ra con
số 50.000 công nhân Trung Quốc đóng đô ở đấy.[5] Cũng vậy, máu tham hễ
thấy hơi dầu thì mê: con số cũng tăng vọt ở Nam Mỹ: 60.000 ở Peru, chưa kể
hậu duệ của công dân Peru gốc Hoa còn đông hơn thế nhiều lắm; 50.000 ở
Venezuela; 100.000 ở Brazil; 30.000 ở Mêhicô; 7000 ở Columbia. Thống kê ở
Canada ghi: năm 2001, hơn 1 triệu dân gốc Hoa sống trong nước.[6] Riêng
con số lấy được ở cái xứ nhỏ Costa Rica thì vừa chính xác lại vừa lý thú
về nhiều mặt, trước hết là mặt phụ tình. Giống như các nước châu Mỹ la
tinh khác, Costa Rica chăn gối với Đài Loan ngót 63 năm, vậy mà bây giờ
bứt ra thiếp phụ chàng, thiết lập ngoại giao chính thức với Bắc Kinh từ
tháng 6-2007. Thương mãi giữa hai bên đã tăng gấp 10 lần, Đài Loan đọ hết
nổi, mất pháo đài đầu tiên ở Nam Mỹ, điểm nhắm của Bắc Kinh. Ân nghĩa sòng
phẳng, Trung Quốc ký hiệp ước vào tháng 5-2008 cho không 10 triệu đô la
tiền mặt, hứa cho thêm 72 triệu nữa để xây một sân vận động mới toanh và
mang qua… 800 công nhân Trung Quốc để thực hiện công tác đó. Con số 800
tuy khiêm tốn, nhưng ôi, tiêu biểu biết bao cho cả một đại chính sách đang
được triển khai và áp dụng khắp nơi.[7]
Ở Costa Rica, mục tiêu của Trung Quốc, ngoài kinh tế, còn là chính trị:
phá vỡ phòng tuyến của Đài Loan, phất cao ngọn cờ “Trung Quốc là một“. Ở
các vùng khác, mục tiêu đó không có, nhưng mẫu mực viện trợ, mậu dịch, đầu
tư, xây dựng, phát triển kinh tế đều giống nhau. Ví dụ ở Angola, cùng với
Sudan và Nigeria, Angola là đối tượng dầu hỏa ở Phi châu mà Trung Quốc
nhắm, nhưng Angola khác Sudan ở chỗ nước này bị quốc tế cấm vận, các công
ty phương Tây bỏ rơi, nên Trung Quốc vẫy vùng như giữa chốn không người,
còn ở Angola họ phải cạnh tranh ráo riết. Bởi vậy, Trung Quốc phải thòi ra
cả một đống cao đơn hoàn tán, từ ngoại giao đến cho vay, với những thủ
thuật mập mờ, chẳng ai biết rõ chi tiết. Bắt đầu từ 2004, Ngân hàng xuất
nhập khẩu Trung Quốc (Exim Bank) cho Angola vay 2 tỷ Mỹ kim một cách dễ
dàng để tái thiết cơ sở hạ tầng bị phá hủy bởi chiến tranh. Trung Quốc đã
gãi đúng chỗ, vì đó là lúc Angola đang ngứa tiền trong khi Quỹ Tiền Tệ
Quốc Tế thì buộc phải minh bạch kinh tế và cải cách chính trị mới cho vay.
Đối tác vẫn còn ngứa, Exim hào phóng cho vay thêm một đợt thứ hai 2 tỷ nữa
vào tháng 9-2007. Với điều kiện gì? Nhiều công ty Trung Quốc sẽ đến tận
nơi để xây dựng, mang theo dụng cụ, trang thiết bị và… công nhân. Bao
nhiêu? Hàng chục ngàn! Dân Angola đang thất nghiệp tràn lan nên thèm việc
ấy như dân Bắc Kinh hẫu vịt quay.[8]
Nghĩa là gì? Nghĩa là di dân đã thành ra chính sách, hỗ trợ bằng ngoại
giao, và chính sách ấy là một bộ phận trong chính sách đầu tư, viện trợ,
trao đổi – trong “sức mạnh mềm” tỏa ra khắp năm châu bốn biển của Trung
Quốc. Đường sá, cầu cống, đập thủy điện, trường học, bệnh viện, sân bay…
những hạ tầng cơ sở trọng yếu đó của phát triển kinh tế, nhất là ở Phi
châu, đã thực hiện với thợ thầy Trung Quốc. Chưa kể những công trình khác,
kém cần thiết nhưng oai vang hơn: sân vận động, công thự, toà nhà Quốc
hội… Dưới khẩu hiệu “Liên đới, Chủ quyền, Thắng-Thắng”, đầu tư, nhiên
liệu, năng lượng, đại công trình bay cùng bầy với nhau như chim một đàn.
Vừa xông tay ra để nắm yết hầu của các nguồn năng lượng trên thế giới, vừa
phóng việc làm cho hơn 23 triệu nông dân ùn ùn kéo lên thành phố trong nội
địa,[9] lại vừa được tiếng là anh em giúp nhau win-win trong các nước kém
mở mang, sách vở nói Trung Quốc đang thành công như diều gặp gió!
Ấy là chưa nói đến du lịch, tuy rằng đây không phải là di dân, chỉ là
lượng người di chuyển. Bao nhiêu? Con số du khách Trung Quốc đi thăm thú
thế giới có thể lên đến 100 triệu vào năm 2015, đông nhất hoàn cầu. Các
nước Ả Rập ở Trung Đông đang hí hửng trước cái thị trường khổng lồ ấy.
Riêng Ai Cập, con số 35.000 đạt được năm 2005 có thể tăng lên 80.000 trong
những năm tới. Báo chí, truyền thông Trung Quốc tung hô khẩu hiệu ngọt như
mía lùi: “We’re all East”! “Chúng ta đều là Đông phương với nhau”! Tài
thế![10]Trong số 100 triệu ấy, ước tính một phần ba thích chọn Đông Nam Á,
vừa gần, vừa rẻ, vừa đủ tiện nghi, mọi bộ phận của thân thể đều có dịch vụ
tương ứng, cung cấp sung mãn. Thái Lan hy vọng thâu nhận ít nhất 4 triệu
mỗi năm từ cuối thập kỷ này.[11]
Cũng liên quan đến việc di dân kiểu mới, phải kể chính sách đầu tư đất
ruộng ở nước ngoài để phòng xa bảo đảm an ninh lương thực trong nước. Về
mặt này, Trung Quốc không làm khác Hàn Quốc, các Tiểu vương quốc Ả-rập
thống nhất, Nhật và Ả rập Saudi: năm nước ấy hiện nay chiếm hơn 7,6 triệu
hecta đất canh tác ở bên ngoài, nghĩa là tương đương với 5,6 lần diện tích
canh tác của nước Bỉ. Với tốc độ thành thị hóa và lượng nước kém dần, đất
canh tác càng ngày càng hiếm, sản xuất lương thực có cơ giảm sút trầm
trọng. Cho nên Trung Quốc xem việc tậu đất canh tác ở ngoại quốc như một
chính sách ưu tiên: ông khổng lồ ấy chiếm 40% tổng số dân sống về canh
nông trên thế giới nhưng chỉ có 9% đất cày cấy được trên hoàn cầu. Năm
2006, Trung Quốc ký nhiều thỏa ước hợp tác canh nông với nhiều nước Phi
châu để thành lập 14 nông trường thí nghiệm ở Zambie, ở Zimbabwe, ở
Ouganda và Tanzanie. Bao nhiêu nông dân Trung Quốc sẽ đến đấy canh tác?
Một triệu vào năm 2010. Khỏi cần thi tuyển sinh vì bao nhiêu nông dân thất
nghiệp trong khủng hoảng hiện tại ở Trung Quốc đều sẵn sàng khăn gói lên
đường tuốt. Ngôn ngữ chính thức của Bắc Kinh là: giúp các nước ấy tăng gia
lượng sản xuất nhờ công nghệ Trung Quốc. Các giống lúa lai mà Trung Quốc
chế tạo được sẽ làm tăng năng suất lên 60% so với năng suất trung bình
trên thế giới. Có thể lắm. Nhưng chắc chắn một số lượng lớn mùa màng thu
hoạch sẽ được xuất khẩu qua Trung Quốc để bảo đảm lượng lương thực trên
thị trường.[12] Bảo đảm an ninh về lương thực, hợp tác về canh nông, nhu
yếu phẩm đó cũng lộ ra trong các thỏa ước về phát triển ký kết với các
nước Nam Mỹ.
Chưa hết. Cặp mắt cú vọ của Bắc Kinh còn đang liếc ngang liếc dọc các miền
đất mênh mông còn bỏ hoang của Nga và các nước Trung Á. Đất trống như vậy,
sao ta không cho thuê kiếm thêm ít tiền? Lưỡng lự, vì sợ dân phản đối,
nhưng rồi Kazakhstan cũng âm thầm cho một công ty liên doanh Trung
Quốc-Kazakhstan thuê 7000 héc ta đất để trồng lúa mì và đậu nành. Lập tức
3000 nông dân đang đói việc của Trung Quốc vọt qua biên giới, mang theo
dụng cụ canh tác hiện đại hơn, nông dân bản xứ có giận cũng đành chịu. Và
đất Nga! Mênh mông vô tận xứ! Dường như trời sinh đất ấy để trồng đậu nành
Trung Quốc ! Cách Matxcơva đến 6000 cây số nhưng chỉ cách Bắc Kinh 2000
cây số thôi, hai vùng Khabarovski và Birobidjan đã mang về cho Trung Quốc
420.000 tấn đậu nành trong năm 2008. Còn cả 20 triệu héc ta đất trồng trọt
chưa khai thác ở bên kia biên giới, bên này thì thèm đậu nành, bên kia thì
thèm tiền thuế, ông Nga chẳng còn gì để phải bận tâm ngoài việc ngồi chơi
xơi tiền? Có chứ! Thống kê chính thức của Bộ Nội vụ Nga bóp còi: đã có từ
400.000 đến 700.000 dân Trung Quốc đang an vị trên đất Nga.[13]

Nói chuyện sát nách
Đó là nói về các nước ở xa. Các nước ở sát nách chúng ta thì sao? Xin nói
chuyện gần đây nhất.
Dưới tiêu đề: “Á châu: Quản lý bên kia bờ khủng hoảng”, Diễn Đàn Boao đã
họp ở Hải Nam trong tháng 4-2009 vớí diễn văn của Ôn Gia Bảo đề nghị các
giải pháp để vượt qua khủng hoảng hiện tại. Trong 5 đề nghị “đẩy mạnh hợp
tác giữa các nước Á châu”, hãy đọc nguyên văn đề nghị thứ ba vì đây là
nguyên tắc, đường lối, chính sách, là ánh sáng rọi vào mọi áp dụng cụ thể:
“Đào sâu hợp tác đầu tư và kích thích phát triển kinh tế vùng bằng cách
tăng gia đầu tư. Việc phát triển giao thông, điện lực và cơ sở hạ tầng
viễn thông ở cấp vùng và dưới vùng phải được thúc đẩy. Ta phải từng bước
thực hiện sự liên kết các mạng lưới của các cơ sở hạ tầng đó. Trung Quốc
đã quyết định thiết lập “Quỹ hợp tác đầu tư Trung Quốc – ASEAN” trị giá 10
tỷ Mỹ kim để hậu thuẫn cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong vùng. Để
khuếch trương đầu tư, các quốc gia phải hành động theo tinh thần mở cửa và
cho phép doanh nghiệp của các nước khác hoạt động một cách bình đẳng. Các
công ty ở bên trong vùng phải được khuyến khích để hỗ tương đầu tư và gia
tăng hợp tác về dịch vụ lao động, và phải tránh không được bắt công nhân
nước ngoài hồi cư đông đảo”.[14]
Dưới ánh sáng rạng rỡ đó của câu cuối, bây giờ ta đi vào thực tế ở Lào, ở
Miến Điện, ở Campuchia.
Theo thống kê chính thức, 30.000 công nhân Trung Quốc đã nhập vào nước Lào
để xây dựng những đại công trình ở đấy. Từ thủ phủ Côn Minh của tỉnh Vân
Nam ở phía bắc, con đường số 3 sẽ đâm xuyên qua Luang Nam Tha của Lào,
chạy dọc theo sông Mêkông cho đến Houei Xay đối diện với Chiang Khong bên
Thái Lan. Nay mai một chiếc cầu sẽ được xây để nối hai thành phố của hai
nước. Khi xây xong, đường số 3 sẽ là tuyến giao thông chính nối Trung Quốc
với Đông Nam Á. Đó là đường xá cầu cống. Ngoài ra, còn thủy điện, mỏ vàng,
mỏ đồng, mỏ sắt, mỏ potasse, mỏ… bô xít. Nhiều đại dự án khác còn hách
hơn: sân vận động ở Vientiane cho Thế vận hội Đông Nam Á 2009; 1000 hecta
đất đầm lầy cạnh thủ đô được đặc nhượng cho một công ty Trung Quốc để xây
một thành phố mới hiện đại, một Chinatown dành cho cư dân và doanh nhân
Trung Quốc đến đầu tư; một Nhà văn hóa bề thế đã hoàn thành ở thủ đô; một
khải hoàn môn kỳ vĩ cũng đã dựng lên, tô điểm cho công viên Patouxay một
kiến trúc Lào độc đáo. Ba mươi ngàn công nhân? Thực tế có thể tăng gấp
mười!.[15]
Con số khó chính xác, bởi vì ngoài công nhân còn đủ loại, đủ hạng người
Trung Quốc qua Lào làm ăn không khai báo: bước một bước qua biên giới chứ
xa xôi gì, vậy là họ có thể đổi đời, vì ở Lào không có cạnh tranh! Họ đến
từ đâu? Từ Hồ Bắc, từ Hồ Nam, từ Tứ Xuyên, từ Vân Nam, từ Vũ Hán, từ tận
trong nội địa Trung Quốc. Từ đâu cũng vậy, họ mang tên chung: xin yimin,
tân di dân. Trong sòng bạc Boten, khách chơi hầu hết là Trung Quốc, nhân
viên là Trung Quốc, tiểu thương mở quán chung quanh là Trung Quốc. Là xin
yimin tuốt! Cũng vậy, chung quanh Luang Namtha, chạp phô là Trung Quốc,
hàng quán mở chợ là Trung Quốc, khai khẩn đất đai là lái đất Trung Quốc
được chính phủ Lào cấp đặc nhượng, đất rộng mênh mông, nằm mơ cũng không
thấy được một tấc nơi chôn nhau cắt rốn.[16] Ngày trước, “Hoa kiều” chủ
yếu đến từ các vùng biển miền nam Trung Quốc, quê hương của phần đông cộng
đồng Trung Quốc trên thế giới, tập trung chung quanh 5 họ có ngôn ngữ địa
phương riêng: Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam và Khách Gia. Bây
giờ, đặc tính của xin yimin là đến từ đường bộ, hầu hết là nghèo mạt, phần
lớn là đàn ông dĩ nhiên, phụ nữ độc thân cũng có, vợ chồng trót có hơn một
con cũng nhiều: tất cả đều không kiếm được việc làm trên đất mẹ vì cạnh
tranh dữ quá. Nếu trên thế giới này còn một chỗ không biết cạnh tranh thì
ấy là đất Lào!
Làn sóng di dân này được Bắc Kinh khuyến khích, thúc đẩy, vì qua họ, không
những hàng hóa sản xuất từ các tỉnh kém ưu đãi ở miền tây Trung Quốc được
xuất khẩu, mà chính cả một vùng biên địa phía dưới Trung Quốc được bảo đảm
an ninh vững như bàn thạch khỏi cần lính thú. Cho nên Trung Quốc rót tiền
vào Lào, nghiễm nhiên trở thành ông chủ đầu tư số một với 236 dự án trị
giá 876 triệu Mỹ kim, so với 3 triệu Mỹ kim năm 1996. Tổng số kim ngạch
đầu tư trực tiếp được chính phủ Lào chấp thuận cho đến tháng 8-2007 lên
đến 1,1 tỷ Mỹ kim, sát nút với Thái Lan (1,3 tỷ), chưa kể viện trợ tính
bằng cho vay không lãi, cho vay đặc biệt.[17]
Công nhân, nông dân, tiểu thương, doanh nhân… thiếu gì nữa? Đồng tiền!
Nhân dân tệ cũng di dân! Đánh bạt cả đồng Mỹ kim! Quang cảnh khá ngoạn
mục, tôi xin trích dẫn: “Ở miền bắc Lào, tài xế xe vận tải và công nhân
Trung Quốc bây giờ dừng chân nơi các quán nước và hộp đêm tạm bợ mọc lên
dọc theo đường xe, thường thường là những quán cóc bằng gỗ, mái tôn, mang
bảng hiệu chữ Trung Quốc – tất cả đều trả bằng nhân dân tệ”. Bức tranh trở
nên sống động hơn, lại xin trích: “Bên trong, các cô gái Lào và Trung Quốc
tụm năm tụm ba nơi góc quán, đứng chờ khách kéo ra, trả giá, rồi mang đến
các khách sạn hoặc các kho xe nhớp nhúa để làm tình kiểu mì ăn liền”.[18]
Chắc cũng trả bằng nhân dân tệ. Thủ tướng Ôn Gia Bảo hoàn toàn có lý khi
đòi hỏi, trong điều thứ 5 của bài diễn văn khai mạc Diễn Đàn Boao, “Phải
thúc đẩy nhanh chóng việc mở ra một hệ thống tiền tệ quốc tế đa dạng”,
nghĩa là không phải chỉ mang cái mặt của ông Hoa Thịnh Đốn trên tấm giấy
xanh.
Nước Lào là đất Phật. Dân Lào hiền hòa ai cũng biết. Phát triển kinh tế
kiểu này, nói theo tờ báo Le Monde, có cơ “nước Lào trở thành một Tây Tạng
thứ hai”.[19]
Vậy mà Lào còn thua Miến Điện một bậc. Mandalay, thành phố lớn thứ hai ở
phía bắc, trước đây là kinh đô của vương quốc, bây giờ trở thành một Tiểu
Vân Nam, cư trú Tàu, làm ăn Tàu, xài tiền Tàu, nói tiếng Tàu, lấy chồng
Tàu. Bao nhiêu dân Trung Quốc? Hai trăm ngàn?[20] Chỉ biết chắc chắn là
con số càng ngày càng tăng, vì gót chân Nam tiến của người Vân Nam càng
ngày càng rộn. Khách sạn, tiệm buôn, quán ăn mọc lên như nấm, và phong
tục, lễ hội Trung Quốc càng ngày càng ăn sâu vào nếp sống của thành
phố.[21] Nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày khai sinh thành phố trong lịch sử,
nhà báo Kyaw Yiu Myint tiên đoán: ngày mà vận mạng của Mandalay sẽ nằm
trọn trong tay cư dân Trung Quốc và công dân Trung-Miến bày ra trước mắt;
ngày đó chắc khỏi phải chờ thêm 150 năm nữa.[22]
Cùng với Mandalay, cả nước Miến Điện “phát triển kinh tế” trong quan tâm
chiến lược của Trung Quốc về an ninh năng lượng cũng như về cách khống chế
Ấn Độ và cả vùng Đông Nam Á. Miến Điện là nước độn nằm giữa hai ông khổng
lồ đang gờm nhau và đang ghiền năng lượng trù phú mới khám phá trong cái
nước trổ mặt nhìn Ấn Độ Dương này. Vân Nam và Tứ Xuyên bị khóa trong đất
liền, không có lối thông ra biển? Thì ta mượn tạm cái Miến Điện này làm lộ
thông thương! Từ những năm đầu 1980, Miến Điện đã được chiếu cố đặc biệt
nhờ vị thế thuận lợi đó. Xuyên qua Miến, thông ra biển, hai tỉnh nghèo Vân
Nam và Tứ Xuyên sẽ tuôn hàng hóa ra buôn bán được với châu Phi, với Trung
Đông, với Tây Á. Nước quá giang đó lại còn quý hiếm cho tàu bè Trung Quốc
vì tránh được eo biển Malacca đầy bất an. Cho nên nhu cầu ưu tiên của
Trung Quốc là phải làm chủ lối vào các cảng Miến Điện. Bằng chính trị,
bằng ngoại giao, bằng quân sự, bằng kinh tế, Trung Quốc bành trướng ảnh
hưởng trên nước này và trở thành chỗ dựa vững chắc của một chính thể cai
trị bằng bạo lực. Đồng thời, Trung Quốc tăng cường kiểm soát trên các vùng
dọc theo bờ biển Andaman, án ngự lối vào lối ra của trục Ấn Độ Dương -
Malacca bằng việc xây cảng cho hạm đội Trung Quốc tại đây. Ấn Độ lo lắng
nhìn chính sách của Trung Quốc đối với Miến Điện và Pakistan như dấu hiệu
của một chiến lược bao vây hai vòng: bằng đường thủy và bằng đường bộ.[23]

Về năng lượng, Trung Quốc cũng trên đà thắng thế. Từ tháng 7-2004, trước
khi thủ tướng Miến qua thăm Bắc Kinh, Ôn Gia Bảo đã xác nhận tầm quan
trọng của khí đốt ở Shwe và tuyên bố sẽ xây một đường ống dẫn khí đốt và
một đường ống dẫn dầu: khí đốt sẽ được dẫn từ Shwe đến các tỉnh lục địa
mạn tây-nam của Trung Quốc, còn dầu sẽ chuyển từ đường thủy qua đường bộ,
chạy xuyên Miến Điện và rót vào Vân Nam. Các đại công trình bắt đầu từ đó,
chưa kể việc xây các cảng và việc thăm dò các mỏ khí đốt khác được giao
cho các công ty Trung Quốc. Một cảng mới đang được xây ở Kuauk Phyu, có
sức nâng những tàu container lớn nhất thế giới. Họ cũng dự tính xây một
con đường để nối cảng này ở phía đông với cảng Sittwe ở phía tây. Các ông
tướng quân phiệt Miến Điện sẽ thừa tiền bỏ túi bất chấp Tây phương cấm
vận, và công nhân Trung Quốc cũng không thiếu việc làm để cùng hể hả
win-win như răng với môi. Đối với các tay đầu tư trục lợi Trung Quốc, Miến
Điện đang là thị trường lớn nhất ở Đông Nam Á, chỉ sau Singapore. Cứ xem
con số thì thấy: năm 1995, trị giá các dự án đầu tư của họ chỉ vỏn vẹn 20
triệu Mỹ kim; năm 1999, con số đã lên 192,69 triệu nhưng chưa thấm vào đâu
so với con số trong khoảng 2000-2005. Bao nhiêu? Hơn 17 tỷ![24] Nghĩa là
gì? Là hàng hàng lớp lớp công nhân ta, trăng treo đầu cuốc xẻng, vượt biên
làm nghĩa vụ xoá đói giảm nghèo, xoá luôn biên giới, huynh đệ nhất gia mà
lị. Bao nhiêu? Bao nhiêu xin yimin có mặt hiện nay tại Miến Điện? Có tác
giả ước đoán: một triệu.[25] Chỉ riêng cái đồn điền mía do người Trung
Quốc khai thác giữa vùng núi của dân tộc Shan ở phía bắc, giáp giới với
thành phố Ruili của Trung Quốc, đã mang vào Miến Điện 5000 công nhân từ
bên kia biên giới. Chẳng lẽ Miến Điện thiếu nông dân đến thế sao?[26] Một
tác giả khác, cũng chuyên gia về Miến Điện, vuốt trán: “Di dân ngày nay
được thực hiện trên một quy mô rộng lớn chưa bao giờ thấy ở Đông Nam Á”.
Ngước mắt lên hỏi ông trời: “Di dân cổ điển hay là chiến lược xâm
chiếm?”[27]
Lại sát nách với ta, phải kể thêm Campuchia, cũng nằm trong cùng một quan
tâm chiến lược. Cũng thế thôi! Trung Quốc đang là nước đầu tư số một, viện
trợ số một năm 2008. Con số chính thức do Tân Hoa Xã công bố là 5,7 tỷ Mỹ
kim từ 1994 đến 2008, hơn 20% tổng số đầu tư trực tiếp ngoại quốc FDI.
Tổng số viện trợ của quốc tế năm 2008 là 951,5 triệu Mỹ kim, một mình
Trung Quốc đã chi 257 triệu.[28]
Lại cũng vậy, đầu tư của Trung Quốc đổ vào thủy điện, hầm mỏ, lâm sản,
thăm dò dầu khí, cầu cống, đường sá, chế biến nông phẩm. Công ty Trung
Quốc là những tay đầu tư chủ yếu ở đặc khu kinh tế mới phía nam cảng
Sihanoukville. Cuối 2008, Trung Quốc tuyên bố sẽ tài trợ xây dựng một
đường rầy xe lửa trị giá 5 triệu Mỹ kim nối Phnom Penh với Việt Nam. Tình
cờ chăng, Trung Quốc vừa hứa giúp trang thiết bị và kỹ sư để xây đường vào
tận rừng rậm phía bắc Siem Reap thì lập tức các công ty lớn của Trung Quốc
đâm đơn khai thác quặng sắt nghe nói là đầy hứa hẹn tại đấy. Ai đi qua thủ
đô xứ ấy xin dừng chân trên đại lộ Mao Trạch Đông để ngắm nghía đại sứ
quán Trung Quốc xây mới toanh, uy nghi và hoành tráng.[29]
Vắt cho bằng hết nguyên liệu, Trung Quốc cũng thúc Campuchia vắt kiệt môi
trường, đất đai. Ví dụ điển hình là quyết định năm 2004 của chính phủ
Campuchia nhượng cho tập đoàn bản xứ Pheapimex và đối tác tổ hợp Trung
Quốc Wuzhishan đặc quyền khai thác 10.000 hecta đất tại tỉnh Mondulkiri để
trồng thông. Căng thẳng giữa một bên là công ty Trung Quốc liên tục tìm
cách lấn chiếm thêm đất đai một cách bất hợp pháp và bên kia là dân chúng
Campuchia cô thế tìm mọi cách để bảo vệ nhà cửa và môi trường sống của
mình, dẫn đến tranh chấp, chống đối rồi đàn áp.[30] Một đặc nhượng đất đai
lớn khác, khoảng 3000 hecta, tọa lạc trong một vùng ưu đãi, dường như vừa
được cấp cho công ty xây dựng Trung Quốc YeejiaTourism Development: “Hun
Sen rõ ràng muốn được có và được thực hiện những dự án Trung Quốc”.[31]
Nói như nhiều người thường tố cáo ông rằng Hun Sen “chiều lụy Trung Quốc”
hơi nhiều![32]
Nhưng đại công trình đáng để ý nhất của Trung Quốc ở Campuchia là việc
ngăn nước sông Mêkông xây đập thủy điện. Tôi mượn một câu tả tình tả cảnh
của một quan sát viên để hiểu vấn đề của người dân, ở đây là anh nông dân
Phorn: “Vạch cỏ qua một bên, Phorn chỉ vào tảng đá dựng lên để làm dấu.
“Công nhân Trung Quốc đến đây và đặt tảng đá ở đấy”. Vài thước trước mặt,
nước sông Mêkông rộng lớn nhuộm bùn xoáy trôi. Hỏi anh ta có biết tảng đá
ấy dùng để làm gì không, anh gật đầu, chỉ tay vào lòng sông: “Người Trung
Quốc muốn xây một cái đập ở đấy””.[33]
Nếu đập được xây thì sao? Thì cái nhà của anh nông dân và cả cái làng
nghèo ấy sẽ biến mất dưới cái hồ khổng lồ do cái đập tạo nên. Trung Quốc,
theo lời tường thuật của quan sát viên ấy, đang “thúc đẩy một cách xâm
lược” việc xây dựng hàng loạt các đập thủy điện ở Căm puchia, nhiều đập
dọc theo sông Mêkông. Ở thượng nguồn, ai cũng biết, Trung Quốc đã xây một
chuỗi đập, thay đổi lưu lượng của sông, gây tác hại cho các nước ở hạ
nguồn về sinh thái, về môi trường, về nguồn cá, về lũ lụt, về mất rừng bảo
hộ. Trên 80% của số dân 70 triệu trong vùng sống nhờ sông Mêkông, đông
nhất là ở Campuchia và miền nam Việt Nam. Nhưng mà này, anh Phorn, dân Vân
Nam và Tứ Xuyên chúng tôi cũng đông vậy, và chênh lệch giàu nghèo giữa các
tỉnh ấy với các tỉnh duyên hải phía đông chẳng phải là nguy hiểm cho ổn
định xã hội của Trung Quốc hay sao? Cho nên ở đâu xây đập được là ta cứ
xây, ở thượng nguồn thì đem lợi ích cho Vân Nam, ở hạ nguồn thì phát triển
kinh tế cho hàng xóm nghèo, đại công tác vi quý, môi trường thứ chi, xã
hội vi khinh.
Vấn đề là con cá sống nhờ nước và dân Campuchia sống nhờ con cá. Con cá
không có lụt dâng đúng chu kỳ mỗi năm để vào đẻ thì dân Campuchia ăn cái
gì? Chuyện thượng nguồn là chuyện của chính phủ, chính phủ im miệng thì
dân cũng đành chịu thua. Nhưng chuyện hạ nguồn thì chạm thẳng vào mặt của
dân, cho nên đập nào xây cũng gây lộn xộn. Mà đã lộn xộn thì dân chúng đổ
bất bình vào mặt công nhân Trung Quốc. Như ở Nam Mỹ. Như ở Phi châu. Như ở
Algerie. Có điều là khác ngày xưa, ngày nay Trung Quốc bắt đầu bảo vệ
công dân của mình ở nước ngoài: tháng 4-2006, chính phủ Bắc Kinh dùng máy
bay chở hơn ba trăm công nhân bị dân chúng đảo Solomon, giữa Thái Bình
Dương, nổi loạn tấn công, dấy lên một cao trào bài Hoa bạo động. Ngày nay,
không phải như ngày xưa, di dân Trung Quốc biết mình được bảo vệ, lại hãnh
diện là công dân của đại cường, tiền nhiều, sức mấy mà họ nhũn. Vả chăng,
việc gì mà nhũn? Hòa nhập kinh tế chẳng phải là cái hướng anh em chúng ta
đều cùng nhắm đến và cùng bước tới đó sao? Kìa xem Âu châu: tư tưởng tự do
qua lại, hàng hóa tự do qua lại, dân chúng tự do qua lại. Thì ta cũng vậy:
hàng hàng qua lại, người người lại qua!
Có tiền, mua được cả lịch sử. Vừa mới đây thôi, Hun Sen coi Trung Quốc là
kẻ thù đáng tởm. Bây giờ, năm 2006, đặt chân lên Bắc Kinh thăm viếng chính
thức, cũng Hun Sen ấy tuyên bố trước Ôn Gia Bảo: “Trung Quốc là người bạn
đáng tin cậy nhất của Campuchia”. Hai bên đang tin cậy lẫn nhau, vợ Hun
Sen là gốc Hoa, vợ phó thủ tướng Sok An là gốc Hoa, quyền lực kinh tế của
Hun Sen dựa trên một nhóm tài phiệt Hoa – Khmer thường có nhăng nhện thông
gia với cấp cao của chế độ. Bây giờ, húp tiền cũng như húp cháo lú, húp
vào quên hết quá khứ. Chuyện hôm qua cho nó qua, chuyện hôm nay chúng em
là những đối tác ưu đãi của người bạn lớn.
Win-win! Hỏi người dân Phi châu ở những nước bị cấm vận, tham nhũng số
một, độc tài số một, vơ vét số một, tàn phá môi trường số một, hỏi họ
Trung Quốc có thành công không, họ trả lời: thành công số một. Hỏi họ thế
thì họ có win không, họ trả lời: người khác win. Câu đó, tôi chỉ chép lại
từ sách vở đứng đắn.[34]

Di dân, văn hóa, sức mạnh mềm
Các anh chị thân mến, tôi đã nhắc lui nhắc tới nhiều lần, bây giờ xin
nhắc thêm lần nữa: di dân kiểu mới là một bộ phận của “sức mạnh mềm”. Chỉ
mới vài năm thôi mà ngày nay khái niệm ấy đã đi vào ngữ ngôn rộng rãi, lại
đã được Bắc Kinh chính thức tiếp thu, chính thức bàn luận, chính thức đưa
vào thực tế. Họ bàn luận với nhau: đâu là cái lõi của sức mạnh mềm? Lãnh
đạo khuyến khích giới học thuật góp ý, và giới học thuật hồ hởi góp ý. Hai
trường phái hẳn hoi – chứ không phải một – tranh cãi nhau, một bên cho
rằng cái lõi ấy là văn hóa, bên kia thì nói đó là chính trị. Lãnh đạo nghe
ý kiến đôi bên, rồi quyết: cái lõi ấy là văn hóa, “văn hóa nhuyễn thực
lực”.
Trong một bài diễn văn nội bộ đọc vào tháng giêng 2006 trước một nhóm chóp
bu về ngoại giao – “trung ương ngoại sự công tác lãnh đạo tiểu tổ” – Hồ
Cẩm Đào tuyên bố: “Việc phát huy vị thế và nhân rộng tầm ảnh hưởng của
Trung Quốc trên trường quốc tế phải được biểu lộ bằng cả hai sức mạnh
cứng, gồm kinh tế, khoa học, công nghệ, quân sự, và sức mạnh mềm như là
văn hóa”.[35] Sau đó, tại đại hội đảng lần thứ 17, họp vào tháng 10 năm
2007, ông nói rõ thêm: “Văn hóa càng ngày càng trở thành một nguồn quan
trọng của đoàn kết dân tộc và của sức sáng tạo, và một yếu tố quan trọng
trong cạnh tranh về toàn thể lực lượng quốc gia”.[36] Cái sức mạnh mềm văn
hóa ấy, cái wenhua ruan shili ấy, ông nói, Trung Quốc phải phát huy.
Lệnh ban ra, pháo bông văn hóa Trung Quốc nổ rực trên khắp bầu trời thế
giới: hơn 40 Viện Khổng Tử được dựng lên khắp nước Mỹ, 260 Viện trên 75
nước khác, nào “Năm Trung Quốc”, nào “Tuần Văn Hóa Trung Quốc”, nào “Thành
Phố Huynh Đệ”, nào lễ hội, nào trao đổi sinh viên, nào học bổng, dạy Hoa
ngữ, phim, ảnh, sách, nhạc, triển lãm lịch sử, biểu diễn võ thuật, nào
tiền bạc tài trợ – ngân sách dành cho hoạt động văn hóa năm 2006 tăng
23,9% so với năm 2005, đạt đến mức 12,3 tỷ nhân dân tệ tương đương với
khoảng gần 2 tỷ đô la Mỹ vào thời giá lúc đó – khắp nơi, từ Nam Mỹ đến
Trung Đông, Phi châu, chương trình khuếch trương văn hóa 5 năm, biểu quyết
năm 2006, thắp sáng văn hóa Trung Quốc trên hoàn vũ. Chương trình 5 năm ấy
dành nguyên một chương cho chiến lược “bung ra toàn cầu”, khuyến khích báo
chí, truyền thông, xí nghiệp văn hóa “khuếch đại thông tin, bình luận về
văn hóa và ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc trên quốc tế”, bởi vì sức mạnh
mềm nơi văn hóa của một nước không phải chỉ tùy thuộc vào sức hấp dẫn mà
thôi, mà còn ở chỗ “có hay không được hậu thuẫn bằng những phương pháp và
khả năng tuyên truyền mạnh mẽ”.[37]
Trung Đông, Nam Mỹ, Phi châu đều có tôn giáo riêng, tập tục riêng của họ,
văn hóa Trung Quốc có truyền vào cũng chỉ trang điểm phấn son cho dung mạo
kinh tế, chính trị, quân sự hoặc đeo đôi găng nhung lụa cho hai bàn tay vơ
vét năng lượng, bòn rút mỏ dầu. Trái lại, đối với các nước kề cận, hoặc đã
chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc từ bao nhiêu đời, hoặc đang chứa một số
lượng người Trung Quốc quá đông, câu chuyện sẽ khác: sức mạnh mềm văn hóa
ấy mềm như con tằm đang hẩu xực lá dâu. Cả hai tầng lớp trong xã hội đều
bú mớm thứ văn hóa ấy: tầng lớp “thượng lưu”, trẻ, có học, bú phim ảnh,
sách báo, ngôn ngữ, trường học; tầng lớp quần chúng nhuộm dần dần cái đầu
để chung đụng hàng ngày trong những “xóm mới” càng ngày càng biến thành
xóm Hoa. Sức mạnh? Chiến tranh? Đâu cần! Súng chưa kịp nổ, dân đã mất rồi.
Và như vậy, tôi trở lui với ông tác giả Barry Buzan thân mến đã nói trong
những trang đầu. Ông này bảo, các anh chị còn nhớ: an ninh ngày nay chủ
yếu là an ninh xã hội và xã hội được định nghĩa là bản sắc. Bản sắc là gì?
Ông nói: là văn hóa.

Tôi có thể chấm dứt ở đây nếu các anh chị không phản đối rằng tôi đã lạc
đề, nói nhăng nói cuội đâu đâu, chờ mãi chẳng thấy chữ nào động đến đề tài
“Nhìn lại Việt Nam 2008” của Hội Thảo Hè năm 2009 này.* Nếu các anh chị
phản đối như vậy thì tôi đành xin phép gắng gượng đọc thêm vài câu thôi,
vài câu tóm tắt sau đây trong một bài tường thuật đăng trên mạng Tuổi Trẻ
và Lao Động ngày 16-4-2009 :
“Lao động phổ thông nước ngoài đổ vào Việt Nam. Hàng chục ngàn lao động
nước ngoài đang làm việc ở Việt Nam nhưng chưa được cấp phép lao động.
Phần lớn trong số họ đều là lao động phổ thông, không có tay nghề. Ngoài
những công việc làm ôsin, buôn bán nhỏ, đông nhất trong số họ là đi theo
các nhà thầu, phần lớn là nhà thầu Trung Quốc. Nhiều nơi như ở công trình
khai thác bôxit ở Tân Rai (Bảo Lộc, Lâm Đồng), nhà máy nhiệt điện Quảng
Ninh, nhà máy nhiệt điện than Hải Phòng, công trình khí-điện-đạm Cà Mau…
số lao động Trung Quốc luôn áp đảo lao động trong nước, với số lượng mỗi
nơi từ 700 đến trên 2000 người/công trình”.
Bài tường thuật khá dài, xin anh chị đọc và nghiên cứu thêm trong phần phụ
lục; đọc ở đây, với cái kiểu nghiên cứu trữ tình này của tôi, e chúng ta
sẽ thành những Giang châu tư mã tuốt.
* Bài này được đọc tại Hội thảo Hè (2009) “Nhìn lại Việt Nam 2008”, tại
Paris
Cao Huy Thuần
Giáo sư Emeritus
Đại học Picardie (Pháp)
PHỤ LỤC

1. “Lao động phổ thông nước ngoài đổ vào Việt Nam” (Tuổi Trẻ)

http://www.google.fr/search?hl=fr&q=lao+%C4%91%E1%BB%99ng+ph%E1%BB%95+th%C3%B4ng+n%C6%B0%E1%BB%9Bc+ngo%C3%A0i+%C4%91%E1%BB%95+v%C3%A0o+vi%E1%BB%87t+nam&btnG=Recherche+Google&meta=&aq=f&oq=

2. “Chinese labor straining neighborly ties” (Asia Times)

http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/KG11Ae01.html

3. Tóm tắt và bình luận bài báo trong Asia Times của đài BBC:

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/07/090710_chineseworkers.shtml

Chú thích

[1] Ole Waever, Barry Buzan, Mortel Kelstrup & Pierre Lemaitre: Identity,
Migration and the New Security Agenda in Europe, London, Pinter, 1993, tr. 21.
[2] Như trên, tr. 6.
[3] Như trên, tr. 23.
[4] Joshua Kurlantzick, Charm Offensive. How China’s Soft Power is transforming
the World, Yale University Press, 2007, trang 104. Có thể đọc trên mạng:

http://books.google.fr/books?id=RXtJw1OHDTIC&dq=joshua+kurlantzick+charm+offensive&printsec=frontcover&source=bn&hl=fr&ei=ZqRQSoTeFuKfjAeq_MGnBQ&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=4

[5] Le Monde 7-8-2009.
[6] Chinese Soft Power and It’s Implications for the United States, Center for
Strategic and International Studies, Washington DC, 2009, trang 47.
[7] như trên, trang 99.
[8] Như trên, trang 30.
[9] Con số 23 triệu là do Sở thống kê quốc gia đưa ra. Con số này chưa tính đến
số nông dân đã mất việc làm ở thành phố từ tháng 12-2008. Xem Le Monde 29-7-2009
(bài “Le lynchage d’un cadre, symtôme d’une économie chinoise malade”). Có chỗ
nói con số đó là 26 triệu (Le Monde 16-4-2009, mục Entretien, trang 18).
[10] Như trên (chú thích 8 và 9) trang 74.
[11]Kurlantzick, đã dẫn, trang 106.
[12] Marie-Béatrice Baudet et Laetitia Clavreul, Les terres agricoles, de plus
en plus convoitées, Le Monde 15-4-2009.
[13]Le Monde 21-4-2009 (bài viết nhan đề: “Après une offensive secrète au
Kazakhstan, la Chine lorgne les terres russes inexploitées”).
[14]Bộ Ngoại Giao Trung Quốc http://www.fmprc.gov.cn/eng/zxxx/t558306.htm
hoặc: http://in.chineseembassy.org/eng/zgbd/t558306.htm
[15] Bertil Lintner, China Ascendant, Part 1, Global Politician, 29-4-2008.

http://www.globalpolitician.com/24617-china

[16] Kurtlantzick, trang 105.
[17] Bertil Lintner, đã dẫn.
[18]Kurtlantzick, trang 105-106.
[19] Le Monde đã dẫn, 19-12-2008.
[20] Bronson Percival, The Dragon Looks South. China and Southeast Asia in the
New Century, Greenwood Publishing Group. 2007, trang 40. Có thể đọc trên mạng:

http://books.google.fr/books?id=ihCCU-2EQHIC&dq=bronson+percival&printsec=frontcover&source=bl&ots=Z3t65J0g_K&sig=2lucFCUwLjS_hmWDetBWLyC09tE&hl=fr&ei=hq9QSsykI5fLjAeouYyqBQ&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=6

[21] Min Lwin, The Chinese Road to Mandalay, The Irrawaddy, march-april 2009,
vol. 17. n° 2.
[22] Như trên.
[23] Laurent Amelot: La compétition énergétique indo-chinoise en Birmanie,
Stratégique, n° 70-71. Có thể đọc trên mạng:
www.strategiesinternational.com/19_11.pdf
[24]Zhuang guotu & Wang wangbo, Migration and Trade: The Role of Overseas
Chinese and Economic Relations between China and Southeast Asia – International
Conference on “China’s Future: Pitfalls, Prospects and the Implications for
ASEAN and the World”, University of Malaysia, Institute of China Studies, 5-6
May 2009, http://ccm.um.edu.my/umweb/ics/may2009/wangwb.pdf
[25]Bronson Percival, đã dẫn, trang 40.
[26] Zhuang & Wang đã dẫn
[27] Guy Lubeigt, La nouvelle poussée chinoise en Birmanie: immigration
traditionnelle ou stratégie de conquête,

http://www.reseau-asie.com/cgi-bin/prog/pform.cgi?langue=fr&Mcenter=colloque&TypeListe=showdoc&ID_document=240

[28]China’s Cambodian Hegemony, The Diplomat, May-June 2009.
[29] Như trên.
[30]Như trên.
[31]Ces nouveaux migrants chinois d’Asie du Sud-Est, Le Monde 19-12-2008.
[32] Heike Baumüller, Can China Save Cambodia from the Global Economic Crisis?
Heinrich Böll Stiftung, 1-4-2009.

http://www.boell.de/wirtschaftsoziales/wirtschaft-6452.html

[33] China’s Cambodian Hegemony, The Diplomat, May-June 2009.
[34]Chinese Soft Power… đã dẫn, trang 31.
[35]Như trên, trang 15-16.
[36] Như trên, trang 16
[37]Như trên, trang 16

Nguồn: © Thời Đại Mới
15-11-09

Việt Nam trước yêu cầu phát triển

Việt Nam trước thách thức xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển

(TuanVietNam)- Vượt lên với nỗ lực xây dựng “Nhà nước kiến tạo phát triển” hay sa lầy trong mô thức “Nhà nước đối phó – xoay sở”? Việt Nam có trở thành một “Nhà nước kiến tạo phát triển” hay không, sẽ chủ yếu phụ thuộc vào sự chín muồi của ba yếu tố then chốt: Đòi hỏi của người dân; Hiểm họa an ninh quốc gia; và Khan hiếm tài nguyên thiên nhiên”. TS. Vũ Minh Khương.

Đặc điểm của Nhà nước kiến tạo phát triển

Chất lượng thể chế và nguyên tắc thị trường là hai động lực căn bản tương tác chặt chẽ với nhau trong tạo nên sức phát triển lâu bền của một quốc gia. Trong hai động lực căn bản này, chất lượng thể chế có vai trò then chốt quyết định chất lượng hoạt động của các nguyên tắc thị trường; và do đó quyết định tương lai phát triển của một đất nước.

Khát vọng vươn lên của dân tộc. Ảnh: doanthanhnien.vn
Trong công cuộc phát triển, mỗi quốc gia đang phát triển đều trải qua thời điểm then chốt trong lựa chọn xây dựng thể chế phát triển: vượt lên với nỗ lực xây dựng “Nhà nước kiến tạo phát triển” hay sa lầy trong mô thức “Nhà nước đối phó – xoay sở”.
Quyết định lựa chọn xây dựng “Nhà nước kiến tạo phát triển” đòi hỏi nỗ lực quyết liệt nâng cao chất lượng thể chế, coi đó là một trong những yếu tố nền móng căn bản cho toàn bộ công cuộc phát triển.
Bằng lòng với mô thức “nhà nước đối phó – xoay sở” là sự né tránh những đòi hỏi bức bách phải nâng cao chất lượng thể chế, để rồi bận rộn với các giải quyết sự vụ và sự sa lầy vào các dự án lớn đặc trưng bởi tầm nhìn hạn hẹp và sự thao túng và vụ lợi của các nhóm lợi ích và cá nhân. Khi đó, quốc gia này có nguy cơ suy biến thành “nhà nước cai trị hủ bại.”
Các quốc gia đã thành công trong xây dựng “nhà nước kiến tạo phát triển” điển hình ở Đông Á là Nhật Bản, Hàn Quốc, và Singapore. Sự phân định một quốc gia đang đi vào hướng lựa chọn nào của thể chế phát triển, “kiến tạo phát triển” hay “cai trị – hủ bại” có thể được nhận diện thông qua năm đặc điểm liên quan đến nỗ lực xây dựng thể chế phát triển nêu ở bảng dưới đây:

Đặc điểm Kiến tạo Phát triển Cai trị – Hủ bại
1. Tuyển dụng cán bộ vào cơ quan nhà nước. Thực sự minh bạch và cạnh tranh. Thiếu minh bạch, thậm chí tùy tiện
2. Tiêu chuẩn lựa chọn và đề bạt  Coi trọng hiền tài Con ông cháu cha, phe cánh
3. Hoạch định và phối thuộc Chiến lược phát triển Lập cơ quan hoạch định và phối thuộc chiến lược phát triển với những cán bộ ưu tú và trách nhiệm đặc biệt. Mơ hồ; không có cơ quan thực sự chịu trách nhiệm
4. Hợp tác giữa nhà nước và tư nhân Chặt chẽ – gắn bó Lỏng lẻo – nghi kị. Thiếu chiều sâu và tầm chiến lược.
5. Luật chơi trên thị trường Rõ ràng và nghiêm minh Thiếu nhất quán giữa văn bản và thực hiện. Thiên vị các nhóm lợi ích

Các yếu tố quyết định hướng lựa chọn thể chế phát triển và thách thức với Việt Nam
Khác với sự nhầm tưởng thường thấy, sự lựa chọn thể chế phát triển không tùy thuộc chủ yếu vào vai trò cá nhân lãnh đạo mà chịu tác động đặc biệt của các ba yếu tố then chốt, khách quan: Đòi hỏi của người dân; Hiểm họa an ninh quốc gia; và Khan hiếm tài nguyên thiên nhiên [1].
Một quốc gia có xu hướng buộc phải lựa chọn con đường xây dựng “Nhà nước kiến tạo phát triển” nếu hội đủ được ở mức cao cả ba yếu tố nói trên.

“Việt Nam đang đứng trước những cơ hội cuối cùng để lựa chọn xây dựng “Nhà nước kiến tạo phát triển” bởi những đặc trưng của một thể chế “đối phó – xoay sở” thậm chí đã vào giai đoạn “cai trị – hủ bại” đang hình thành và ngày càng có sức cố kết khó phá vỡ.”
Với yếu tố thứ nhất, người dân có đòi hỏi gay gắt phải có tăng trưởng và phát triển. Điều kiện này này tổng hòa từ bức bách về cuộc sống, khát vọng vươn lên của dân tộc, và những trải nghiệm từ thất bại cay đắng trong quá khứ.

Với yếu tố thứ hai, quốc gia nay đứng trước sự đe doa nghiêm trọng về an ninh mà nếu không mạnh vượt lên sẽ bị rơi vào vòng lệ thuộc và phải trả giá rất đắt cho vị thế thấp yếu của mình.
Với yếu tố thứ ba, đất nước này không được ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên, và do vậy quốc gia này chỉ có một con đường duy nhất là khơi dậy, khai thác, và không ngừng phát huy nguồn lực căn bản của mình là con người.
Do vậy, nếu một quốc gia chưa hội đủ ba yếu tố này ở mức cao, trong khi vắng bóng những cá nhân lãnh đạo xuất chúng, họ rất khó vượt lên chính mình để xây dựng “Nhà nước kiến tạo phát triển”.
Việt Nam đang đứng trước những cơ hội cuối cùng để lựa chọn xây dựng “nhà nước kiến tạo phát triển” bởi những đặc trưng của một thể chế “đối phó – xoay sở” thậm chí đã vào giai đoạn “cai trị – hủ bại” đang hình thành và ngày càng có sức cố kết khó phá vỡ.

Bài toán phát triển Tây Nguyên sẽ là coi Tây Nguyên là trọng điểm trong tổng thể khu sinh thái, văn hóa miền Trung. Ảnh trên: Một góc khu vực mỏ bôxit đang được khai thác tại Bảo Lộc (Lâm Đồng) – Theo Tuổi Trẻ.
Việc Việt Nam có trở thành một “Nhà nước Kiến tạo Phát triển” hay  không, như phân tích ở trên, sẽ chủ yếu phụ thuộc vào sự chín muồi của ba yếu tố then chốt đã nêu: Đòi hỏi của người dân; Hiểm họa an ninh quốc gia; và Khan hiếm tài nguyên thiên nhiên.

Với Việt Nam, yếu tố thứ nhất, dường như đang và sẽ hội đủ bởi bức bách phát triển và khát vọng vươn lên của người dân Việt Nam rất tiềm tàng. Yếu tố thứ hai cũng sẽ đủ mạnh vì Đông Á đang và sẽ trở thành một khu vực đặc biệt sống động với nhiều tranh chấp khó tránh khỏi trong thời gian tới.

Thế nhưng, với yếu tố thư ba – tài nguyên thiên nhiên- sự hội đủ còn rất mong manh vì chúng ta là nước có nhiều tiềm năng về tài nguyên và tư duy của chúng ta vẫn còn muốn công cuộc phát triển của chúng ta dựa chủ yếu vào nguồn lực tự nhiên, hơn là tâm lực và tài lực của con người.

Dự án này nếu được thực hiện, chưa chắc đã tạo ra cú hích có lợi cho một “Nhà nước Kiến tạo Phát triển” thậm chí còn dẫn tới nguy cơ làm mất đi một cơ hội vô giá tạo nên sức mạnh trỗi dạy của dân tộc.

Hãy hình dung rằng, với chiến lược kiến tạo phát triển cho Tây Nguyên và miền Trung thành một vùng kinh tế sinh thái – nhân bản, số khách du lịch của Việt Nam sẽ tăng từ mức 4 triệu hiện nay lên mức 22 triệu như của Malaysia, số doanh thu về du lịch (ước tính là 500 USD/người) sẽ tăng thêm xấp xỉ 10 tỷ USD với mức thâm dụng về lao động và văn hóa rất cao.
Xây dựng “nhà nước kiến tạo phát triển”: Hai nội dung cấp bách
Nếu có đủ dũng khí và ý chí chiến lược, chắc chắn Việt Nam sẽ nỗ lực xây dựng một “nhà nước kiến tạo phát triển”. Khi đó có hai nội dung cấp bách cần được đặc biệt quan tâm.
Nội dung thứ nhất thuộc về “thiết kế” (design) thể chế như đã nêu ở bảng trên về năm đặc trưng của một “nhà nước kiến tạo phát triển”. Trong đó, một đặc trưng cần được triển khai ngay là thành lập một cơ quan hoạch định và phối thuộc chiến lược phát triển giống như Cục Phát triển Kinh tế (Economic Develoment Board, EDB) của Singapore.

Hiện nay, Việt Nam chưa có cơ quan với chức năng chiến lược tổng hợp này. Nhiều chuyên gia ví con tàu Việt Nam đi ra biển lớn mà không dùng la bàn.

Giáo sư Michael Porter, trong chuyến thăm Việt Nam tháng 12 năm 2008 cũng có khuyến nghị mạnh mẽ về việc lập một cơ quan như vậy trực thuộc Văn phòng Chính Phủ.
Nội dung thứ hai thuộc về “xử lý” (process) hay là nỗ lực đưa ra các quyết sách có hiệu lực cao và được lòng dân.

… hay là tìm tài nguyên và dựa vào công ty nước ngoài để khai thác?
Trong đánh giá quyết sách của chính phủ, cảm nhận của người dân có thể chia làm năm mức, mức 5 là đặc biệt phấn chấn, thậm chí kinh ngạc; mức 4 là thấy phấn khích, tin tưởng; mức 3 là thấy bình thường; mức 2 là thấy ức chế, không hài lòng; và mức 1 là thấy sốc và tổn thương sự trân trọng. Một thể chế sẽ bị người dân ngày càng suy giảm lòng tin, thậm chí chán ghét nếu nó đưa ra quá nhiều quyết sách gây nên độ cảm nhận mức 2 hay mức 1.
Để xây dựng “Nhà nước kiến tạo phát triển”, các quyết sách cần được nghiên cứu cặn kẽ và sâu sắc để phần nhiều được người dân cảm nhận ở độ 4, và một số ở độ 5. Trái lại, nếu thiếu ý thức xây dựng “nhà nước kiến tạo phát triển”, các quyết sách đưa ra sẽ phần nhiều tạo nên mức cảm nhận 1 hoặc 2.

Với mục đích minh họa, bảng 2 dưới đây đưa ra một số ví dụ cụ thể.
Bảng 2: Sự khác biệt về quyết sách thông qua ý chí xây dựng “nhà nước kiến tạo phát triển”

ụ Ý chí xây dựng “Nhà nước kiến tạo phát triển”
Không Có
Đưa thông tin đến người dân kịp thời Trang bị loa phường hiện đại hơn với âm thanh cực mạnh.

Dự kiến mức cảm nhận: 2 Bỏ loa phường; bàn với dân các phương cách cụ thể và hữu hiệu nhất cho từng vùng.

Dự kiến mức cảm nhận: 4
Qui hoạch lại thủ đô hoặc TP. Hồ Chí Minh Sát nhập Hà Nội với một vài tỉnh lân cận để có thêm đất.

Dự kiến mức cảm nhận: 2 Lập ủy ban qui hoạch vùng (liên tỉnh) với đại diện của các chuyên gia hàng đầu trong nước và quốc tế, trong khi địa giới hành chính hiện tại không bị đảo lộn.
Dự kiến mức cảm nhận: 4
Phát triển Tây Nguyên Ráo riết tìm các mỏ khoáng sản và dựa vào các công ty nước ngoài để khai thác.

Dự kiến mức cảm nhận: 1 Coi Tây Nguyên là trọng điểm trong tổng thể khu kinh tế sinh thái – văn hóa miền Trung và dành cho những cơ chế và đầu tư đặc biệt.
Dự kiến mức cảm nhận: 5
·   TS. Vũ Minh Khương
Tham khảo:
[1] R. Doner, B. Ritchie, D. Slater (2005). “Systemic Vulnerability and the Origins of Developmental States: Northeast and Southeast Asia in Comparative Perspective.” International Organization 59(2): 327-61.
 
Nguồn: http://www.tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay/6956/index.asp

Nghệ thuật là gì?

Toilet - Ilya Kazakov - thời hiện đại như sụ nối tiếp M. Duchamp

[caption id="attachment_473" align="aligncenter" width="300" caption="Đài phun nước - của M. Duchamp"][/caption]Nghệ thuật là gì?

Nguyễn Đình Đăng

Câu hỏi Nghệ thuật là gì? kéo theo luôn hai câu hỏi khác: Cái đẹp là gì? và Họa sĩ là ai?. Tổng quan hai bài viết của Bart Rosier [1] và Joseph A. Goguen [2] được trình bày dưới đây cũng chỉ nhằm làm sáng tỏ một phần những vấn đề tuy không mới nhưng vẫn rất nan giải đó. Phần Phụ lục tóm tắt quan điểm về nghệ thuật của Lev Tolstoy [3] có kèm theo lời bàn. Cả ba tác phẩm của Rosier, Goguen va Tolstoy đều có chung một nhan đề Nghệ thuật là gì?

1. Nghệ thuật là gì?

Thời Cổ đại, người ta chia nghệ thuật ra làm bảy loại hình nghệ thuật tự do (artes liberales) là: trivium (3 con đường) bao gồm: Văn phạm, Logic, Hùng biện; và quadrivium (4 con đường) bao gồm: Số học (lý thuyết về các con số), Hình học (các con số trong không gian), Âm nhạc (các con số trong thời gian), và Thiên văn học (các con số trong không gian và thời gian). Mẹ của cả 7 nghệ thuật đó là Triết học. Các nghệ thuật mang tính kỹ thuật như kiến trúc, nông nghiệp, hội họa, điêu khắc, và các nghề thủ công khác được xếp ở hàng thấp hơn.

Thời Trung cổ, nghệ thuật được coi là đứa con của tự nhiên. Dần dần nghệ thuật chỉ còn là những gì mà người xưa coi là nghề thủ công. Từ “nghệ thuật” đòi hỏi một cái gì đó được tạo nên một cách khéo léo bởi người nghệ sĩ. Có điều chính các nghệ sĩ đã phá bỏ các hạn chế do các định nghĩa loại đó tạo ra, thách thức các định kiến của chúng ta, và vượt xa các triết gia, các nhà tâm lý học và phê bình, chứ đừng nói chi đến đại chúng.

M. Duchamp,
Đài phun,
1917/1964

Ngày nay, thật khó định nghĩa được nghệ thuật. Đã qua rồi cái thời có thể chỉ ra được cái gì là nghệ thuật, cái gì không phải là nghệ thuật. Sau khi Marcel Duchamp [4] triển lãm chậu đi tiểu vào năm 1917 tại New York, hay Andy Warhol [5] bày ra các tranh in lưới hàng loạt các đồ hộp giống nhau như đúc vào những năm 1962 – 1964, thì bất cứ cái gì cũng có thể là nghệ thuật. Quan niệm này có vẻ phù hợp với nghệ thuật đương đại.

Vậy cái gì làm cho một bức họa trở thành một tác phẩm nghệ thuật? Có khá nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Dưới đây chỉ liệt kê và bình luận một số quan điểm tạm gọi là tiêu biểu nhất.

Có quan điểm cho rằng họa sĩ vẽ tranh, nhưng cần sự giám định của ít nhất một đại diện của thế giới hội họa để khiến bức tranh trở thành một tác phẩm nghệ thuật. Như vậy một người bình thường không thể trả lời được nghệ thuật là gì. Chúng ta cần người “định hướng nghệ thuật” như tín đồ cần vị cố đạo để nói cho biết chân lý ở đâu. Nếu quan niệm này đúng, nó loại trừ sự huyền bí trong nghệ thuật, sẽ được nói đến bên dưới.

Trái với quan điểm mang tính ngoại suy kể trên, những người theo quan điểm nội suy cho rằng tiêu chuẩn của nghệ thuật nằm trong tính trực cảm của bức họa, rằng hành động vẽ phải có chủ đích, có nghĩa là họa sĩ phải chủ tâm tạo ra nghệ thuật. Hành động vẽ phải được diễn ra theo một cách đặc biệt nhằm tạo ra nghệ thuật. Như vậy người xem sẽ phải học cách làm sao nhận ra được tính trực cảm đó. Ngoài ra, nếu nghệ thuật là cái do nghệ sĩ chủ tâm tạo ra, thì câu hỏi tiếp theo sẽ là: “Vậy thì nghệ sĩ là ai?”

Quan điểm dựa trên lý thuyết về nguồn gốc của nghệ thuật lại cho rằng nghệ thuật là các đồ vật hoặc hình ảnh do con người tạo ra với một ý nghĩa tượng trưng như một phương thức giao tiếp. Tuy nhiên, không phải tất cả các hình ảnh đó đều là nghệ thuật, mà một số chỉ đơn thuần là các ký hiệu mà thôi.

Gần với quan điểm nguồn gốc nghệ thuật kể trên là phát biểu của nhà vật lý thiên tài Albert Einstein: “Cái đẹp nhất mà chúng ta có thể trải nghiệm là sự huyền bí.” Như vậy sự huyền bí là nguồn gốc của mọi nghệ thuật đích thực. Chính vì lý do đó chúng ta không có hy vọng có được một định nghĩa rõ ràng về nghệ thuật. Nghệ thuật là cái gì đó chúng ta chỉ có thể cảm thấy mà không tài nào diễn giải được bằng lời. Nó giống như một trải nghiệm huyền bí vậy.

Ngày nay các nghệ sĩ một mặt tiếp tục truyền thống chọc tức xã hội tư sản, xã hội tiêu thụ, mặt khác đã mở rộng vai trò của mình. Thay vì vẽ tranh hay nặn tượng, họ trưng bày xác các con vật ngâm trong formaldehyde, các vật thể đa dạng kể cả sỏi đá, cành cây, và dây thừng. Nghệ thuật môi trường đã giải phóng các triển lãm khỏi 4 bức tường của viện bảo tàng. Các hình thức nghệ thuật mới như trình diễn, sắp đặt, cơ thể, v.v. đã và đang thách thức các quan niệm về ranh giới giữa các loại hình nghệ thuật. Kể cả trình diễn thời trang, trò chơi điện tử video, phun sơn lên tường, và các trang nhà trên internet cũng bắt đầu được coi là nghệ thuật.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật của phương Đông và phương Tây cũng xích lại gần nhau hơn, chịu ảnh hưởng lẫn nhau. Nghệ thuật bonsai của Nhật Bản trở nên thời thượng ở phương Tây. Nhiều nhạc sĩ phương Tây sử dụng nhiều yếu tố âm nhạc phương Đông trong các tác phẩm của mình.

2. Cái Đẹp là gì?

Cái Đẹp thường được đưa ra như một tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng nghệ thuật. Tuy nhiên, định nghĩa được cái Đẹp còn khó hơn định nghĩa được Nghệ thuật, vì cái Đẹp phụ thuộc vào văn hóa và thời gian nhiều hơn.

Lý thuyết đơn giản nhất về cái Đẹp là coi cái Đẹp như sự bắt chước tự nhiên. Lý thuyết này định ra một tiêu chuẩn khá lý trí và đơn giản cho cái đẹp. Tiếc rằng nó phụ thuộc chẳng những vào việc tách riêng chủ thể và khách thể, mà còn phụ thuộc vào sự phân chia nghệ thuật và tự nhiên, và thế là lại rơi vào cái vòng luẩn quẩn về khái niệm nghệ thuật phụ thuộc vào văn hóa, chứ không phải là cái gì đó toàn cầu. Hơn nữa tiến bộ của khoa học công nghệ ngày nay đang làm khó cho định nghĩa tự nhiên là gì. Thêm vào đó rõ ràng là lý thuyết này đã bỏ qua hầu như toàn bộ nghệ thuật đương đại. Cuối cùng, hoàn toàn không rõ là liệu có một cơ sở vững chắc để phán xét một tác phẩm nghệ thuật bắt chước tự nhiên giỏi đến mức nào.

Một cách tiếp cận khác đến cái Đẹp là đo nó bằng cảm xúc của người xem. Phương pháp theo kiểu “tôi biết tôi thích gì” này có vẻ như vô vọng vì nó hoàn toàn chủ quan. Tuy vậy vẫn có những hình thức phức tạp hơn một chút, trong đó người ta dùng các thiết bị khoa học để đo mức độ của phản ứng, thu thập một số lượng lớn các dữ liệu thống kê, và lấy trung bình để đưa ra những kết luận có tính tổng quát nhất. Tuy nhiên phương pháp này cuối cùng cũng vẫn rơi vào việc phân chia chủ thể và khách thể. Nó có thể có ích cho một số lĩnh vực như trong thiết kế nhưng chẳng có giá trị gì mấy cho mỹ thuật nói chung.

Plato [6] cho rằng cái Đẹp phải phản ánh chân lý. Đến đây ta lại vấp phải câu hỏi Pilate đã đặt ra cho Chúa Jesus: “Vậy thì Chân lý là cái gì?”. Theo thi sĩ lãng mạn John Keats [7] chân lý ở đây phải được hiểu là chân lý nghệ thuật. Ông viết: “Cái đẹp là Chân lý, Chân lý là cái Đẹp”, tức là một chân lý mang tính cảm xúc, một biểu hiện chính xác cảm xúc thực của nghệ sĩ, chứ không phải là chân lý theo nghĩa triết học hay khoa học, như là sự thật chẳng hạn.

Heidegger [8] đã phát triển quan niệm nghệ thuật tuyệt đối của Kant [9] . Kant cho cái Đẹp là cái gì đó không có bất kỳ một chức năng nào khác ngoài chức năng làm cái Đẹp. Khi đó một vật thể thể sẽ trở thành thuần túy là một vật thể, hiện ra hoàn toàn chỉ vì nó đẹp chứ không vì bất cứ công dụng nào khác. Như vậy nghệ thuật theo Kant là một cách biểu diễn đẹp của một hình thức, thông qua đó nghệ sĩ mặc sức tưởng tượng để liên tục mở rộng quan niệm về chính cái Đẹp. Điều đó có nghĩa là nghệ thuật đã đi ra ngoài thế giới của lý trí, và cái Đẹp là cái gì đó không thể cắt nghĩa được. Lý thuyết này có nhiều điểm giống với quan điểm của trường phái lãng mạn nói trên. Tuy nhiên nó loại trừ vai trò của nghệ sĩ, của ảnh hưởng văn hóa, cũng như sự chuẩn bị của người xem.

Lý thuyết “hiện đại” về cái Đẹp thì cho rằng một vật chỉ đẹp khi có hình thức phù hợp với công dụng của nó. Chậu đi tiểu của Marcel Duchamp xem ra thỏa mãn tiêu chuẩn này. Trong khi đó tiêu chuẩn như vậy không thể đem áp dụng cho những thứ vô dụng như các bức họa trường phái ấn tượng, các bức tượng lập thể, thơ, cho dù tất cả những thứ đó có thể dùng cho nhiều mục đích khác nhau như làm tiền, làm “lác mắt” bạn bè, hay để thư giãn khi ngắm nhìn chúng. Lý thuyết này hoàn toàn trái ngược với quan điểm của Oscar Wilde [10] . Ông cho rằng: “Cái cớ duy nhất để làm ra một vật vô dụng là vì ta ngưỡng mộ nó sâu sắc. Toàn bộ nghệ thuật là vô dụng.” Lý thuyết này đã gây ra một số hậu quả như việc tạo ra những kiến trúc quái đản trong các dự án xây dựng hàng loạt nhà cao tầng cho những người thu nhập thấp trong những năm 50 – 60. Một lần nữa, ta thấy đây là một minh họa rất rõ rằng các lý thuyết về cái Đẹp cũng phụ thuộc và điều kiện xã hội và văn hóa.

Trong tác phẩm “Luận về thơ”, Aritsotle [11] định nghĩa nghệ thuật là một sự bắt chước, nhưng ông đã rất khôn ngoan không gọi đó là “bắt chước tự nhiên”, mà là “bắt chước con người hành động”. Hơn nữa ông đã dùng một cách tiếp cận cân bằng, không quy nghệ thuật, hay cách nhìn nhận nghệ thuật, về một thứ. Đặc biệt, ông không hề gợi ý là phải dùng cái Đẹp để đo nghệ thuật. Thay vào đó, ông đã đưa ra một loạt các tiêu chuẩn về chất lượng dựa trên một số ví dụ như bi kịch, chơi đàn lyre, v.v. Aristotle nói rằng mục đích của bi kịch là gây nên nỗi sợ và buồn thương ở người xem thông qua việc bắt chước các hành động mang tính anh hùng. Tiêu chuẩn về sự xuất sắc của ông bao gồm sự thống nhất của không gian và thời gian, việc sử dụng ngôn ngữ thành thạo và khéo léo, đặc biệt cách dùng hình ảnh trong ngôn ngữ, v.v. Cách tiếp cận của ông kết hợp khéo léo các quan điểm giải tích, lịch sử, luân lý và thực dụng về bi kịch, có ảnh hưởng rất lớn cho đến tận ngày hôm nay. Đối với Aristotle, cũng như nhiều nghệ sĩ đương đại, cái Đẹp quá lắm chỉ là mối quan tâm hạng hai.

3. Nghệ thuật và khoa học

Phương pháp của khoa học đòi hỏi các phép đo chính xác có thể lặp lại được, và một tính khách quan tới mức có thể loại trừ tất cả các yếu tố chủ quan từ phía người tiến hành thí nghiệm. Điều này khiến các phương pháp nghiên cứu khoa học hoàn toàn ngược với các phương pháp của nghệ thuật. Nghệ thuật đương đại đòi hỏi tính chủ quan của nghệ sĩ trong các tác phẩm. Nghệ thuật tối kỵ sự lặp lại. Ngay cả khi Monet [12] vẽ một ngôi nhà thờ rất nhiều lần, các bức tranh của ông vẫn rất khác nhau. Ông sử dụng nhiều hoà sắc khác nhau, vẽ ở các thời điểm khác nhau trong ngày, v.v. Các đoạn gọi là nhắc lại trong âm nhạc thực chất không bao giờ được chơi như nhau, mà có thể là cường độ khác nhau, hoặc độ nhanh chậm khác nhau, v.v. Nhận xét về điểm này Anthony Freeman [13] nói: “Thật nghịch lý là nhà khoa học tìm ra chân lý sau nhiều lần lặp lại thí nghiệm và thu được các kết quả giống hệt nhau, trong khi đó nghệ sĩ tìm thấy chân lý sau khi thu được các kết quả hoàn toàn khác nhau.” Những phép đo khách quan, như luật viễn cận, luật hòa sắc, pha màu, hoà thanh, lên dây đàn, v.v. được dùng trong nghệ thuật như sự hỗ trợ về kỹ thuật cho sáng tạo. Xuất phát từ quan sát này là quan điểm cho rằng không hề có một liên hệ nào có nghĩa giữa khoa học và nghệ thuật. Cho dù có không ít người đồng ý, quan điểm này rõ ràng là sai. Một ví dụ hiển nhiên là sự phát triển hình học thời Phục hưng đã kéo theo sự phát triển của luật viễn cận trong nghệ thuật. Công nghệ hiện đại là yếu tố quan trọng sản sinh ra nhiều hình thức nghệ thuật đương đại như điện ảnh, âm nhạc điện tử, nghệ thuật video, v.v.

J. Pollock, Những chiếc sào xanh, 1952

Ngày nay khoa học được áp dụng để thẩm định nghệ thuật (qua các phương pháp như đánh dấu carbon, dùng máy tính điện tử để thẩm định các tác phẩm của Jackson Pollock [14] , v.v.). Khoa học cũng được áp dụng để đo các hưởng ứng sinh lý của người trước các tác phẩm nghệ thuật. Các nghiên cứu khoa học về tâm lý con người khi tiếp xúc với tác phẩm nghệ thuật cũng có hữu ích cho các nghệ sĩ và những người yêu nghệ thuật.

Lại có quan điểm ngược lại cho rằng khoa học và nghệ thuật có thể hòa nhập vì đều dựa trên hoạt động sáng tạo của con người. Tuy nhiên nếu đi sâu vào tính chất của sự sáng tạo, ta thấy rõ các lý thuyết khoa học đều mang tính toán học rất cao, còn các thực nghiệm khoa học đòi hỏi sự lặp đi lặp lại đã nói ở trên, khiến sáng tạo trong khoa học khác với sáng tạo trong nghệ thuật.

Nghệ thuật và khoa học là các thành tố của văn hóa. Vì thế bản chất và quan hệ giữa chúng thực ra khá phức tạp, thay đổi tùy theo thời gian và địa điểm. Sẽ thật ngây thơ khi cho rằng có thể tìm thấy một sự mô tả quan hệ bất biến giữa chúng. Trong tương lai sự tiến triển mau lẹ của nghệ thuật, khoa học và công nghệ sẽ còn đem lại cho chúng ta nhiều điều bất ngờ. Ví dụ internet có liên hệ thế nào với nghệ thuật? Chúng ta sẽ thấy nhiều phương tiện dùng kỹ thuật số, dùng network bandwidth. Chắc chắn chúng ta sẽ nhìn thấy nhiều loại hình nghệ thuật mới, song liệu chúng ta có thấy các giá trị thẩm mỹ mới không? Có lẽ chúng ta cũng sẽ được thấy sự ra đời của nhiều lý thuyết mới về nghệ thuật. Nhưng liệu chúng có hơn gì những lý thuyết cũ không?

Phụ lục

Nghệ thuật là gì, theo Lev Tolstoy

Lev Tolstoy (1828-1910)
do Ilya Repin vẽ năm 1887

1. Trong tác phẩm Nghệ thuật là gì? được xuất bản năm 1896, tác giả Chiến tranh và hòa bình đã định nghĩa nghệ thuật như một hình thức truyền đạt các cảm xúc mà một người đã trải qua tới những người khác, khiến cho những người này cũng bị lây nhiễm các cảm xúc đó và thấy như mình cũng trải qua những kinh nghiệm đó. Theo Tolstoy, để hiểu nghệ thuật một cách đúng đắn, chúng ta cần từ bỏ thói quen coi nghệ thuật như công cụ tạo nên khoái lạc, như hoạt động nhằm tạo ra cái Đẹp. Cái Đẹp là một khái niệm chủ quan, vì thế không thể dùng cái Đẹp như một tiêu chuẩn khách quan để định ra cái gì là nghệ thuật, cái gì không phải là nghệ thuật. Nghệ thuật là một trong những điều kiện của cuộc sống con người, là một trong những phương thức giao tiếp giữa con người với nhau. Nghệ thuật không phải là của riêng của một giai cấp đặc biệt nào trong xã hội. Việc giới hạn nghệ thuật nhằm phục vụ quyền lợi của một vài giai cấp nào đó, bất kể đó là tư sản, công nhân, hay nông dân, v.v., là chối bỏ chân lý rằng nghệ thuật là quan trọng cho toàn xã hội.

Lời bàn: Như vậy theo Tolstoy, nghệ thuật là phi giai cấp. Mọi quan điểm cho rằng nghệ thuật nhằm phục vụ lợi ích riêng của bất cứ giai cấp, tầng lớp, đảng phái chính trị nào trong xã hội đều là nhảm nhí. Các đảng phái có thể bị tiêu vong, các chế độ chính trị có thể bị suy tàn, nhưng nghệ thuật đích thực tồn tại mãi mãi.

2. Tolstoy phân biệt giữa nghệ thuật đích thực và nghệ thuật tồi. Ông cho rằng nghệ thuật đích thực bao giờ cũng thông thái nhưng có thể hiểu được. Nghệ thuật tồi thường nông cạn về tư duy nhưng lại rối rắm khó hiểu. Càng giới hạn nghệ thuật cho một số khán giả đặc biệt nào đó thì càng làm cho nghệ thuật trở nên tối tăm và khó được cảm nhận đối với các khán giả khác nằm ngoài số khán giả đặc biệt nói trên. Nghệ thuật đích thực có thể giao tiếp với công chúng rộng rãi vì lẽ nó biểu hiện ý nghĩa theo một cách mà ai cũng có thể hiểu được. Tolstoy thậm chí tin rằng nghệ thuật chỉ là đích thực một khi nó được đa số đánh giá cao, rằng một tác phẩm nghệ thuật lớn chỉ thực sự là “lớn” nếu tất cả mọi người đều hiểu nó. Ông lý luận rằng nếu không chấp nhận nghệ thuật là thông thái và có thể cảm nhận được thì bất cứ biểu hiện nông cạn và khó hiểu nào của tư duy hoặc cảm xúc đều có thể được gọi là “nghệ thuật”. Như vậy định nghĩa của nghệ thuật sẽ mất dần ý nghĩa cho đến khi trở nên vô nghĩa hoàn toàn.

Nghệ thuật đích thực có hình thức và nội dung thống nhất với các ý tưởng và cảm xúc mà nó khơi dậy. Nghệ thuật tồi không có sự nhất quán đó. Nó nông cạn, trùng lặp, sống sượng, nhạt nhẽo, giả tạo, hoặc tầm thường. Theo Tolstoy, phẩm chất quan trọng nhất của một tác phẩm nghệ thuật là tính chân thành. Chân thành ở đây được hiểu như sau: Một tác phẩm nghệ thuật đích thực bao giờ cũng bộc lộ những ý nghĩ và cảm xúc thực, không giả tạo, vay mượn, ép buộc. Ông còn đi xa hơn khi chỉ ra rằng các cảm xúc cao cả nhất mà nghệ thuật có khả năng biểu hiện là những cảm xúc liên quan đến nhận thức về tôn giáo.

Lời bàn: Việc hiểu Tolstoy một cách thô thiển dễ dàng dẫn đến quan điểm nghệ thuật phục vụ đại chúng. Bởi lẽ việc đánh giá nghệ thuật như vậy phụ thuộc rất nhiều vào trình độ dân trí của một xã hội, một tác phẩm nghệ thuật được đánh giá là vĩ đại ở những nước có trình độ dân trí cao có thể gây ra sự ngỡ ngàng hoặc thậm chí bị lên án tại các nước có trình độ dân trí thấp kém. Vì vậy giáo dục, học vấn và văn hóa đóng vai trò đặc biệt trong việc làm phong phú cảm xúc của con người, giúp con người tự tin vào chính mình, biết hoài nghi để tự kiểm chứng và xử lý thông tin theo quan điểm của riêng mình. Bên cạnh đó, một xã hội tôn trọng tự do ngôn luận, tự do biểu hiện cho phép con người được bộc lộ cảm xúc của mình một cách tự do, thoải mái nhất mà không bị bất cứ một nỗi sợ hãi nào đe dọa. Chỉ có một trình độ dân trí và xã hội dân chủ như vậy mới có chỗ cho nghệ thuật đích thực.

3. Tolstoi cho rằng tính chuyên nghiệp là nguyên nhân dẫn đến sự thiếu chân thành trong người nghệ sĩ. Ông lý luận rằng nếu nghệ sĩ phải kiếm sống bằng việc sản xuất nghệ thuật, thì thứ nghệ thuật “xuất xưởng” đó sẽ thiên về đồ rởm, thiếu chân thành hơn là nghệ thuật đích thực. Tolstoi cũng cho rằng diễn đạt lại hoặc phê bình nghệ thuật là điều phi lý và không cần thiết, vì lẽ bất cứ tác phẩm nghệ thuật đích thực nào cũng có khả năng tự biểu hiện tư duy và cảm xúc mà mọi người đều cảm nhận được. Tolstoy cho rằng mọi sự lý giải các tư duy và cảm xúc đều là thừa, vì nghệ thuật truyền cảm xúc và trải nghiệm theo một cách mà lời nói không thể nào diễn tả lại được. Trên cơ sở này, Tolstoy cho rằng giảng dạy nghệ thuật đồng nghĩa với tiêu diệt nghệ thuật, tiêu diệt cá tính của nghệ sĩ. Mọi toan tính dạy dỗ nghệ thuật thực chất chỉ đưa đến việc bắt chước các tác phẩm nghệ thuật của người khác.

Lời bàn: Oscar Wilde có quan điểm ngược với quan điểm của Tolstoy. Theo Oscar Wilde, “bản thân phê bình nghệ thuật cũng là một nghệ thuật, phê bình là một sự sáng tạo theo nghĩa cao cả nhất của từ đó. Phê bình thực chất vừa có tính sáng tạo lại vừa độc lập. Quan hệ giữa nhà phê bình với tác phẩm nghệ thuật mà anh ta phê bình giống hệt như quan hệ giữa họa sĩ với thế giới hữu hình của màu sắc và hình khối, hoặc thế giới vô hình của niềm say mê và tư duy. Phê bình đặt tác phẩm vào một hình thức mới và thú vị. Thực chất đó là một sự sáng tạo trong một sự sáng tạo. Đối với nhà phê bình, tác phẩm nghệ thuật đơn giản chỉ là một sự gợi ý cho một tác phẩm mới của chính nhà phê bình. Tác phẩm mới này không nhất thiết phải giống với cái mà anh ta phê bình” [15] .

4. Quan niệm nghệ thuật là phổ cập cho tất cả mọi người của Tolstoy khẳng định rằng nghệ thuật là phổ cập nếu nó biểu hiện các tư tưởng và cảm xúc mà bất cứ ai cũng có thể trải nghiệm. Theo Tolstoy, bất cứ ai cũng có thể trải nghiệm các tư tưởng hoặc cảm xúc tôn giáo. Vì vậy nghệ thuật là phổ cập khi nó biểu hiện các cảm xúc mang tính tôn giáo. Nhận thức có tính tôn giáo được thể hiện bằng nghệ thuật là nhận thức rằng hạnh phúc của nhân loại phụ thuộc vào sự hài hòa và hiểu biết lẫn nhau trong xã hội.

Lời bàn: Cách nhìn nhận nghệ thuật của Tolstoy khiến nghệ thuật phải đáp ứng một lúc cả ba yêu cầu: tính thẩm mỹ, đạo đức và xã hội. Nó na ná giống quan niệm nghệ thuật phải đủ “chân, thiện, mỹ” của phương Đông. Vì lẽ đó Tolstoy đã loại nhiều nghệ thuật ra khỏi cái mà ông cho là nghệ thuật đích thực. Ví dụ ông coi âm nhạc của Bach, Mozart, hài kịch của Molière, thơ của Goethe và Hugo, tiểu thuyết của Dickens và Dostoevsky là những ví dụ của nghệ thuật đích thực. Trong khi đó, thơ của Baudelaire và Mallarmé, kịch của Ibsen, âm nhạc của Wagner và Liszt bị ông coi là nghệ thuật tồi (!)

(Bản đăng tại talawas ngày 12/1/2006)

[1] Bart Rosier, What is art?, http://www.geocities.com/SoHo/Coffeehouse/6831/whatsart.html

[2] Joseph A. Goguen, Journal of Conciousness Studies, 7, Nos. 8-9 (2000) 7.

[3] Leo N. Tolstoy, What is Art? (McMillan, New York, 1960).

[4] Marcel Duchamp (1887-1968): họa sĩ Pháp, một trong các nhà sáng lập ra trường phái Dada vào năm 1915. Ông nổi tiếng vì tác phẩm theo trường phái lập thể-tương lai Khỏa thân đang đi xuống cầu thang, chậu đi tiểu mà ông đặt tên là Đài phun (Fountain). Năm 1917 khi Đài phun được trưng bày lần đầu tiên tại triển lãm của hội các họa sĩ độc lập tại New York, ban tổ chức triển lãm đã phải họp khẩn cấp và bỏ phiếu để cất cái vật thể “đồi trụy” này khỏi phòng triển lãm. Vậy Fountain có phải là nghệ thuật không? Chúng ta làm thế nào để phán xét đây? Đó chính là những câu hỏi mà Duchamp muốn chúng ta nêu ra khi xem tác phẩm của ông. Ông bày nó ra để thách thức người xem.

[5] Andy Warhol (1928-1987): nghệ sĩ Mỹ, một trong những người tiên phong của pop-art, và có ảnh hưởng lớn nhất trong nghệ thuật cuối thế kỷ 20.

[6] Plato (427-347 ): triết gia Hy Lạp, có ảnh hưởng nhất trong toàn bộ nền văn minh phương Tây.

[7] John Keats (1795-1821): một trong 3 thi sĩ Lãng mạn vĩ đại nhất của Anh, bên cạnh Byron và Shelleỵ

[8] Martin Heidegger (1889-1976): triết gia Đức, một trong những triết gia quan trọng nhất của thế kỷ 20, một trong những nhân vật trung tâm của chủ nghĩa Hiện sinh.

[9] Immanuel Kant (1724-1804): triết gia Đức, một trong những triết gia có ảnh hưởng lớn nhất trong toàn bộ triết học phương Tây. Các công trình của ông về siêu hình, nhận thức luận, luân lý, thẩm mỹ học đã ảnh hưởnh sâu sắc đến mọi trào lưu triết học sau ông.

[10] Oscar Wilde (1854-1900): nhà văn, viết kịch, thi sĩ Anh – Ái Nhĩ Lan, rất nổi tiếng ngay từ khi còn sống, bị kết án và bỏ tù vì đồng tính luyến ái.

[11] Aristotle (384-322): học trò của Plato và thầy của Alexander Đại đế, một trong 3 triết gia cổ Hy Lạp vĩ đại nhất, bên cạnh Plato và Socrates.

[12] Claude Monet (1840-1926): họa sĩ Pháp, một trong những người khởi xướng hội họa ấn tượng. Bức họa Impression: Soleil levant (Ấn tượng: Mặt trời mọc) cuả ông vẽ năm 1873, khi triển lãm lần đầu tiên vào năm 1874 tại một hiệu ảnh ở phố Capucines (Paris) cùng với tranh của 8 họa sĩ khác (Boudin, Degas, Cézanne, Guillaumin, Berthe Morisot, Pissarro, Renoir và Sisley), đã gây một cú sốc có tiếng vang rất lớn. Nhà phê bình Louis Leroy đã mượn tên của bức tranh này để chơi chữ có tính diễu cợt trong bài báo Triển lãm của bọn Ấn tượng (L’Exposition des Impressionistes) đăng ngày 25/4/1874, hoàn toàn không biết rằng mình đã đặt tên khai sinh cho một trào lưu sau này trở thành một trường phái nghệ thuật lớn.

[13] Anthony Freeman: cố đạo và nhà nghiên cứu thần học, bị khai trừ khỏi Giáo hội Anh vì những quan điểm cực đoan, tổng biên tập Tạp chí nghiên cứu ý thức từ năm 1994. Tác phẩm nổi tiếng Chúa trong chúng ta (1993), Ý thức: Hướng dẫn tranh luận (2003).

[14] Jackson Pollock (1912-1956): họa sĩ Mỹ, người tiên phong của trào lưu trừu tượng biểu hiện. Tác phẩm Những chiếc sào xanh (Blue Poles, 1952) của ông được Bảo tàng Quốc gia Úc mua năm 1973 với giá 2 triệu USD – giá kỷ lục cho một tác phẩm nghệ thuật đương thời.

[15] Oscar Wilde, The Critic as Artist,

http://www.greeleynet.com/~maxalla/GatewaySub/Classes/VariousEssays/CriticAsArtist.html

Nước mắt Trần Ngọc Sương

Bà Sương khi đương chức

Nước mắt người phụ nữ ấn tượng châu Á Trần Ngọc Sương
VnExpress

Bà ngửa cổ thở dốc, bàn tay xanh xao bám vào bậu cửa rồi run rẩy bước ra khỏi căn phòng nhỏ tồi tàn, tối như bưng. Trông vẻ tiều tụy ấy, không ai ngờ chỉ vài năm trước, bà còn là nữ anh hùng lao động đầu tiên của Việt Nam được vinh danh châu Á.

Dưới ánh sáng lờ mờ, dáng nhỏ bé, hom hem của bà Trần Ngọc Sương như chao đảo cùng căn nhà cấp 4 xập xệ với tường gạch đầy rẫy những vết nứt toác, ngoằn ngoèo. Từ hôm tòa xử phúc thẩm và tuyên án 8 năm tù, bà đã suy sụp và gầy sọm đi rất nhiều.

Chầm chậm đốt nén hương trên bàn thờ người cha quá cố (anh hùng lao động Trần Ngọc Hoằng), bà Sương ngồi chết lặng nhìn di ảnh cha, khóe mắt nhăn nheo đầy vết chân chim loang loáng nước. Thật lâu sau, bà cất giọng mệt mỏi đầy vẻ cay đắng: “Cuộc đời đúng là không ai học được chữ ngờ. Giờ đây vừa phải chống chọi với bệnh tật, với cáo buộc của cơ quan pháp luật, tôi còn sắp bị người ta buộc ra khỏi căn nhà thuê của Nông trường Sông Hậu (NTSH) này. Nhưng còn sống đến ngày nào, tôi sẽ kêu oan tìm lẽ phải cho mình đến cùng…”

Không kể về quá khứ vinh quang của mình, nhưng nhìn vào ánh mắt những người còn lại bên bà, người ta dễ dàng nhận ra sự thương yêu, kính trọng. Không máu mủ, nhưng họ tự nhận mình là người thân của bà, được bà dìu dắt, bảo bọc suốt hàng chục năm trời. Để rồi giờ đây khi cơn đau tim luôn hành hạ, họ lại đến bên bà để chăm sóc.

Năm 1965, chỉ 16 tuổi, bà Sương đã đoạt giải nhất cuộc thi nữ công gia chánh tỉnh Bạc Liêu. Tuy nhiên, như một định mệnh, bà lại chọn ngã rẽ khác cho cuộc đời mình bằng quyết định theo học khóa 1 đại học Nông nghiệp Cần Thơ. Ra trường, bà về NTSH làm việc cùng cha, ông Trần Ngọc Hoằng, người đã có công khai hoang gần 7.000 ha đất.

Theo định hướng của ông Hoằng cộng với quyết tâm phát triển, biến nơi đây thành nông trường kiểu mẫu, bà tiếp tục sang Liên Xô để nghiên cứu về quản lý kinh tế. Về nước, cùng với cha, bà Sương đã vạch ra hàng loạt những kế hoạch, chiến lược để biến vùng đất trũng luôn bị thiên tai ngập lụt thành trung tâm sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, lo được đời sống cho hàng chục ngàn nông dân tại đây.

Đến ngày 31/10/1992, NTSH trở thành doanh nghiệp Nhà nước, thu hút nông dân vào làm ăn xây dựng nông trường. Với chủ trương phát huy tinh thần tự lực, vượt khó khăn để xây dựng những cơ sở vật chất, nông trường đưa toàn bộ diện tích đất sản xuất lúa lên 2 vụ một năm và áp dụng tiến bộ khoa học vào trong sản xuất làm tăng năng suất vượt bậc. Từ đó, NTSH trở thành điển hình của vùng nông thôn mới cho khắp nơi học hỏi và nơi đây cũng nhiều lần được đón tiếp các đoàn lãnh đạo đến thăm, chỉ đạo nhân rộng loại hình nông trường kiểu mẫu.

Với những thành tích trên, một lần nữa, bà Trần Ngọc Sương nối tiếp cha nhận danh hiệu “Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới”. Không dừng lại ở đó, năm 2002, bà còn có mặt trong 15 người xuất sắc nhất trên 11 quốc gia đoạt giải “Người phụ nữ ấn tượng khu vực châu Á – Thái Bình Dương”. Cầm trong tay số tiền thưởng 10.000 USD, bà nghĩ ngay đến thân phận những trẻ em và phụ nữ nghèo ở Cần Thơ nên đã gửi tặng họ.

Gần 30 năm cống hiến cuộc đời cho nông trường, bà Sương đã quên đi hạnh phúc riêng tư của mình. Giờ đây, trong căn phòng chỉ rộng gần 10 m2, ngổn ngang đồ đạc chỉ đủ chỗ kê tạm chiếc giường xếp, người nữ anh hùng ấy đang phải từng ngày, từng giờ chống chọi với bệnh tật.

Từng hồi chuông điện thoại cứ réo rắt vang lên suốt buổi, rồi từng người lần lượt tìm đến căn nhà ọp ẹp chỉ để hỏi thăm sức khỏe, động viên, an ủi người phụ nữ này. Để khi còn lại một mình, đôi bàn tay xanh xao, nhằng nhịt gân xanh của bà Sương cứ mân mê mãi tập hồ sơ có bút ký lời khen tặng của những vị lãnh đạo từng đến thăm NTSH trong thời kỳ hoàng kim. Nước mắt bà mãi không ngừng tuôn rơi…

Trao đổi với VnExpress.net, luật sư Nguyễn Trường Thành (người bào chữa cho bà Trần Ngọc Sương) cho biết, trong ngày hôm nay (23/11) ông sẽ gửi đơn khiếu nại giám đốc thẩm lên Chánh án TAND Tối cao và Viện trưởng VKSND cùng cấp để kêu oan cho thân chủ của mình.

Theo cơ quan pháp luật, từ đầu năm 2001 đến cuối năm 2007, trong quá trình giữ chức vụ giám đốc NTSH, bà Sương đã móc nối với cấp dưới tự ý thành lập quỹ riêng từ khoản thu trong hoạt động của nông trường. Nguồn quỹ này do giám đốc Sương trực tiếp điều hành và quyết định thu, chi.

Cụ thể, năm 2003 – 2007, bà Sương đã chỉ đạo, bán 4 lô đất của nông trường và nhập toàn bộ vào nguồn quỹ trái phép. Sau đó, bà còn thông đồng với các cấp dưới không đưa vào sổ sách kế toán các khoản thu từ việc bán bạch đàn tại nông trường, cho thuê đất, thu quản lý công trình điện nông thôn… Ước tính, số tiền hơn 8,4 tỷ đồng nhập vào quỹ riêng và sử dụng mua nhà, mua quà sinh nhật, lễ tết, tiếp khách, đi công tác nước ngoài… Theo kết luận giám định tài chính, hành vi lập quỹ trái phép, chi tiêu tùy tiện xảy ra tại NTSH đã gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước tổng số tiền trên 4,5 tỷ đồng.

Ngày 15/8, TAND huyện Cờ Đỏ (Cần Thơ) đã tuyên phạt Trần Ngọc Sương mức án 8 năm tù về tội “Lập quỹ trái phép” và buộc bà này phải nộp bồi thường thiệt hại cho NTSH hơn 4,3 tỷ đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 19/11, mặc dù bà Sương vẫn một mực kêu oan và 110 nông trường viên NTSH gửi đơn “xin đi tù thay” vị cựu giám đốc này nhưng TAND tỉnh Cần Thơ vẫn giữ nguyên mức án đối với bà Sương.

Vũ Mai

Thư ngỏ của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh gửi Đại sứ TQ ở VN

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Thư ngỏ gửi Đại sứ Tề Kiến Quốc

Đọc được những lời nói của ông Tề Kiến Quốc với nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan thấy ông “nói lấy được”, nói sai nhiều quá!

Trước hết nói về quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, Việt Nam có đủ cứ liệu lịch sử, từ Vua Minh Mạng đã có các đội công tác ra tuần tra khai thác, thực tế là Việt Nam đã quản lí. Trong bức bản đồ do tướng Đặng Chung, Phó Tổng binh trấn thủ đảo Quỳnh Châu (đảo Hải Nam ngày nay) vẽ cũng ghi Hoàng Sa thuộc về An Nam (Việt Nam); còn thư tịch Trung Quốc thì không tìm thấy một cứ liệu nào. Về thực tế, thời thực dân Pháp cai trị Việt Nam, thì quân Pháp đóng giữ Hoàng Sa, thời Việt Nam Cộng hòa cai trị thì quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ (Việt Nam Cộng hòa dù là Ngụy quyền cũng vẫn là Việt Nam). Năm 1974, Trung Quốc huy động lực lượng mạnh hơn bất ngờ đánh chiếm Hoàng Sa, từ đó đến nay luôn rêu rao là của Trung Quốc. Theo luật biển quốc tế thì hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều nằm trong hải lãnh Việt Nam.

Ông nói lãnh đạo Trung Quốc đã đề ra phương châm “16 chữ vàng”, ông nói rất nhiều về hữu nghị Trung – Việt. Có thật không? Hữu nghị, sao năm 1979 lại đem quân đánh Việt Nam, tàn phá 3 tỉnh biên giới Việt Nam, giết hại nhân dân vô tội? Sao lại dùng lực lượng mạnh liên tục tấn công chiếm bằng được cao điểm 1509 trong huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang của Việt Nam? Hữu nghị, sao lại dùng lực lượng lớn hơn bắn đắm tàu hải quân và giết hại 74 thủy thủ ra tiếp tế cho Trường Sa của Việt Nam ngày 14/4/1988? Hữu nghị, sao không trả lại Hoàng Sa cho Việt Nam? Hữu nghị, sao lại ngăn cản Việt Nam liên doanh với công ty Anh, Mỹ thăm dò dầu khí thuộc lãnh hải Việt Nam trong vùng Trường Sa? Hữu nghị, sao lại vạch một vùng trong lãnh hải Việt Nam, cấm ngư dân Việt Nam ra đánh cá, hễ gặp thì bắn, thì bắt? Hữu nghị, sao lại tịch thu ngư cụ, đánh đập ngư dân Việt Nam vào tránh bão ở Hoàng Sa vốn là của Việt Nam, sao Việt Nam lại mất một nửa thác Bản Giốc? Biên giới Trung – Việt xưa nay từ ải Nam Quan, nay sao lại tụt xuống tận Tân Thanh? Tất cả những điều trên đây là sự thật 100%. Hữu nghị , sao lại để dành khoảng 100 mỏ bốc-xít của Trung Quốc, mà vào khai thác bốc-xít Tây Nguyên của Việt Nam để kiếm lợi và để chất độc trong “bùn đỏ” di hại lâu dài cho nhân dân Nam Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam chịu nguy hiểm như vậy? ông lại cho rằng nhân dân Việt Nam không phản ứng. Một làn sóng bất bình nổi lên từ Bắc chí Nam, hàng ngàn trí thức, lão thành cách mạng, cựu chiến binh có kiến nghị phản đối. Vậy mà ông nói bừa là không đại diện cho dân chúng. Ông còn nói Chính phủ Việt Nam không toàn tâm kiểm soát, ý ông cho rằng Chính phủ Việt Nam bịt miệng dân chưa đủ, muốn kích Chính phủ Việt Nam đàn áp mạnh hơn nữa chăng?!

Cuối cùng ông nói không có khả năng xảy ra chiến tranh. Đúng! Trong tình hình thế giới hiện nay, các nước lớn không dễ gì tùy tiện gây ra chiến tranh, nếu gây ra họ cũng không tránh khỏi thiệt hại. Đã đánh nhau thì bên kia “sứt đầu”, bên này cũng “mẻ trán”, chưa kể là hao tiền tốn của (Mỹ hết sa lầy ở Việt Nam nay lại đang sa lầy ở I-rắc). Còn Việt Nam thì không hề muốn có chiến tranh và chưa hề chủ động gây ra chiến tranh. Ông cho rằng Trung Quốc không muốn đánh, Việt Nam không dám đánh. Ông nói thế đúng được một nửa. Từ xa xưa cũng như cận đại, Việt Nam không dám gây chiến với Trung Quốc mà luôn bị bắt buộc phải đánh trả để bảo vệ độc lập, tự do của mình. Ông nói “Trung Quốc muốn làm nước lớn có hình ảnh đẹp. không thể dùng thủ đoạn chiến tranh đối với láng giềng”. Vậy năm 1979, Trung Quốc huy động mấy quân đoàn đánh Việt Nam là gì? Lại nói là “dạy cho Việt Nam một bài học”. Việt Nam có xâm phạm Trung Quốc đâu? Việt Nam phạm tội gì mà phải dạy, có chăng là tội không tuân phục Trung Quốc, không đáp ứng những yêu cầu vị kỉ của Trung Quốc?! Thật đúng như người ta từng nói “Đừng chỉ nghe lời người Trung Quốc nói, hãy xem việc họ làm”.

Suốt 10 thế kỷ, Việt Nam luôn là nạn nhân của chiến tranh xâm lược của nước ngoài, đã tốn bao xương máu để giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc của mình. Việt Nam tha thiết với hòa bình hơn ai hết. Việt Nam không có lợi ích gì gây hấn với nước láng giềng lớn Trung Quốc, luôn muốn chung sống hòa bình hữu nghị với Trung Quốc, tôn trọng bạn láng giềng, hợp tác kinh tế trên tinh thần bình đẳng cùng có lợi, giao lưu với nhau về nhiều mặt. Việt Nam cũng yêu cầu Trung Quốc chung sống hữu nghị thật lòng với mình không chỉ trên lời nói mà thể hiện trên việc làm, tôn trọng độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia của Việt Nam. Hai bên đều hành xử đúng thì mới xây dựng được thành láng giềng hữu nghị thật sự, lâu dài.

Kính chào

Nguyễn Trọng Vĩnh

Bản ông NTV gửi cho BauxiteVN

Tiểu sử Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (1916), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chính ủy Quân khu 4, Cục trưởng Cục Tổ chức trực thuộc Tổng cục Chính trị.

Thiếu tướng (1959).

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất…

Ông quê ở xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, tham gia Cách mạng năm 1937, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (ĐCSVN) năm 1939, nhập ngũ năm 1947.

Năm 1940 ông bị thực dân Pháp bắt giam. Sau khi được trả tự do (2.8.1945) ông được phân công về hoạt động tại huyện Đông Anh là Bí thư huyện ủy, kiêm Phó Chủ tịch huyện chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8.1945. Sau cách mạng tháng 8, tháng 11 năm 1945, ông được điều về làm Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Phúc Yên rồi tháng 10 năm 1946, là Bí thư tỉnh ủy kiêm Phó Chủ tịch tỉnh Thái Bình.

Tháng 2 năm 1947, trước yêu cầu của của cuộc kháng chiến chống Pháp, ông được điều vào quân đội là Chính ủy, Thường vụ khu ủy Khu 1. Từ 2.1948 đến 1950, ông là Trưởng phòng cán bộ và đảng vụ, Cục phó Cục Chính trị Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam, Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị.

Năm 1958, ông được cử vào làm Chính ủy Quân khu 4. Tháng 6.1961 ông ra Trung ương và giữ chức vụ Phó Tổng thanh tra Ban Thanh tra Chính phủ.

Tháng 8 năm 1961, ông là Bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa. Từ tháng 3 năm 1964 đến năm 1974, ông là Đoàn ủy Đoàn 959, kiêm Phó ban công tác miền Tây của Chính phủ (CP–38), Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Từ năm 1974 đến năm 1989, ông là Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, là vị đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc lâu năm nhất đồng thời lại là thời kì căng thẳng, xung đột giữa hai nước.

Ông là ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 3. Năm 1993, ông là Phó Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Việt Nam.

Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam.

Chú ý: Trong từ điển không ghi Thiếu tướng Nguyễn Văn Vĩnh từng giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nhưng theo một bài viết của Trung tướng Đặng Kinh thì tại thời điểm 1968 ông là Thứ trưởng Bộ quốc phòng.
Nội dung nay có nhầm lẫn. Ông Nguyễn Trọng Vĩnh chưa bao giờ giữ chức vụ Thứ trưởng BQP.

Bà Ba Sương thấy ấm áp vì những chia sẻ

Bà Ba Sương: “Nhận được sự chia sẻ, lòng tôi thấy ấm áp”
Lao Động số 269 Ngày 26/11/2009 Cập nhật: 8:19 AM, 26/11/2009

(LĐ) – Câu chuyện với bà Ba Sương bị đứt quãng nhiều lần bởi bà không kìm được nước mắt. Mỗi lần như vậy, tôi kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi bà hết khóc mới trò chuyện.
Căn nhà bà Trần Ngọc Sương tá túc nằm trong con hẻm ở đường Điện Biên Phủ – Q.Bình Thạnh, TPHCM. Nhà nhỏ, căn phòng của bà càng nhỏ, chỉ đủ kê chiếc ghế bố và vài vật dụng cộng với chồng hồ sơ liên quan đến vụ án Nông trường Sông Hậu.

- Sức khỏe của bà hiện nay như thế nào, nhất là sau bản án của phiên xét xử phúc thẩm?

- Tôi bị stress nặng, bị tiểu đường týp 2, suy mạch vành và thiếu máu cơ tim. Ngày 19.11 nhập viện. Một bệnh nhân ở trong phòng quên đóng cửa, kẻ trộm vào ăn cắp hết đồ đạc. May mà cái điện thoại cầm tay quá cũ, nên người ta không lấy. Mấy ngày qua, có nhiều sự chia sẻ của báo chí, của bạn bè, bà con nên tôi thấy lòng mình ấm áp hơn.

- Bà có tiên liệu kết quả của phiên tòa phúc thẩm hay bị sốc?

- Tôi không bất ngờ vì đã biết trước.

- Những ngày lâm vào vòng tố tụng. Có lẽ có nhiều điều để một con người từng trải như bà chiêm nghiệm, bà có thể chia sẻ được đôi điều?

- Nhiều điều tưởng bình thường nhưng càng ngẫm càng thấy thấm thía. Người đời nói “phù thịnh chứ không ai phù suy”. Khi mình thịnh thì ai cũng chị chị em em, nhưng chỉ cần sa cơ là không có mấy ai bên cạnh. Những người từng rất thân thiết nay không một lời an ủi, không một lần viếng thăm. Có nhiều người đương chức sợ nhận một cuộc điện thoại của tôi, sợ phải tiếp tôi. Nhưng tôi rất tự trọng, không gặp bất cứ ai vì sợ làm phiền đến họ. Ở đời có nhiều điều trải nghiệm rồi mới tường tận được.

- Nhưng được biết có rất nhiều người thăm hỏi, tặng quà để chia sẻ với bà trong lúc khó khăn này?

- Đây là một điều rất lạ lùng. Nhiều người không quen biết, nhưng lại tìm đến thăm tôi. Có người cho quà, có người cho tiền. Tôi nhận tiền mà rơi nước mắt. Tôi từng đi tặng quà, làm từ thiện, nay mới thấu hiểu được hạnh phúc của một người khốn khổ khi được người khác giúp đỡ. Qua những tấm lòng đó, tôi tin rằng dân tộc mình vẫn còn giữ được điều rất quý giá, đó là lòng tốt, thương người gặp hoạn nạn.

Bà ba Sương vừa nói vừa lấy ra mấy chiếc phong bì, trong đó có tiền người ta gửi cho. Bà cẩn thận ghi lại tên của những người đã giúp đỡ mình, để sau này có dịp đền đáp. Quan sát căn nhà nhỏ mà bà đang tá túc, tuy chật chội nhưng tươm tất, đủ cho bốn người trong gia đình sinh hoạt, nhưng tội nghiệp cho họ vì căn nhà này sắp bị thu lại, bà Sương nói thêm:

- Bà Trần Ngọc Điệp, người thuê căn nhà này vừa gửi đơn xin ông giám đốc NTSH thương tình cho kéo dài thêm hợp đồng đến ngày 16.12.2009. Ngày 25.11, giám đốc NTSH đã có văn bản chấp thuận. Tính ra còn 20 ngày nữa để tìm nhà khác thuê. Trước đây tôi không chuẩn bị nhà cửa cho mình, vì tính nghỉ hưu thì ở lại khu tập thể tại nông trường, sống với bà con nông dân, với các cán bộ trẻ cho đến hết đời. Nhưng nay tôi không còn ý định trở về sống ở đất Cần Thơ, bởi vì người ta đã dồn tôi đến đường cùng.

- Không nhà cửa, không tiền bạc, không gia đình, vậy bà sẽ làm gì để sống những ngày tháng tiếp theo?

- Trước đây tôi có học nữ công gia chánh, giỏi nấu ăn, chế biến thực phẩm. Tôi sẽ trở lại với nghề này, cùng mấy chị em làm thực phẩm sạch, bỏ mối lấy tiền sống qua ngày. Nhưng phải xong việc này đã.

- Bà cho rằng mình vô tội, thế thì các cơ quan tố tụng dựa vào đâu để khởi tố, điều tra xét xử một vụ án liên quan đến một đơn vị hai lần Anh hùng và một người Anh hùng?

- Tôi không tham ô, không phạm bất cứ một tội gì, nhưng tôi đã phạm sai lầm là quá tin người. Tôi đã tin vào cán bộ của tôi, không kiểm tra giám sát, để anh em làm những việc tùy tiện. Kinh nghiệm xương máu của tôi là phải cập nhật các nghị định, thông tư, văn bản pháp luật liên quan để kiểm tra giám sát. Tôi cứ cắm đầu đi làm bên ngoài, bươn chải để tìm đối tác, tìm công nghệ, nhưng không kiểm tra chặt chẽ công việc của cấp dưới nên có những sai sót về kỹ thuật. Có những quy định rất có lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nông trường thì họ không biết để vận dụng, lại đi áp dụng những quy định bất lợi. Tôi có cả một tập hồ sơ để chứng minh cho điều đó.
Lê Thanh Phong thực hiện

Những chiêu tham nhũng của…

Thứ Bảy, 28/11/2009, 08:05
Những ‘chiêu’ biến tài sản công sang tư -

“Trong khi Luật Hình sự quy định trộm cắp tài sản trị giá từ 500 ngàn đồng trở lên đã phải vào nhà đá, còn ở đây họ biến tài sản công thành tài sản tư cả ngàn tỷ đồng thì chẳng làm sao”.
Một trưởng đoàn Thanh tra của Thanh tra Chính phủ (TTCP), nói về những sai phạm trong quá trình cổ phần hóa (CPH) một số tập đoàn, tổng Cty nhà nước.

Nơi nào cũng sai
Trong năm 2009, TTCP công bố kết luận thanh tra việc thực hiện CPH ở hai tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Bưu chính Viễn thông (VNPT). Đồng thời, Kiểm toán Nhà nước kiểm toán việc thực hiện CPH tại một số đơn vị của Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV).
Đáng chú ý, việc hậu kiểm quá trình thực hiện CPH ở những ông lớn này đều phát hiện những sai phạm nghiêm trọng, bỏ quên, xác định sai hoặc loại bỏ giá trị tài sản của Nhà nước hàng chục tỷ đồng.
Mới đây, trong kết luận thanh tra việc thực hiện CPH tại VNPT, TTCP phát hiện nhiều sai phạm, kiến nghị thu hồi gần 90 tỷ đồng.
Còn tại EVN, Thanh tra cũng kiến nghị thu hồi hơn 20 tỷ đồng sai phạm trong thực hiện CPH và báo cáo Thủ tướng xử lý số tiền trên 756 tỷ đồng thu được từ CPH các đơn vị thành viên mà EVN đã chi sai.
Còn việc CPH tại TKV, từ năm 1999 đến năm 2008, có 47 doanh nghiệp được CPH, kiểm toán Nhà nước cũng phát hiện sai phạm, như: Tính lợi thế kinh doanh không đúng dẫn tới làm mất vốn Nhà nước khi xác định giá trị doanh nghiệp và trong cơ cấu vốn trên 12 tỷ đồng….
Thủ thuật biến tài sản công thành tư
Nhìn vào kết quả thanh tra việc CPH tại các tập đoàn trên, các hình thức sai phạm chủ yếu là xác định sai giá trị tài sản, không tính giá trị lợi thế kinh doanh hoặc bỏ quên tài sản.
Ví dụ như ở TKV, do đặc thù, tài sản Nhà nước tại một số doanh nghiệp CPH là các mỏ khoáng sản, nên chỉ cần đánh giá sai trữ lượng mỏ, đánh giá không đúng lợi thế quyền khai thác với các đơn vị có các mỏ, quặng quý hiếm, là nhà nước mất tiền tỷ….
Tại EVN, qua thanh tra việc thực hiện CPH tại ba doanh nghiệp, gồm: Cty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại, Cty Cổ phần Điện lực Khánh Hòa, Cty Cổ phần thiết bị điện Đông Anh, cả ba đơn vị đều phát hiện các đơn vị tư vấn đã tính toán sai quy định, áp dụng sai suất đầu tư do Viện Kinh tế – Bộ Xây dựng ban hành, dẫn đến làm giảm giá trị doanh nghiệp, từ đó giảm giá trị phần vốn nhà nước gần 4,5 tỷ đồng…
Ở đây, theo quy định tại Thông tư 126 của Bộ Tài chính, việc xác định giá trị thực tế của tài sản bằng nguyên giá tính theo giá thị trường nhân với chất lượng còn lại của tài sản tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.
Đối với tài sản không tính vào giá trị doanh nghiệp, sau khi CPH phải bàn giao cho Cty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (đối với động sản) và bàn giao cho địa phương (đối với bất động sản).
Tuy nhiên, Cty Cổ phần Chế tạo Thiết bị Điện Đông Anh, sau khi CPH vẫn chưa bàn giao về Cty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng doanh nghiệp (Bộ Tài chính) số tài sản được cho là không cần dùng, với trị giá trên 2 tỷ đồng.
Còn tại Cty Cổ phần Điện lực Khánh Hòa cũng xảy ra tình trạng tương tự. Khi CPH Cty này loại ba khu nhà tập thể ở những vị trí khá đắc địa (đường Trần Phú, đường Núi Một và đường 2/4, TP Nha Trang), trị giá nhiều tỷ đồng.
Đáng chú ý, cả hai trường hợp trên, tuy tài sản bị loại ra khỏi việc xác định giá trị tài sản doanh nghiệp nhưng lại vẫn được doanh nghiệp sử dụng sau khi đã CPH.
Theo quy định tại Nghị định 64, ngày 19/6/2002, Bộ Thông tin và Truyền thông quyết định CPH các doanh nghiệp thuộc VNPT. Tuy nhiên, qua kiểm tra, có đến 26/39 doanh nghiệp thành viên của VNPT được CPH theo quyết định của HĐQT tập đoàn VNPT.
Việc quyết định CPH sai thẩm quyền này, dẫn tới khi phê duyệt phương án CPH sẽ mất kênh giám sát là Bộ Thông tin và truyền thông.
Thanh tra phát hiện, có 12 doanh nghiệp đã CPH nhưng VNPT chưa thu hồi giá trị phần vốn nhà nước hơn 43 tỷ đồng và số cổ tức phần vốn nhà nước tại 21 doanh nghiệp cũng bị bỏ quên số tiền hơn 17 tỷ đồng…
Ngoài ra, tại nhiều doanh nghiệp đã CPH của VNPT, tình trạng xác định không đúng giá trị tài sản, làm mất giá trị tài sản của nhà nước cũng xảy ra.
Nhìn từ việc CPH các doanh nghiệp nhà nước tại các tập đoàn, tổng Cty lớn trên cho thấy, nếu không được hậu kiểm, nhà nước mất hàng trăm tỷ đồng. Bởi khi CPH, từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành doanh nghiệp đa sở hữu (trong đó có nhiều doanh nghiệp nhà nước không chiếm cổ phần chi phối), tức luồng giá trị tài sản sẽ dịch chuyển từ công sang tư.
Ai chịu trách nhiệm?
Theo quy định, khi xác định giá trị tài sản tại các doanh nghiệp thuộc các tập đoàn kinh tế Nhà nước phải qua khá nhiều khâu: Từ thuê tư vấn và kiểm toán độc lập xác định giá trị doanh nghiệp; thông qua hội đồng CPH, cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực (bộ, ngành) và Bộ Tài chính phê duyệt phương án CPH…
Nhưng kết quả thanh tra cho thấy việc CPH tại các tập đoàn đều có sai phạm. Tuy nhiên, cho đến nay chưa ai bị xử lý về việc làm mất tiền tỷ của Nhà nước, kể cả các Cty kiểm toán độc lập cũng không bị xử lý.
Để ngăn chặn việc lợi dụng CPH, rút ruột tài sản Nhà nước, TTCP vừa có kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giao các bộ, ngành đề xuất với Thủ tướng bổ sung các quy định liên quan như: Cụ thể hóa trách nhiệm của các đơn vị tư vấn, kiểm toán trong việc xác định giá trị doanh nghiệp không đúng quy định; Cơ chế quản lý về hoạt động kinh doanh, công tác tổ chức cán bộ và việc thanh, kiểm tra đối với các doanh nghiệp sau CPH, trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng khi để xảy ra tình trạng mất tài sản nhà nước…
“Nếu không có quy định rõ ràng, rất dễ xảy ra tình trạng thông đồng giữa những cán bộ làm tư vấn, kiểm toán, cơ quan chủ quản để rút ruột tài sản khi CPH”, một quan chức TTCP nói.

Bá Kiên
Tponline

Trần thuật trong tiểu thuyết

Bàn về khía cạnh trần thuật trong tiểu thuyết
30/11/2009

Tác giả: Trần Minh Đức

Tiểu thuyết (novel) là thể loại lớn tiêu biểu cho loại hình tự sự, “cỗ máy cái” của nền văn học hiện đại. Với đặc trưng thi pháp của mình, bằng phương thức trần thuật, tiểu thuyết chiếm lĩnh và khái quát hiện thực cuộc sống một cách đa chiều và phong phú. Tìm hiểu vấn đề trần thuật trong tiểu thuyết nói riêng và trong văn tự sự nói chung giúp chúng ta hiểu rõ hơn một phương diện cơ bản của thi pháp thể loại. Trong bài viết này, chúng tôi xin bàn về một số khía cạnh của vấn đề trần thuật trong tiểu thuyết: Khái niệm trần thuật, người trần thuật, giọng điệu trần thuật, ngôn ngữ trần thuật.

Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên thì: trần thuật (narrate) là phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là việc giới thiệu khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của người trần thuật. Trần thuật không chỉ là lời kể mà còn bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời ghi chú của tác giả… Ngôn ngữ trần thuật do vậy là nơi bộc lộ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn, bộc lộ cách lý giải cuộc sống từ cách nhìn riêng và cá tính sáng tạo của tác giả.

Trần thuật là một phương thức nghệ thuật đặc trưng của tác phẩm tự sự. Trong tiểu thuyết, trần thuật tập trung vào số phận một hoặc nhiều cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó, sự trần thuật ở đây được triển khai trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách. Với đặc điểm đó, trần thuật trong tiểu thuyết là một phương diện thi pháp đặc trưng của thể loại. Trần thuật tồn tại với nội dung trần thuật và hình thức trần thuật.

Người trần thuật (narrator) – một yếu tố quan trọng trong tiểu thuyết

Trần thuật bao giờ cũng được tiến hành từ phía một người nào đó. Trong sử thi, cổ tích, truyện ngắn, tiểu thuyết trực tiếp hay gián tiếp đều có người trần thuật. Người trần thuật không những chỉ tổ chức ngôn ngữ, mà còn đóng vai trò quan trọng về mặt kết cấu, chi phối ngôn ngữ của nhân vật.

Trong trường hợp tác giả đóng vai trò người trần thuật, tác phẩm có nhân vật kể chuyện ở ngôi thứ nhất (first person), xưng “tôi”. Điều này dễ nhận thấy ở các tác phẩm tự truyện hoặc có dáng dấp tự truyện. Theo nhà nghiên cứu Lê Nguyên Cẩn, việc sử dụng ngôi thứ nhất trong tự truyện ở các tác phẩm văn học thế kỷ XVIII ở phương Tây không phải là sự sử dụng tùy hứng hay ngẫu nhiên, mà nó mang tính lịch sử, gắn liền với nhu cầu khách quan của thời đại. Đó là yêu cầu các truyện phải là truyện kể về sự thật. Tiểu thuyết trở thành bản anh hùng ca đầy tính chủ quan, trong đó tác giả tự cho mình quyền được lý giải thế giới ấy theo cách của nó, cái chủ thể chủ quan nổi bật lên thu hút sự chú ý của mọi người. Đó chính là câu chuyện được viết bởi chính những người đã từng sống trong cuộc đời ấy. Đây là điều kiện để thể loại hồi ức phát triển mạnh, dẫn đến sự xuất hiện của thể loại tự truyện hay dấu ấn của tự truyện trong tiểu thuyết.

Ở Việt Nam, tiểu thuyết có nhân vật trần thuật ở ngôi thứ nhất xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX. Đó là tiểu thuyết Truyện Thầy Lazaro Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản. Tác phẩm có hình thức “truyện trong truyện.” Thầy Lazaro Phiền đã thú nhận tội lỗi giết vợ, giết bạn của mình cho một người bạn đồng hành và nhân vật này lại trở thành người trần thuật. Nhân vật người kể chuyện ở đây được thể hiện ở ngôi thứ nhất.

Trong văn chương đương đại từ sau Đổi mới (1986) có nhiều tác giả trần thuật ở ngôi thứ nhất như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… Với việc trần thuật ở ngôi thứ nhất, tác giả đã viết về những điều mình đã trải qua, đã chứng kiến và nếm trải, chiêm nghiệm. Và tất nhiên, với tính chất hư cấu của tiểu thyết, “tôi” không hẳn là tác giả mà chỉ là một nhân vật của truyện. Lời trần thuật ở đây vừa là ngôn ngữ trần thuật của tác giả vừa là ngôn ngữ trần thuật của nhân vật, tức vừa là lời trực tiếp, vừa là lời gián tiếp (của nhân vật).

Ngoài ra, tác giả còn trần thuật ở ngôi thứ ba dưới hình thức người kể chuyện (do tác giả sáng tạo ra), lời trần thuật ở đây mang tính khách quan hoá và trung tính. Người trần thuật được chứng kiến câu chuyện và có khả năng kể lại toàn bộ câu chuyện theo cách riêng của mình. Lời trần thuật ở đây còn có nhiệm vụ tái hiện và phân tích, lý giải thế giới khác quan vật chất, sự việc, con người…; tái hiện và phân tích, lý giải lời nói ý thức người khác. Theo Bakhtin, lời văn trần thuật gián tiếp này (khác với lời văn trực tiếp của nhân vật) có thể chia làm hai loại: loại thứ nhất là gián tiếp một giọng, là lời trần thuật tái hiện, phẩm bình các hiện tượng của thế giới trong ý nghĩ khách quan vốn có của chúng. Loại thứ hai là lời gián tiếp hai giọng, là lời trần thuật có hấp thu lời nhân vật, tức là trong phát ngôn của người trần thuật cùng lúc có thể có cả lời trực tiếp hay những suy tư gián tiếp của nhân vật, nó thể hiện sự đối thoại với ý thức khác của cùng một đối tượng miêu tả. Loại thứ hai này cho phép tác giả di chuyển “điểm nhìn” trần thuật và tạo nên tính chất đa thanh trong ngôn ngữ trần thuật, ngôn ngữ tiểu thuyết.

Ngoài việc tác giả trần thuật theo hai dạng thức nói trên, nhân vật còn có vai trò là người trần thuật. Trong tiểu thuyết, nhân vật có vị trí rất quan trọng, là then chốt của cốt truyện, giữ vị trí trung tâm trong việc thể hiện đề tài, chủ đề và tư tưởng tác phẩm. Có nhân vật thì có ngôn ngữ nhân vật. Ngôn ngữ nhân vật là một trong những phương tiện quan trọng được nhà văn sử dụng nhằm thể hiện cuộc sống và cá tính nhân vật.

Ngôn ngữ trần thuật của nhân vật là lời trực tiếp của nhân vật trong tác phẩm, là thứ ngôn ngữ được miêu tả. Đó thực chất cũng là ngôn ngữ của tác giả, nhưng tác giả để cho nhân vật tự giải bày về mình. Ngôi kể của nhân vật trần thuật là ngôi thứ hai, thứ ba, nhưng vẫn được trần thuật ở ngôi thứ nhất, xưng tôi trong đối thoại. Tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm của Nguyễn Khải là một ví dụ. Thông qua đối thoại, nhà văn để cho các nhân vật thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, nhân một buổi gặp gỡ đêm giao thừa, trần thuật về cuộc đời của mình, phát biểu những suy nghĩ, chiêm nghiệm của mình. Điều này làm nên yếu tố tự truyện của nhân vật.

Trong văn học hiện đại, lời – ngôn ngữ trần thuật của nhân vật có vị trí ưu trội nhất định trong tác phẩm, là phương diện quan trọng nhất của tính tạo hình khách thể trong tác phẩm tự sự.

Ngôn ngữ trần thuật của nhân vật có thể là đối thoại hay độc thoại. Đối thoại gắn liền với việc những người nói hướng vào nhau và tác động vào nhau; độc thoại không nhằm hướng đến người khác và tác động qua lại giữa người và người. Ngôn ngữ trần thuật của nhân vật có nhiều chức năng khác nhau như: chức năng phản ánh hiện thực, chức năng tự bộc lộ của nhân vật, chức năng là đối tượng miêu tả của tác giả hoặc chức năng thể hiện nội tâm… Tổng hợp những chức năng đó, thông qua trần thuật, nhân vật kể lại cuộc đời của mình, bộc lộ tâm tư, suy nghĩ, chiêm nghiệm về cuộc đời, lẽ sống, giúp người đọc lĩnh hội được tư tưởng, quan niệm của nhà văn. Cùng với trần thuật tác giả, trần thuật của nhân vật góp phần hoàn thiện bức tranh đời sống trong tác phẩm. Theo Bakhtin,

“Lời nói của những nhân vật chính trong tiểu thuyết – những nhân vật ít nhiều có tính độc lập về mặt tư tưởng, ngôn từ, có nhãn quan của mình – vốn là tiếng nói của người khác bằng ngôn ngữ khác, đồng thời có thể khúc xạ cả những ý chỉ của tác giả và do đó, đến một mức độ nhất định, có thể được coi là ngôn ngữ thứ hai của tác giả.”

Mỗi nhân vật đều có ngôn ngữ trần thuật của mình, làm phân hoá ngôn ngữ tiểu thuyết, đưa vào tiểu thuyết nhiều tiếng nói khác nhau, đa thanh, đa giọng điệu.

Chúng ta không thể tuyệt đối hoá việc phân chia trần thuật của tác giả với trần thuật của nhân vật vì với cách chuyển điểm nhìn từ phía người trần thuật sang điểm nhìn của nhân vật, từ điểm nhìn bên ngoài khách quan đến điểm nhìn bên trong chủ quan, rất khó phân biệt đâu là chủ thể của trần thuật. Và cũng nhờ di chuyển điểm nhìn mà văn chương khám phá, chiêm nghiệm về cuộc sống và con người một cách đa diện và có chiều sâu hơn.

Giọng điệu trần thuật (narrative tone)- một đặc trưng không thể thiếu trong tiểu thuyết

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập trường, đạo đức của nhà văn với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm… Giọng điệu là một yếu tố đặc trưng của hình tượng tác giả trong tác phẩm. Nếu như trong đời sống, ta thường chỉ nghe giọng nói nhận ra con người thì trong văn học, giọng điệu giúp chúng ta nhận ra tác giả. Người đọc có thể nhận thấy tất cả các chiều sâu tư tưởng, thái độ, vị thế, phong cách, tài năng cũng như sở trường ngôn ngữ, cảm hứng sáng tạo của người nghệ sĩ thông qua giọng điệu. Nền tảng của giọng điệu là cảm hứng chủ đạo của nhà văn. Trong khi trần thuật, tác giả sử dụng nhiều giọng điệu, nhiều sắc thái trên cơ sở một giọng điệu cơ bản chủ đạo, chứ không đơn điệu.

Tiểu thuyết Việt Nam đương đại (kể cả truyện ngắn mà giới nghiên cứu gọi là đoản thiên tiểu thuyết) có một số giọng điệu như: giọng điệu trữ tình sâu lắng của Nguyễn Huy Thiệp (Chảy đi sông ơi), Nguyễn Ngọc Tư (Cánh đồng bất tận); giọng điệu suy ngẫm, triết lý với cảm quan nhìn nhận lại hiện thực của Bảo Ninh (Nỗi buồn chiến tranh), Dương Hướng (Bến không chồng), Nguyễn Khải (Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người…) Ma Văn Kháng (Ngược dòng nước lũ); giọng điệu hài hước, giọng điệu diễu nhại trong văn chương của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp; lại có giọng điệu dung tục đời thường trong tiểu thuyết của Chu Lai (Ăn mày dĩ vãng)… Nói chung tiểu thuyết là đa thanh, nhiều bè, nhiều giọng điệu. Tạo được giọng điệu đa dạng, phong phú là đánh dấu một bước trưởng thành trong tư duy nghệ thuật.

Ngôn ngữ trần thuật (narrative language) – yếu tố tư duy của người viết

Như trên đã nói, trần thuật là phần lời của tác giả, của người trần thuật. Ngôn ngữ trần thuật do vậy là nơi bộc lộ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn, thể hiện quan điểm của tác giả hay quan điểm của người kể chuyện đối với cuộc sống được miêu tả.

Ngôn ngữ trần thuật có những nguyên tắc thống nhất trong việc lựa chọn các phương tiện tạo hình và biểu hiện ngôn ngữ để thể hiện cảm xúc, quan điểm của tác giả. Ngôn ngữ trần thuật là yếu tố cơ bản thể hiện phong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính của tác giả.

Ngôn ngữ trần thuật mang tính chính xác, cá thể hoá. Mỗi câu, mỗi chữ trong tác phẩm có thể chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa, nhiều cách giải thích. Nhưng mỗi từ thì lại phải mang tính chính xác và cá thể hoá. Ngôn ngữ trần thuật còn là ngôn ngữ đa thanh vì đặc trưng của ngôn ngữ văn xuôi là sự tác động qua lại rất phức tạp giữa tiếng nói tác giả, người kể chuyện và nhân vật, giữa ngôn ngữ miêu tả và ngôn ngữ được miêu tả.

Ngôn ngữ đa thanh trong trần thuật nhấn mạnh vào ngôn ngữ của người khác, hướng về một tiếng nói khác; chẳng hạn tiếng nói tác giả hướng về tiếng nói của nhân vật, hoặc tiếng nói nhân vật trong đó có xen lẫn giọng tác giả, hoặc là tiếng nói của nhân vật này xen lẫn giọng của nhân vật khác.

Ngoài ra, do đổi mới tư duy nghệ thuật, mở rộng phạm trù thẩm mỹ và cách tân về thi pháp nên ngôn ngữ trần thuật còn có các tính chất như: tính chất hiện đại thể hiện ở chỗ ngôn ngữ trần thuật không còn là tiếng nói quyền uy mà trở nên gần với ngôn ngữ đời sống hơn bao giờ hết; tính chất văn hoá vùng miền trong ngôn ngữ trần thuật thể hiện ở chất giọng nhà văn, người trần thuật không những kể chuyện mà còn chuyển tải những giá trị văn hoá nằm sâu dưới lớp ngôn ngữ, làm cho nội dung trần thuật phong phú, đặc trưng.

Tóm lại, trần thuật là một vấn đề thuộc thi pháp thể loại tiểu thuyết. Tìm hiểu các phương diện trần thuật giúp người đọc tiếp cận được với những giá trị văn chương đích thực. Tìm tòi, đổi mới cách trần thuật cũng là hướng đi của văn xuôi đương đại nhằm đẩy cách sáng tạo, cách hiểu, cách tiếp nhận về gần hơn với đặc trưng thẩm mỹ của văn học.

Tài liệu tham khảo

1. G.N Pospelov (chủ biên), Dẫn luận nghiên cứu văn học, tập 2, Nxb Giáo dục, 1992.

2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, 2004.

3. M. Bakhtin, Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Bộ Văn hoá và Thông tin Thể thao – Trường viết văn Nguyễn Du, 1992.

4. Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam, Lý luận văn học, tập II, Nxb Giáo dục, 1987.

5. Trần Đình Sử (chủ biên), Sự tự học (một số vấn đề lý luận và lịch sử), Nxb Đại học Sư phạm, 2004.

© 2009 Trần Minh Đức

Một quan niệm về Thơ

THANH THẢO VÀ THƠ

“Thơ cũng huyền diệu như Trời”

Charles Henri Ford

Trần Hoài Anh

Trong các loại hình nghệ thuật, thơ là một trong những loại hình kỳ diệu nhất và xuất hiện sớm. Song hiểu rõ được bản chất của thơ là điều không đơn giản. Bởi lẽ, thế giới của thơ là thế giới của ảo ảnh đầy nhiệm mầu. Chính vì vậy, nữ sĩ Blagađimitrova đã phải thở than: “Ôi nếu tôi biết thơ là gì thì cả đời tôi đã chẳng phải khổ sở thế”(1). Và Chế Lan Viên, một nhà thơ suốt đời luôn khao khát đi tìm bản thể thơ cũng phải chua chát thú nhận: “Thực ra tôi chưa hiểu hết thơ đâu. Tôi cũng có định nghĩa nhiều lần đấy, nói hẳn hoi, viết hẳn hoi. Nhưng lần nầy định nghĩa thì lần sau nắn lại, chỗ này định nghĩa thì chỗ khác bổ sung. Vẫn còn nghĩ tiếp, nghĩ tiếp mà”(2). Còn Thanh Thảo nghĩ về thơ như thế nào ta hãy nghe anh tâm sự: “Kỳ lạ, là thơ. Lúc ta cất công tìm nó, thì nó chạy đi đâu, còn lúc tình cờ, ta chợt nghe trong mình một tiếng nói, cứ như ai mượn ta hay nhập vào ai, không rõ bắt đầu, không định kết thúc”(3)

Như vậy trong quan niệm của Thanh Thảo, thế giới của thơ mãi mãi là thế giới của sự huyễn hoặc. “Cõi thơ là cõi bồng phiêu” (Bùi Giáng). Cho nên đi vào thế giới của thơ là đi vào thế giới của ảo mộng, của hiện hữu và hư vô. Bởi thế theo anh: “Thơ không cần lý giải, mà cần được cảm, được xúc động, được đánh thức một cách như tình cờ”(4). Vì với anh: “Thơ có thể bất chợt, rất nhẹ nhàng, chạm tới những tầng sâu, những nơi âm thầm nhất của phận người”(5). Cho nên anh rất đề cao thiên chức của thơ, khi cho rằng: “thơ cao hơn bản năng. Đó là tiếng gọi từ một thiên năng.” (6). Nhưng anh lại không quá coi trọng chức năng giáo dục của thơ. Theo Thanh Thảo thơ mà chỉ nhắm tới giáo dục, cải tạo là thơ không đích thực. Vì “Thơ đích thực không nhằm giáo dục cải tạo ai, nhưng nó lại giúp thanh lọc tâm hồn con người” (7). Giá trị vĩnh hằng của thơ vẫn là những giá trị mang tính nhân văn, những vấn đề thuộc về con người, về nhân loại. Và cái làm nên giá trị ấy chính là ở sự thanh lọc tâm hồn. Chính vì vậy trong quan niệm của Thanh Thảo, thơ không phải là thứ vật chất bình thường mà là tiếng gọi của tâm linh, hơn thế nữa còn là một thứ tôn giáo mà người làm thơ, người đọc thơ nhiều khi phải chấp nhận bi kịch để vác cây thập giá thơ bước qua những khổ nạn của cuộc đời, mới mong chạm đến bản thể thơ.

Thơ không thể chấp nhận và không bao giờ chấp nhận sự trần trụi đến lạnh lùng với những lọc lừa trí trá đầy buồn nôn của đời sống. Giá trị của thơ bao giờ cũng là sự kết tinh giá trị từ những mỹ cảm chân thật của tâm hồn. Bản chất của thơ là sự thành thực (chữ dùng của Hoài Thanh) nên theo Thanh Thảo: ” Thơ là tiếng nói của tâm linh, tiếng nói của sự chiêm nghiệm nhiều khi là cả đời người, của nhiều đời người. Ở những tập thơ có giá trị cao, chúng có thể là “kinh thánh của tâm hồn”, là thứ không thể mua và không thể bán” (8). Cho dù trong cuộc sống không ít người đang biến thơ thành một thứ trang sức, một thứ phấn son điểm tô cho cuộc đời của họ thêm màu mè. Rõ ràng thơ bao giờ cũng hướng con người đến cái chân, thiện, mỹ. Thơ không thể là một món hàng trang trí. Nhà thơ Lê Đạt cho rằng: ” Đọc một câu thơ hay, ta thường có cảm giác đứng trước một bến đò gió nổi, một khao khát sang sông, một thúc đẩy lên đường hướng thiện những vùng trời tốt đẹp hơn, nhân tính hơn…” (9)

Ý thức được vai trò của thơ trong đời sống, Thanh Thảo không chỉ quan tâm đến việc đi tìm bản thể thơ mà còn quan tâm đến sứ mệnh của nhà thơ. Bởi lẽ, thi sĩ không chỉ là người sáng tạo thơ mà qua thơ, họ còn tạo nên những giá trị mỹ cảm cho cuộc sống. Vì thế, trong quan niệm của Thanh Thảo, nhà thơ phải sống thật với mình và với đời: “phàm làm thơ dù viết về ai, về cái gì cuối cùng cũng nhằm bộc lộ mình”(10). Và từ sự nghiệm sinh của một thi sĩ, anh đã tự bạch: “Làm thế nào để thành một nhà thơ thì tôi không biết nhưng khi là một nhà thơ thì có lẽ, đức tính đầu tiên là đừng nói dối, đừng “đánh quả lừa”(11). Còn gì đáng buồn hơn khi vẫn tồn tại trong cõi nhân gian nầy loại nhà thơ kém cả tài năng và nhân cách. Sự trí trá là điều tối kỵ trong đời sống. Với văn chương điều ấy lại là “sự đê tiện” ( Nam cao) làm thấp hèn nhân cách người nghệ sĩ. Bởi lẽ: “Dù thi sĩ một phút thôi cũng không giấu nổi mình”(12).

Thanh Thảo cho rằng: “Nhà thơ là con người không phải thiên thần”(13). Nhưng thơ của họ thì phải là lời của thiên thần; nghĩa là phải đẹp, phải thánh thiện và thanh cao. Thơ phải là tiếng gọi từ tâm thức và thiên lương của nhà thơ. Vì vậy quá trình sáng tạo thơ bao giờ cũng thể hiện thiên năng của nhà thơ. Đây cũng là vấn đề được quan tâm bàn đến trong quan niệm thơ của Thanh Thảo. Với anh: ” Nhà thơ đích thực là người có thể mơ khi đang tỉnh, và rất tỉnh khi đang mơ. Với họ có ít nhất hai thế giới tồn tại song song. Và họ dễ dàng “đi lại” giữa hai thế giới ấy. Cái nhìn trong suốt là cái nhìn của tâm hồn, và cái mờ ảo của ngôn ngữ là kết quả của sự tương tác giữa hai thế giới ” (14).

Bằng sự nghiệm sinh của thi sĩ, Thanh Thảo đã cho thấy diễn trình sáng tạo của nhà thơ, một công việc mà nếu không có sự trải nghệm thì không thể hiểu một cách sâu sắc và tinh tế như thế. Chính vì vậy, anh rất coi trọng những giây phút thăng hoa trong sáng tạo của nhà thơ. Theo anh, thi nhân chỉ có thể sáng tạo trong ám ảnh của vô thức và tâm linh. Như một sự mặc khải: “Thơ đưa người làm thơ vào cách đi của người mộng du, đi trong mơ với cặp mắt mở to, mở to nhưng không thấy gì, nghe tất cả mà cuối cùng chỉ là những tiếng văng vẳng. Thân thể người làm thơ là một bộ lọc, chỉ khi nào anh để yên cho thân thể mình lọc lại đời sống, rồi bất chợt nó bật ra cái gì, thì đó mới là thơ” (15). Và cũng trong cảm thức này, ở một chỗ khác anh đã khẳng định những bài thơ hay là những bài thơ được nhà thơ sáng tạo trong lúc chênh vênh giữa hai bờ hư thực.

Thơ là lúc đang rơi. Vì ” Không phải đỉnh núi hay đáy vực làm nên thơ hay, mà cái chính là lúc đang rơi, lúc lơ lững giữa đỉnh và vực là lúc mà nhà thơ có được những thi phẩm xuất thần” (16). Chính thơ được làm ra bởi những phút xuất thần từ những tâm hồn thanh khiết cho nên Thanh Thảo quan niệm rằng nếu dẫu thơ có vẽ tranh “lõa thể”, người đọc cũng chỉ cảm nhận được cái đẹp, duy cái đẹp mà thôi”(17). Có thể nói, quan niệm của Thanh Thảo về quá trình sáng tạo thơ chịu ảnh hưởng khá sâu sắc thuyết phân tâm học. Freud cho rằng nghệ sĩ giống như người mắc bệnh tâm thần, rời bỏ thực tại để đi vào thế giới ảo tượng. Và sản phẩm của nghệ sĩ là kết tinh của ẩn ức tính dục để biến thành những phút thăng hoa trong sáng tạo nghệ thuật.

Sáng tạo nghệ thuật là hoạt động tất yếu của người nghệ sĩ. Nhưng người nghệ sĩ chỉ có thể tồn sinh khi tạo được cho mình một phong cách, một cá tính riêng trong sáng tạo. Vấn đề này phải được xem như một chuẩn giá trị làm nên sự hiện hữu của thi nhân trong tâm thức người đọc. Anh cho rằng: ” Thơ mỗi người mỗi cách”(18). Và ” Mỗi nhà thơ đi qua cuộc đời này theo một lối riêng”(19) nên phải luôn tự đổi mới mình, đừng bao giờ lặp lại mình. Trong sáng tạo thơ, nếu lặp lại người khác hoặc lặp lại mình là một sự tự sát và như thế cũng đồng nghĩa với việc tự tiễn đưa mình ra nghĩa trang thơ. Nói như Thanh Thảo: “Thơ được làm nên bởi những nhà thơ, vì thế sự khác nhau chính là sự tồn tại và ngược lại sự giống nhau là cái chết.”(20). Và để khẳng định qui luật giá trị trong cá tính sáng tạo của nhà thơ, một lần nữa anh cho rằng: “Thơ chẳng giống ai, chẳng ai mong giống ai và không có lối nào đi chung cho hai nhà thơ cả. Đó là thách thức và cũng là cái làm nên sức quyến rũ của thơ”(21). Đây là một quan niệm đúng cả trong lý luận và thực tiễn sáng tác thi ca. Sự định hình phong cách của mỗi nhà thơ không chỉ là quá trình rèn luyện mà còn thể hiện tài năng của họ. Đó cũng là suy nghĩ của Thanh Thảo khi anh cho rằng: ” Vài bài thơ cũng có thể làm nên một phong cách thơ, ngược lại nghìn bài thơ chưa chắc làm nên một phong cách”(22).

“Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh” ( Jakobson). Và “làm thơ là tạo ra một hành tinh thứ hai bằng ngôn ngữ” (Chế Lan Viên ). Vì vậy với sứ mệnh cao trọng hóa tiếng nói con người, nhà thơ có phong cách phải sáng tạo ra một tiếng nói riêng, một giọng điệu riêng, một lối dùng chữ riêng trong thế giới nghệ thuật của mình. Yếu tính của việc làm thơ là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, một tín hiệu thẫm mỹ thể hiện tài năng của nhà thơ. Nói như Lê Đạt: ” Chữ bầu lên nhà thơ”. Vì :”Người làm thơ không phải làm bằng ý mà bằng chữ.”(23). Đây cũng là quan niệm của Thanh Thảo khi anh cho rằng ngôn ngữ thơ là điều ám ảnh thường trực trong tư duy sáng tạo của nhà thơ. Với anh: “Ngôn ngữ trong tay người làm thơ cũng giống như những cây que, những chiếc vòng…trong tay trẻ nhỏ. Chúng có thể biến hóa nên bao trò chơi, mà trò chơi nào cũng chóng chán, cũng đòi người chơi phải bày ra trò mới khác đi.”(24).

Bởi lẽ, “Những người làm thơ đều hiểu những thời khắc phải chiến đấu đến tuyệt vọng chống lại sự sáo mòn trong ngôn ngữ thơ của mình. “(25). Đây không chỉ là một ý niệm về ngôn ngữ thơ (theo kiểu lập ngôn của các nhà lý luận về thơ) mà chính từ sự trải nghiệm trong đời thơ của mình, anh nêu ra một kinh nghiệm trong việc sáng tạo ngôn ngữ thơ. Điều nầy không chỉ hữu dụng cho người làm thơ mà còn cần thiết và bổ ích cho những người nghiên cứu và tiếp nhận thơ ca. Trong quan niệm về ngôn ngữ thơ của Thanh Thảo có thể còn có chỗ cực đoan, khi anh xác quyết rằng: “Ngôn ngữ thơ không phải làm phong phú cho ngôn ngữ con người, nó chỉ chắt lọc tinh túy của ngôn ngữ con người”. Điều nầy chỉ đúng một phần. Bởi chính từ sự chắt lọc cái tinh túy của ngôn ngữ con người, nhà thơ đã khám phá và sáng tạo ra những nét nghĩa mới của ngôn ngữ thơ, từ đó góp phần làm giàu có ngôn ngữ đời sống. Nhưng khi anh quan niệm những hình ảnh, những biểu tượng của thơ được tạo nên từ ngôn ngữ thơ “không chỉ kích thích trí tưởng tượng của con người, nó còn khiến con người vững tin rằng ngoài những hình ảnh thế giới mà mình thấy được, cảm nhận được, còn những hình ảnh mà mình chưa thấy nhưng sẽ thấy, chưa cảm nhưng sẽ cảm được”(26) thì đây lại là một phát hiện khá tinh tế của anh về giá trị của ngôn ngữ thơ. Rõ ràng trong quan niệm của Thanh Thảo, ngôn ngữ thơ không chỉ là những kí hiệu phản ánh hiện thực cuộc sống bên ngoài mà còn là những mã thẩm mỹ giúp người đọc cảm nhận, khám phá hiện thực bên trong.

Vì vậy anh đã nêu ra một định đề khá độc đáo thể hiện sự nắm bắt tinh tế qui luật sáng tạo ngôn ngữ thơ khi cho rằng: “Với thơ có một điều dường như nghịch lý: là khi cái nhìn của thi sĩ càng trong, thậm chí trong suốt. thì ngôn ngữ thơ lại càng mờ” (27). Là thể loại luôn biến sinh và không bao giờ chịu đông cứng, với những đặc trưng riêng, ngôn ngữ thơ bao giờ cũng mang tính đa nghĩa, cũng có độ mờ cần thiết. Độ mờ trong ngôn ngữ thơ càng cao thì tính đa nghĩa càng đậm nét. Như thế, ý nghĩa của hình tượng nghệ thuật trong thơ mới sâu sắc, linh động. Từ đó, sự tiếp nhận của người đọc mới phong phú và đa dạng. Bởi lẽ, theo Thanh Thảo: “Thơ luôn ở tầng ngầm, tầng sâu của dòng chảy cuộc sống”(28).

Một điều khá lý thú, trong quan niệm của Thanh Thảo về mối quan hệ giữa Thơ – Nhà thơ – người đọc, ta thấy rất gần với mỹ học tiếp nhận hiện đại. Bởi trong quan niệm của mình, anh rất đề cao và tôn trọng nhân vị của người tiếp nhận. Chính sự cảm thụ rất riêng này là chiếc cầu tạo sự tri âm giữa nhà thơ và người đọc. Đây cũng là nhân tố làm nên sự đa dạng, phong phú trong cảm thụ thơ. Theo anh: “Thơ khác kinh cầu. Nó không tạo ra những cơn mê tập thể. Nó không ru rín. Thơ mê hoặc bằng sự thức tỉnh. Thơ chỉ dành riêng cho từng người một. Và khi một người đọc thơ cho mình là người ấy đã đồng hiện với một giáo đường” (29). Có thể nói, Thanh Thảo rất có ý thức tôn vinh vai trò của người đọc trong việc giải mã văn bản tác phẩm thơ; một vấn đề mỹ học tiếp nhận hiện đại rất quan tâm. Bởi lẽ, tác phẩm văn học bao giờ cũng là một cấu trúc mở. Và điều tạo nên cấu trúc mở của tác phẩm văn học đó chính là độ mờ của ngôn ngữ thể hiện trong văn bản. Điều nầy đối với thơ lại là một giá trị hằng cửu làm nên yếu tính của thơ. Vì nói như Huỳnh Phan Anh: “Thơ bộc lộ để không bộc lộ gì hết. Nó bộc lộ để giấu ẩn (…) Thơ ở giữa có và không, thực hữu và hư vô, mời gọi và từ chối” (30). Ở đây, ta thấy quan niệm của Huỳnh Phan Anh có những điểm tương hợp với Thanh Thảo, khi anh cho rằng: “Thơ không từ chối bất cứ cái gì, nhưng thơ khao khát sự bí ẩn”(31). Phải chăng chính độ mờ của ngôn ngữ trong các văn bản thơ là nguyên nhân tạo nên sự bí ẩn trong thơ. Và đây chính là tiền đề tạo nên khát vọng khám phá và sáng tạo nơi người đọc khi tiếp nhận thơ ca cũng như thể hiện thiên năng của nhà thơ trong hành trình sáng tạo của mình.

Vì vậy, Thanh Thảo rất có lý khi cho rằng: “Thơ có thể cùng lúc kích động được nhiều người, nhưng thơ lại chỉ dành cho từng con người riêng biệt, từng con người muốn qua cảm nhận thơ để cảm nhận chính con người mình, và qua chính con người mình mà cảm nhận thế giới”(32). Với anh: “Thơ đọc giữa quảng trường cũng như đọc trong xà lim, cái chính là thơ chứ không phải nơi đọc thơ. Cái chính là từng người một tiếp nhận thơ, chứ không phải vạn người như một tiếp nhận thơ”(33). Như vậy trong quan niệm của Thanh Thảo, tiếp nhận thơ bao giờ cũng là quá trình sáng tạo mang tính cá nhân. Đây là quan niệm không chỉ có ý nghĩa trong thực tiễn sáng tạo và cảm thụ thơ ca mà còn có giá trị về mặt lý thuyết văn học.

Ngoài những vấn đề được tập trung bàn đến như đã nêu trên, Thanh Thảo cũng còn đề cập đến một số vấn đề khác trong hệ thống lý thuyết về thơ như bàn về hình thức nghệ thuật thơ mà theo anh: “Hình thức chính là sự hiện diện nghệ thuật riêng biệt của từng nghệ sĩ. Không có cái hình thức đó, thì cũng chẳng bao giờ có nghệ thuật”(34). Hay khi bàn về nhịp điệu trong thơ, anh đã tạo nên một hình tượng thật độc đáo: “Nhịp điệu thơ – nó xuất phát đâu từ trong máu, nó vọt trào ra đâu từ cái giếng ngầm nào đó bên trong nhà thơ. Nó băng đi hay ngắt quảng, dồn nén hay bùng cháy cũng từ một bộ điều khiển nào đó trong thân thể nhà thơ, nhiều khi có vẻ tự động, vô ý”(35). Còn đây là một suy niệm của anh về thơ tự do: ” Là nhà thơ, bao giờ cũng nuôi khát vọng vượt thoát một cái gì. Cái gì đó có khi chính là chữ, là vần, là nhịp, là nhạc, là tất cả những gì tạo nên cái vỏ vật chất của bài thơ. Khát khao vượt thoát, ý hướng tự giải phóng đó gặp được một hình thức thích hợp: Đó chính là thơ tự do”(36). Hoặc nói đến chất trí tuệ và tình cảm trong thơ anh cho rằng: “Thơ cần cả triết học và phi triết học, cần cả những khám phá trí tuệ lẫn những trạng thái vô lý, vô nghĩa của tâm hồn. Ở những bài thơ kết hợp được hai điều ấy, lập tức nó đáp ứng, nó tác động trực tiếp đến người đọc” (37). Điều ngẫm ngợi của Thanh Thảo rất tương đồng với ý kiến của Goethe: “Trong bản chất của thơ có cái gì qủy quái, nhất là ở thơ ngẫu hứng thoát ly cả lẽ phải, không thể hiểu thấu và do đó vượt quá cả trí tuệ”(38) và Breton: “Thơ phải là sự tan rã của trí tuệ”. Nghĩa là trí tuệ ấy phải biến thành cảm xúc của trái tim, biến thành sự rung động của tâm hồn thì mới sáng tạo ra thơ được.

Thanh Thảo vốn là một nhà thơ không phải là một nhà lý luận phê bình , càng không phải là một nhà lập ngôn, lập thuyết về thơ. Anh đến với lĩnh vực lý luận phê bình văn học nói chung và phê bình thơ ca nói riêng như người làm tay trái mà anh gọi một cách hình ảnh là “ngón thứ sáu của bàn tay”. Nhưng tôi nghĩ cho dẫu là ngón thứ sáu của bàn tay hay ngón thứ mấy đi nữa thì nó vẫn là một ngón tay trong đôi bàn tay sáng tạo rất tài hoa của anh. Vì vậy, những bài viết về thơ của anh thật sự là những bài viết của một người có tay nghề, có cơ sở lý thuyết, không phải là những bài lý luận phê bình viết lấy được, nhạt nhẽo và vô bổ, nhiều khi rất ngây ngô của một số người mà ta thường gặp không khó lắm trên các trang báo. Chính sự cộng hưởng của một tư duy sắc sảo trên nền tảng của một kiến văn phong phú cùng với sự cảm nhận tinh tế trong tâm hồn của một thi sĩ đã tạo nên một hệ giá trị riêng trong những suy niệm của anh về thơ.

Với hai tác phẩm tiểu luận phê bình Ngón thư sáu của bàn tay và Mãi mãi là bí mật, trong đó chủ yếu gồm những bài phê bình về thơ và bàn về yếu tính của thơ, có thể khẳng định cùng với không nhiều nhà thơ hiện đại khác như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Lê Đạt, Phùng Quán, Văn Cao… Thanh Thảo là nhà thơ vừa làm thơ lại vừa có những suy niệm khá độc đáo về thơ. Tuy những suy niệm về thơ của Thanh Thảo chưa thành một hệ thống quan niệm hoàn chỉnh nhưng những điều anh nghĩ về thơ vẫn mang một giá trị đích thực về mặt lý luận và thực tiễn trong sáng tạo và tiếp nhận thơ. Bởi nói như Chế Lan Viên trong lời tựa viết cho tác phẩm Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại: “Nghĩ có buồn Không? Ở đất nước hàng nghìn năm thơ, hàng trăm thi sĩ, thơ không chỉ là hình thức phổ biến mà còn là chủ yếu để thổ lộ tâm tình, thế mà sao sách vỡ bàn về thơ ít ỏi làm vậy! Ít cho đến nỗi ai nói gì về thơ, thì ta cũng mặc, hay ừ ào cho nó xong chuyện rồi thôi”(39). Thiết nghĩ, không cần bình luận gì thêm, qua lời trần tình của Chế Lan Viên đủ cho thấy giá trị từ những suy niệm về thơ của Thanh Thảo đã góp phần vào việc làm phong phú và hiện đại hóa hệ thống quan niệm về thơ của dân tộc như thế nào…!?

Chú thích:

(1) Blagađimitrova, Ngày phán xử cuối cùng, Nxb Thanh niên, Hà Nội 1973, tr.298

(2) Chế Lan Viên, Bay theo đường dân tộc đang bay, Nxb Văn học Giải phóng, 1976, tr.96

(3), (24), (11) Thanh Thảo, Ngón thứ sáu của bàn tay, Nxb Đà Nẵng, 1995, tr.25, tr.26, tr.37

(4), (5), (6), (7) (8), (10), (13) (14), (15), (16), (17), (18), (19), (20), (21), (22), ( 25), (26), (27), (28), (29), (31), ( 32), (33), ( 34), (35), (36), (37) Thanh Thảo, Mãi mãi là bí mật, Nxb Lao Động, Hà Nội, 2004, tr.477, tr.116, tr.299, tr.286, tr.233, tr.470, tr.474, tr.228, tr.300, tr.120, tr.126, tr.266, tr.265, tr.249, tr.239, tr.107, tr.229, tr.224-225, tr.227, tr.224, tr.222, tr.215, tr.215, tr.223, tr.120, tr.107, tr.310, tr.247

(9), (23) Lê Đạt, Đối thoại với đời và thơ, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2008, tr.115, tr.116

(12) Thanh Thảo, Khối vuông Rubích, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1985 tr.59.

(30) Huỳnh Phan Anh, Văn chương và kinh nghiệm hư vô, Nxb Hoàng Đông Phương, Sài Gòn, 1968, tr.104

(38) Đoàn Thêm (trích dịch), Quan niệm và sáng tác thơ, Viện Đại học Huế, 1962, tr.153

(39) Hà Minh Đức, Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1988, tr.7

Bài đăng tạp chí Nhà Văn số 9/2009

Mạng Hoàn Cầu viết gì về biển Đông

BBC..Mạng Hoàn Cầu viết gì về Biển Đông?
Dương Danh Dy

Nhà nghiên cứu Trung Quốc

Trước tiên xin phép được nói đôi lời về nguồn gốc của mạng Hoàn Cầu (huan qiu wang-环球网- http://www.huanqiu.com).

Có thể nói mẹ đẻ của mạng này là tờ Hoàn cầu thời báo.

Tờ này do Nhân Dân nhật báo – cơ quan của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trì, ra số đầu tiên ngày 3/1/1993 với tên gọi là tạp chí Hoàn Cầu văn túy, đến năm 1997 mới đổi tên là Hoàn cầu thời báo, từ tháng 1/2006 ra hàng ngày (từ thứ Hai đến thứ Sáu).

Hoàn Cầu thời báo là tờ báo quốc tế có uy tín tại Trung Quốc, lượng phát hành mỗi số là 1,6 triệu bản. Báo có phóng viên tại 65 nước trên thế giới.

Mạng Hoàn cầu đưa lại tin của báo mẹ và đăng lại nhiều tin của các báo và mạng chính thức có tên tuổi trên khắp Trung Quốc và thế giới.

Số bài và tin liên quan đến Biển Đông, mạng Hoàn Cầu đưa khá đều và khá nhiều.

Để tránh trùng lặp, chúng tôi chỉ giới thiệu những ý chính, mới của họ từ tháng 3/2009 đến gần đây, và chỉ dịch tên đầu bài vì nếu giới thiệu hết sẽ rất dài. Hơn nữa chỉ cần đọc tên bài, bạn đọc cũng có thể hiểu được họ định nói gì.

Chủ đề Biển Đông
Dưới đây là một số tên bài thu thập được trên mạng Hoàn Cầu tiếng Trung được dịch ra tiếng Việt

- “Biển Đông, biển phức tạp nhất thế giới” (18/3/2009)

- “Chuyên gia bàn vấn đề Biển Đông: thành ý hòa bình của Trung Quốc bị các nước xung quanh lợi dụng” (18/3/2009)

- “Biển Nhật Bản, Biển Đông, Trung Quốc giải quyết vấn đề nào trước thì tốt” (1/4/2009)

- “Chuyên gia quân sự: dựa vào sự hiển thị “cơ bắp” giải quyết vấn đề Biển Đông không được đâu” (28/4/2009)

- “Nguyện vọng lương thiện không thể bị lợi dụng.Giải quyết vấn đề Biển Đông cần tư duy mới” (23/5/2009)

- “Không thể để mất lãnh hải” đưa lại bài của mạng Trung quốc tân văn ngày 27/5/2009

- “Vấn đề Biển Đông, vì sao Quân Giải phóng không chọn phương thức giải quyết trên bộ?” (30/6/2009)

- “Vấn đề Biển Đông cuối cùng nước Mỹ đã nhảy ra trước sân khấu” (1/7/2009)

- “Trung quốc phải sử dụng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông” (3/7/2009)

- “Dân mạng Trung Quốc tán thành trên vấn đề Biển Đông phải cứng rắn hơn nữa” 4/7/2009 đưa lại tin của mạng Nhân Dân

- “92% dân mạng Trung Quốc tán thành dùng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông” (5/7/2009)

- “Quân Giải phóng giải quyết bằng vũ lực vấn đề Biển Đông, nước Mỹ không có khả năng trực tiếp tham chiến” (16/7/2009)

- “Quan điểm của phái phản đối: vấn đề Biển Đông cần giải quyết nhanh, càng kéo dài càng chết” (5/8/2009)

- “Cuộc chiến ở Biển Đông: năm nguyên nhân lớn khiến Trung Quốc nên đánh cho Việt Nam lụn bại” (18/8/2009)

- “Nghị sĩ Mỹ thăm Việt Nam nói ủng hộ lập trường của Việt Nam tại Biển Đông” (22/8/2009)

- “Trung Quốc không giải quyết xong vấn đề Biển Đông thì đừng nghĩ đến việc thu hồi vùng Tạng Nam(vùng đất Trung Quốc đang tranh chấp với Ấn Độ) (27/8/2009)

- “Túi khôn Mỹ: Trung Quốc không thể chỉ dựa một mình sức mạnh mềm giải quyết vấn đề Biển Đông” (26/8/2009)

- “Trung Quốc không thể lại để mất thời cơ lớn để giải quyết triệt để vấn đề Biển Đông” (7/9/2009)

- “Xâm chiếm các đảo của ta, quân Việt Nam đã có thế hệ thứ hai. Giải quyết vấn đề Biển Đông không thể chậm được nữa” (8/9/2009)

- “Vấn đề Biển Đông khó giải quyết, Mỹ phải chịu trách nhiệm” (26/10/2009)

- “Trung tướng Quân Giải phóng nói dữ dằn: “đã chuẩn bị đánh ở Biển Đông rồi” (27/10/2009)

- “Truyền thông Anh: Việt Nam có ý đồ quốc tế hóa vấn đề Biển Đông” đưa lại tin của BBC ngày 26/11/2009

- “Âm mưu mới của Việt Nam tại Biển Đông, muốn quốc tế hóa vấn đề Biển Đông” (29/11/2009)

- “Mưu cầu quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, Việt Nam mời “hòa thượng Tây” đọc kinh” (30/11/2009)

Ghi chú quan trọng: Ngoài mạng Hoàn cầu, nhiều mạng chính thức khác của Trung Quốc như “Trung Hoa võng, Trung Quân võng, Trung Tân võng, Thiết huyết luận đàn, Nhân Dân võng v.v..cũng đều đưa tin về Biển Đông theo lập trường, quan điểm của nước họ.

Hội thảo khoa học về xây dựng hồ sơ chủ quyền Hoàng sa – Trường sa…

CHUẨN BỊ HỒ SƠ “HOÀNG SA – TRƯỜNG SA” ĐƯA RA PHÁP ĐÌNH QUỐC TẾ
Nguyễn Xuân Diện

Sáng qua, 04.12.2009, tại UB Biên giới quốc gia, 58 Nguyễn Du Hà Nội, Trung tâm Luật Biển và Hàng hải quốc tế (Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội) tổ chức hội thảo khoa học: “Xây dựng hồ sơ pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Đây là một hội thảo quy mô hẹp, với sự tham gia của 20 khách mời đến từ Đại học Quốc gia, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Bộ Công An, Bộ Quốc phòng, Tòa án và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm UB Biên giới quốc gia và PGS.TS Nguyễn Bá Diến, GĐ Trung tâm chủ trì hội thảo.
Phát biểu khai mạc, PGS. TS Nguyễn Bá Diến nêu rõ trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông ngày càng diễn biến phức tạp đòi hỏi phải xây dựng một hồ sơ pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với đối với biển đảo nói chung, đối với Hoàng Sa và Trường Sa nói riêng. Ban tổ chức hội thảo đề nghị các nhà khoa học nêu ý kiến về nội dung cũng như cách thức tiến hành xây dựng hồ sơ này.
Các nhà khoa học và các đại biểu đã phát biểu phân tích tình hình các diễn biến tại Biển Đông, khẳng định tính cấp bách và đóng góp các ý kiến về việc xây dựng hồ sơ pháp lý này, như một bộ hồ sơ gốc, phục vụ đa mục đích nhằm đấu tranh bảo vệ chủ quyền và tiến tới việc trình lên các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp quốc tế có chức năng xét xử như: Tòa án công lý quốc tế, Tòa án quốc tế về luật biển, Trọng tài quốc tế.
Đề cập đến sưu tập tư liệu cho hồ sơ, các nhà khoa học đặc biệt nhấn mạnh đến giá trị của các tài liệu cổ bằng nhiều ngôn ngữ về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa, hiện đang được lưu trữ trong các tàng thư trong nước và ở nước ngoài. Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng mong muốn các cơ quan lưu trữ tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa trong việc tiếp cận các tài liệu. Đại biểu đến từ Bộ Công An cho biết Bộ không có hoạt động hay văn bản gì ngăn cản việc tiếp cận tài liệu, song các nhà nghiên cứu cần tìm hiểu rõ các quy định về việc khai thác tài liệu quý hiếm để tiến hành các thủ tục xin phép cần thiết.
Nhiều thông tin chỉ dẫn về nguồn tài liệu trong nước, quốc tế, các tủ sách cá nhân, dòng họ có liên quan đến chủ quyền biển đảo được chia sẻ tại hội thảo.
Một số ý kiến phát biểu nêu vấn đề cần tranh thủ và tập hợp mọi ý kiến của các học giả nước ngoài và các học giả trong nước (trong đó phải kể đến Quỹ Biển Đông, Diễn đàn Hoangsa.org và các các học giả tự do khác) để hệ thống hóa các tài liệu để khẳng định và đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa. Trong ý nghĩa đó, thực hiện xây dựng hồ sơ pháp lý quan trọng này chính là một biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tạo sự đồng thuận của cả dân tộc ta về chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa. Chúng ta đừng mơ hồ về hữu nghị, về thiện chí chung chung. Và cuộc hội thảo hôm nay là rất cấp thiết, việc xây dựng hồ sơ là không thể để lâu hơn nữa.
Hội thảo diễn ra với tinh thần thẳng thắn, khoa học và cởi mở. Hy vọng hồ sơ pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được tiến hành thuận lợi, và đảm bảo tính khách quan, khoa học và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của một hồ sơ quốc tế.

Phố đêm

Người ngoài hành tinh - ảnh sưu tầm

Phố đêm - Đặng Minh Liên chụp cuối năm 2008

Phố đêm - Đặng Minh Liên chụp vào rằm tháng 8/09

Phố đêm

Không chuyên, chỉ làm chơi – nên một năm tôi chỉ làm khoảng năm, bầy bài thơ khi thực sự chin bung ý tứ và hứng. Bài này, tôi làm khi ý tưởng – tứ thơ chợt hiện lóe và làm rất nhanh chỉ trong nửa giờ. Hình ảnh gợi hứng là chiều tối cách đây mấy hôm: một người đi trên phố
đột ngột xáp đến hỏi đường; tôi chưa đáp mà thế thủ quan sát và thấy ông ta trông như người ngoài trái đất với vóc dáng gầy thấp nhỏ, đầu trọc, mắt sáng to tròn lồi và mặc quần sooc áo phông tuy là mùa đông, tiếng nói nghèn nghẹt như của robot Nhật. Thấy tôi nhìn xoáy, ông ta rảo chân chạy biến. Cộng với nhiều hình ảnh khác như thôi thúc phải viết ra.

Vậy hẳn Thơ cũng như Văn xuôi là tích lũy nạp chất liệu hàng chục năm và lúc nào đó gặp xúc tác mạnh sẽ như từ vô thức vụt hiện. Tôi biết các tác giả khác cũng có tâm thức sáng tác như thế. Còn việc ngồi và cố “nặn” ra thơ, văn chắc khó hơn và khó hay; có lẽ ngoài số ít mấy nhà đại tài sản xuất chuyên nghiệp?

Phố đêm:
đèn mờ quạch,
cây nhập nhòe,
Taxi chạy le ve,
hàng thư giãn, massage:
bạc bệch chân đùi những mặt hoa vắng khách buồn ủ rũ

Phố sôi động hàng ăn hàng uống
Táp vào các cô cậu xe tay ga
Có đứa tóc đỏ, tóc vàng khè
Nháo nhào gọi, bảo

Phố đêm vài ông cu cũ,
đi bộ băng đường,
dáng tất tả cô liêu,
diện công tác, tại chức, chắc về khách sạn

Phố đêm loạng quạng có ufo,
vi hành?
Hãy thận trọng nhưng đừng làm họ sợ!

Phố đêm xé sóng âm,
tàu ngược xuôi còi hú
Xe ôm muộn chắt chiu,
vợt người về chuyến cuối

Phố đêm sướng nhất
là không tắc đường!

Phố đêm no, ngủ khì
Ít cửa sổ thao thức
Ít trộm cướp rình mò…
Thời đại siêu hiện tại:
Kẻ gian ngày còn có lắm hơn đêm
Người lí tưởng âu lo nước non ít hơn người vị kỷ…

Mai sáng,
nhạt nhòa tan sương
Chốn chơi: Phấn hương bay
Mấy điếm buồn ngủ muộn
Các nhà chuẩn bị cỡi xe đi:
Hoặc tới sở ghi tên đánh trống…
Hoặc: cho chữ, tìm chữ,
tìm đối tác,
tìm hài cốt,
tìm mã, giá, cửa bán mua
chứng khoán, vàng, đô la..
tìm vui
tìm cả những chân trời…

Nắng lên : phố và đời một dòng

Dòng sống lững lờ
Bụi, chen chúc
Mưa sa, nắng táp
Trôi đi
cùng hi vọng rủi may củ bở,
được thua mất còn…
cứ nhấp nha nhấp nhô!
Đặng Minh Liên 6/12/09

Từ Cánh đồng bất tận…

Xem ảnh từ link anhso.net: Cấy lúa tháng chạp – Đặng Minh Liên chụp

Từ Cánh đồng… thương Nỗi buồn… (TT&VH Cuối tuần)

Cánh đồng… ở đây là Cánh đồng bất tận, tác phẩm
được bạn đọc yêu thích nhất của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, vừa được Hãng phim Việt
chính thức bấm máy hôm 25/11. Còn Nỗi buồn… là Nỗi buồn chiến tranh, một tác
phẩm khác được độc giả trong nước và cả nước ngoài yêu quý không kém của nhà văn
Bảo Ninh.

“Cố thủ” tại một nơi heo hút – vùng sâu vùng xa của huyện Mộc Hóa, tỉnh Tây
Ninh, đoàn làm phim Cánh đồng bất tận (CĐBT) dự kiến sẽ bám trụ tại miền Tây
(chủ yếu ở Đồng Tháp, Cần Thơ và Long An) để quay liên tục trong 2 tháng (ngay
cả LHP Việt Nam lần thứ 16 sắp diễn ra tại TP.HCM, đoàn cũng không về tham dự!).
Mọi thông tin liên quan tới bộ phim được tiết lộ khá dè dặt, chủ yếu qua những
nguồn không chính thức. Điều này khác xa với những gì Hãng phim Việt đã “PR” cho
những bộ phim truyền hình “hot” của mình, cho dù ê-kíp mà phim CĐBT đang sở hữu
có thể được xem là rất đáng chú ý: biên kịch Ngụy Ngữ, biên tập Nguyễn Hồ, đạo
diễn Nguyễn Phan Quang Bình, các diễn viên Dustin Nguyễn (vai ông bố), Đỗ Hải
Yến (vai cô gái điếm tên Sương), Tăng Thanh Hà (vai người vợ)… Có vẻ như nhà sản
xuất lường trước những áp lực đang đè lên họ từ chính việc chuyển thể từ một tác
phẩm đã quá nổi tiếng và phổ biến, mà chính nó từng gây nên cả một “cơn bão” dư
luận một thời. Nên CĐBT chọn cách “im lặng mà đi” hơn là ồn ào ra mắt. Hiện tại
thời gian hoàn tất cũng như dự định công chiếu hay tham dự LHP của phim cũng
chưa được tiết lộ. Nhưng không phải im lặng là không có chuyện.

Linh hồn của phim – đạo diễn, tới sát giờ bấm máy mới được xác nhận chính thức
là Nguyễn Phan Quang Bình. Trước đó, đạo diễn Charlie Nguyễn trả lời phỏng vấn
nói rất chi tiết về việc chuẩn bị làm phim này. Nhưng theo người phụ trách
truyền thông của đoàn phim, đó chỉ là “mong muốn của Charlie Nguyễn”. Ngoài
Charlie Nguyễn thì Việt Linh và Minh Nguyệt (đạo diễn kịch CĐBT) cũng từng được
nhắc đến ở vị trí này. Trong số những cái tên đạo diễn kể trên, “nhẹ ký” nhất có
thể là Quang Bình. Anh mới thể hiện vai trò đồng đạo diễn phim Vũ khúc con cò và
39 độ yêu, chưa để lại dấu ấn đáng kể nào và là dân “Bắc kỳ chính hiệu” trong
khi CĐBT lại rất miền Tây.

Dàn diễn viên phim CĐBT cũng gây không ít tò mò. Ngoài Dustin Nguyễn được lựa
chọn ngay từ đầu trong vai người cha, mãi gần đây, những cái tên khác mới được
tiết lộ. Đỗ Hải Yến sẽ vào vai cô gái điếm miền Tây tên Sương. Tăng Thanh Hà sẽ
vào vai người vợ hư hỏng. Đây là hai vai diễn hoàn toàn khác biệt với những gì
Hải Yến và Tăng Thanh Hà từng thể hiện trước đó. Vai Điền (cậu con trai) được
giao cho Võ Thanh Hòa, một gương mặt khá quen thuộc trong các phim truyền hình
của HTV và vai Nương (cô con gái) được giao cho một gương mặt còn rất mới là
Ninh Dương Lan Ngọc.

Nếu có thể nói gì về các nhân vật trong CĐBT (truyện) thì tất cả đều sống nội
tâm với rất nhiều tâm trạng ẩn giấu, phong phú và phức tạp. Điều ấy tạo nên sức
hấp dẫn đầy ám ảnh của CĐBT và nó cũng khiến không ít người lo ngại khi biết
truyện sắp lên phim. Trên diễn đàn dienanh.net, một khán giả bày tỏ mong muốn
“phim chân thật với truyện, đừng cắt xén, che giấu”, kèm theo lo lắng: “truyện
chủ yếu diễn tả nội tâm, đặc biệt là hai chị em nhân vật chính, nói chuyện với
nhau toàn là bằng ánh mắt, diễn viên Việt Nam không biết diễn được không”…Chỉ
riêng đòi hỏi “phim chân thật với truyện” đã có thể khiến nhà làm phim toát mồ
hôi, chưa nói đến những đòi hỏi khác. Làm phim từ một tác phẩm văn học nổi tiếng
luôn luôn là con dao hai lưỡi.

Nói tóm lại, phim CĐBT còn… chơi vơi cho tới chừng nào nó ra mắt người xem một
cách trọn vẹn. Nhưng ít ra, vào lúc này, CĐBT của Nguyễn Phan Quang Bình được
một hậu thuẫn rất quan trọng của… nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, “mẹ đẻ” của CĐBT.
Trước những “lo lắng giùm” của người hâm mộ, Ngọc Tư có một thái độ cực kỳ…
chuyên nghiệp. Cô từ chối đọc kịch bản chuyển thể, còn bảo “viết truyện là việc
của em, đã xong. Việc làm phim là của biên kịch, đạo diễn và đoàn làm phim…”.

Song không phải lúc nào nhà văn cũng “dễ tính” như thế. Ít ra là trong trường
hợp Nỗi buồn chiến tranh (NBCT), một trong những dự án phim gây chú ý nhất của
dư luận trong năm 2008.

Khỏi phải bàn thêm về giá trị của NBCT ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Nó
được dịch ra nhiều thứ tiếng, được xếp trong top ten những kiệt tác văn học Đông
Nam Á thế kỷ 20 và lọt vào top 50 tác phẩm văn học nước ngoài dịch sang tiếng
Anh hay nhất trong nửa thế kỷ qua. Chính vì vậy, mọi thứ ồn lên khi tháng
7/2008, có thông tin chính thức NBCT sẽ lên màn ảnh với một ê-kíp quốc tế: nhà
đầu tư người Anh là giám đốc một quỹ đầu tư lớn ở Việt Nam, đạo diễn gốc Mỹ từng
làm việc ở Việt Nam, biên kịch cũng là một người nước ngoài. Dù quá trình thuyết
phục nhà văn, sửa chữa kịch bản kéo dài nhiều năm trời, nhà sản xuất đã tiêu tốn
khoảng nửa triệu USD để chuẩn bị sẵn sàng cho việc bấm máy, nhưng phút chót nhà
văn tuyên bố không dính líu gì đến bộ phim này, vì rằng bộ phim đã không đúng
tinh thần như ông đã đề nghị sửa chữa… Vốn là bạn thân của nhà văn, trước tình
cảnh dở khóc dở cười này, nhà đầu tư Dominic Scriven đã quyết định bỏ luôn dự
án. Đạo diễn Nicolas Simon do quá say sưa với dự án đã đề nghị được mua lại để
tự làm, nhưng cũng bị từ chối. Thế là NBCT một lần nữa lại bỏ lỡ cơ hội lên màn
ảnh (trước đó đạo diễn Khánh Dư từng có ý định này)!

Thật lạ, người Nga không phản đối khi điện ảnh Mỹ dựng Chiến tranh và Hòa bình,
dân Trung Quốc vẫn nô nức đi tuyển vai cho Hồng Lâu Mộng bản mới dù bản dựng
trước đã được xem là rất thành công. Bởi vậy, nếu CĐBT của Nguyễn Phan Quang
Bình có “không giống” như CĐBT của Nguyễn Ngọc Tư thì đó cũng là chuyện hoàn
toàn bình thường. Cũng như có thể sau Nguyễn Phan Quang Bình, lại có thêm những
đạo diễn khác muốn dựng CĐBT theo cái nhìn của họ… thì sao? May cho CĐBT nhưng
tiếc NBCT quá!

Nguyễn Ngọc Tư nói gì về phim Cánh đồng bất tận?

* Chị có quan tâm tới việc tác phẩm văn học của mình chuyển qua các
thể loại khác như thế nào hay không?

- Tôi có quan tâm chút xíu vào lúc… thương thảo hợp đồng chuyển
nhượng tác quyền. Nghĩ hơi nghiêm túc chút thì tôi cho là mỗi loại hình
nghệ thuật có một đặc điểm riêng, từ tác phẩm của tôi, nó bắt đầu có đời
sống khác, một đời sống ngoài tầm với của tôi. Đành vậy thôi, tôi cũng
không thích cứ lẽo đẽo chạy theo một tác phẩm đã lâu rồi, tôi còn phải
dành tâm sức viết gì đó mới chứ.

* Cảm giác đầu tiên của chị khi tác phẩm điện ảnh bắt đầu được “hình
dung” qua hình ảnh của các nhân vật chính?

- À, tôi hình dung vầy, cô con gái phải là người có khả năng diễn
bằng mắt, vì truyện của tôi cô bé chẳng nói bao nhiêu câu, chị Sương phải
hơi già tí, kém nhan sắc tí, nếu không thì cô ấy ở thành phố sống ngon
lành chớ dạt về quê chi. Người cha phải quyến rũ tí, chăn vịt mà quyến rũ
cũng khó, ha?

* Dustin Nguyễn, Đỗ Hải Yến, Tăng Thanh Hà – chị đã xem những phim
của các diễn viên này chưa? Chị có nhận xét gì về diễn xuất của họ? Và đạo
diễn Quang Bình nữa?

- Chị bạn tôi khen, Hải Yến đóng Chơi vơi hay lắm, cốt cách rất sang
trọng. Tôi nghe tới đây liền nghĩ, ôi, làm sao cô ấy ra đồng được. Nhưng
nếu cô ấy chịu ra đồng thì tốt chớ sao. Bạn Hà tôi quen trên truyền hình,
anh Dustin Nguyễn tôi quen trên… tạp chí, còn anh Bình quen lúc… ký hợp
đồng.

* Chị tin tưởng vào đạo diễn và ê-kíp làm phim hay chị khá thoải mái
trong việc để người khác “chế biến” từ tác phẩm gốc của mình?

- Tôi thoải mái. Thật ra nếu có anh nhà văn nào phóng tác hoặc viết
lại truyện của tôi theo kiểu của anh ấy thì tôi mới giãy. Tôi có ý nghĩ
hơi bị vui khi đọc báo thấy cái phim này khởi quay, nghĩ cái truyện miền
Tây của mình được toàn quốc hóa, quốc tế hóa, cũng ngộ. Để coi sao…

* Trong phim chị có tham gia vai trò gì không, cố vấn nghệ thuật
chẳng hạn?

- Tôi tham gia với vai trò… khán giả.

* Khi trao quyền chuyển thể tác phẩm lên phim cho Hãng phim Việt,
chị có phải phân vân lựa chọn giữa nhiều lời đề nghị tương tự hay không?

- Anh Bình liên lạc với tôi khi báo Văn nghệ vừa in xong. Tôi gật
đầu ngay. Lúc đó chưa có lời đề nghị nào khác. Ôi, mà tôi ghét ngã ba ngã
tư lắm, phải chọn lựa, chọn lựa không suôn sẻ lại phải nuối tiếc, ôi giá
mà mình đi đường kia.

* Ngoài CĐBT, có tác phẩm nào của chị nhận được lời đề nghị chuyển
thể nữa?

- Thôi không nói, cương quyết không nói, kẻo người ta bảo rằng mình
khoe.

Thủy Phạm

Ai bảo không có con Rắn vuông???

Những phát hiện khoa học nổi bật năm 2009!
FR: Thanh Niên Online -
National Geographic vừa tổng kết 10 phát hiện khoa học mà người xem quan tâm nhất trên website của họ trong năm 2009, xếp theo thứ tự từ thấp đến cao:

10) Ngư dân Philippines bắt được con cá mập rất hiếm thuộc họ megamouth, vào tháng 4.2009. Theo Quỹ thiên nhiên hoang dã chi nhánh Philippines thì từ trước đến nay, trên toàn thế giới chỉ ghi nhận được 41 con thuộc loại này. Con cá mập megamouth thứ 41 này dài 4 mét và nặng chừng 500 kg.

9) Con người đã làm đẹp với những viên đá quý cẩn vào răng khoảng 2.500 năm trước. Viện Nhân loại học và lịch sử quốc gia Mexico có một bộ sưu tập độc đáo hàng ngàn chiếc răng rời hoặc nằm trong sọ những người đã sống cách đây vài ngàn năm. Các “nha sĩ” thời xưa đã sử dụng những loại đá rất cứng như obsidian để làm dụng cụ đục răng rồi gắn đá quý lên đó.

8) Trăn khổng lồ (anaconda) đang xâm nhập ồ ạt vào bán đảo Florida và miền nam Texas – những vùng đất thuộc nước Mỹ có khí hậu tương tự Nam Mỹ, vốn là cứ địa của loài động vật này.

Loài anaconda có con dài đến 7 mét, cân nặng trên 220 kg, thường không tấn công người. Còn ở Đông Nam Á có một loài trăn da hình mắt lưới dài 10 mét, chúng có thể tấn công và sát hại người.

7) Rắn to bằng xe buýt. Tháng 2.2009, các nhà khoa học tìm thấy hóa thạch của loài rắn lớn nhất thế giới từ trước tới nay, dài tương đương một chiếc xe buýt.

Đây là phát hiện của nhóm sinh viên và giảng viên Đại học Toronto (Canada). Họ tìm thấy 180 xương sườn hóa thạch của 28 con rắn tại một mỏ than ở Cerrejó, đông bắc Colombia. Theo tính toán, loài rắn này nặng tới 1.135 kg và dài khoảng 12,8m. Chúng sống cách đây khoảng 58 – 60 triệu năm và được nhóm nghiên cứu đặt tên là Titanoboa cerrejonensis.

6) Xác con tàu ma sau 108 năm. Tháng 11.2009, nhóm chuyên gia khảo cổ Canada phát hiện xác một tàu hơi nước bị đắm từ thời dân chúng đổ xô đi tìm vàng ở Klondike. Đó là con tàu làm bằng sắt tên là A.J.Goddard, bị đắm trong một trận bão cách đây 108 năm. Nó vẫn còn nguyên vẹn trong lớp băng dưới lòng hồ Laberge, phía bắc thủ phủ Whitehorse thuộc vùng lãnh thổ Yukon.

5) Hóa thạch xương người 4,4 triệu năm tuổi. Ngày 2.10, các nhà khoa học Mỹ tuyên bố đã phát hiện bộ xương hóa thạch xa xưa nhất của tổ tiên loài người tên là Ardi, thuộc chủng loại Ardipithecus ramidus, có tuổi đến 4,4 triệu năm. Trước đó, hóa thạch người tiền sử được cho có tuổi đời lâu nhất là Lucy, thuộc chủng loại Australopithecus afarensis, được phát hiện năm 1974, có niên đại 3,3 triệu năm. Ardi được tìm thấy ở vùng sa mạc Afar tại miền trung Awash, Ethiopia.

4) Một loài chim cút mà người ta ngỡ đã tuyệt chủng được tìm thấy ở Philippines vào tháng 2.2009, khi nó suýt bị làm thịt.

Theo ông Michael Lu, Chủ tịch CLB chim hoang dã của Philippines, loài chim này có tên khoa học là Turnix worcesteri, từng sống ở vùng núi Caraballo.

3) Những đám mây kỳ lạ tại Cedar Rapids, bang Iowa (Mỹ) là ví dụ về một dạng mây mới được phát hiện. Gavin Pretor Pinney, người sáng lập Hiệp hội Đánh giá mây, bắt đầu chụp những bức ảnh mây kỳ lạ và ngoạn mục vào năm 2005 nhưng lại không biết định nghĩa nó.

Sau này, ông đưa ra một cái tên Latin: Undulus asperatus – có thể hiểu là một dạng gợn sóng hỗn loạn, mạnh mẽ và bất thường.

2) Cá với lớp da đầu trong suốt được các nhà khoa học California, Mỹ ghi hình vào tháng 2.2009.

Sống ở vùng nước sâu tăm tối, loài cá kỳ lạ có tên gọi là cá mắt thùng (barreleye). Chúng sử dụng đôi mắt hình ống cực kỳ nhạy cảm để tìm con mồi lượn lờ bên trên đỉnh đầu.

1) Dấu vết nối kết giữa loài người và vượn cáo. Tháng 5.2009, các nhà khoa học phát hiện hóa thạch tổ tiên của con người có tuổi thọ 47 triệu năm. Hóa thạch này được khai quật tại Messel Pit, Đức, và được đặt tên là Darwinius masillae, có tuổi thọ nhiều hơn gấp 20 lần so với hầu hết các hóa thạch tạo nên quá trình tiến hóa của con người.

Đây là hóa thạch của một loài chuyển tiếp, mang các đặc điểm từ những dòng tiến hóa phi nhân nguyên thủy (bộ bán hầu, đại diện là loài vượn cáo) nhưng lại liên quan nhiều hơn đối với dòng tiến hóa thuộc loài người (vượn người).

Tạ Xuân Quan

Hậu liên hoan Phim VN lần thứ 16

Đạo diễn Đặng Nhật Minh nhận cúp Bông sen Vàng cho phim Đừng đốt

LHP 16

Đạo diễn Bùi Tuấn Dũng (BGK Phim nhựa) cho biết hai cái thiếu rõ nhất của các liên hoan ở VN là thiếu một địa điểm ổn định như Venice, Cannes, Busan, Fukuoka… và thiếu một nhà tổ chức sự kiện chuyên nghiệp, với khả năng kêu gọi những khoản tài trợ khổng lồ. Nhìn sơ qua liên hoan năm nay đã thấy, dù có tài trợ, nhưng vẫn quá ít, làm kiểu gì cũng khó.

Đạo diễn Nguyễn Trọng Khoa cho biết ngoài những cái được không cần nhắc lại, thì khâu quảng cáo cho phim phải cần làm thêm rất nhiều, liên hoan đi gần một nửa chặng đường thì qua báo chí, không ít khán giả mới biết rằng nó đang diễn ra. NSƯT Hồ Kiểng nhà ở ngay cạnh rạp Cao Thắng, nơi chiếu các phim nhựa, nhưng mãi tới phim cuối cùng mới hay tin, vì chẳng có ai báo cho ông biết. Chính bà Nguyễn Thế Thanh (TGĐ Công ty Sài Gòn truyền thông), trong vai trò một đơn vị tổ chức, cho biết ngoài chuyện lực bất tòng tâm thì còn thiếu sự đồng thuận, ủng hộ của người dân và khán giả. Bà muốn đường 3 Tháng 2 phải thành “con đường điện ảnh” nhưng dựng poster che mặt tiền nhà dân không dễ, chương trình Ấn tượng nhạc và phim phát hành 1.700 vé chỉ bán được 100, còn lại phải chuyển sang dạng vé mời.

Phim Hoạt hình, Khoa học, Tài liệu… chiếu chẳng có mấy người xem, vì lượng khán giả của phim này đã ít, khi chiếu thì công tác quảng bá quá yếu. Làm các thể loại phim này vốn đã khó, nhưng tìm lối ra, tìm rạp chiếu cố định và thường xuyên càng khó hơn. Ngay cả báo chí cũng chẳng mấy mặn mà khi đưa tin, vì công chúng ít quan tâm.

Những “cái được” chưa thấy xướng tên

Một phóng viên chuyên điểm phim người Nhật đến tác nghiệp muốn hỏi chuyện một nhà phê bình, anh đã rất ngạc nhiên khi nhiều nhà sản xuất, đạo diễn trả lời rằng họ không biết người đó ở đâu.

Những buổi tọa đàm, hội thảo thường là chuyện của các nhà chuyên môn, trong liên hoan này cũng có những buổi như thế; và đây là “cái được” lớn nhất. Dù đặt ra những vấn đề khá then chốt như “Xây dựng dự án và huy động vốn sản xuất phim”, “Phim ngắn trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, “Giới thiệu làm phim công nghệ HD và công tác chiếu phim lưu động”… nhưng cũng chẳng có nhiều người làm nghề đến dự. Khi cần than thiếu máy móc, thiếu tiền, thiếu cơ hội thì cứ than, nhưng khi cần “học”, cần trao đổi thì chẳng thấy đến. Chỉ có quan khách, khách mời, BTC và báo giới, các buổi tọa đàm, hội thảo đã diễn ra giống như… thủ tục.

Một “cái được” nữa là về số lượng và chất lượng của các phim tăng lên khá rõ, riêng 15 phim nhựa cũng đã cho thấy rõ sự phong phú về cách nhìn và cách làm. Ấy thế mà trong một liên hoan khá quy mô lại thiếu hẳn bóng dáng các tạp chí chuyên ngành, thiếu hẳn những nhà phê bình, những nhà phân tích, điểm phim chuyên nghiệp… với các nhận định có trọng lượng. Một phóng viên chuyên điểm phim người Nhật đến tác nghiệp muốn hỏi chuyện một nhà phê bình, anh đã rất ngạc nhiên khi nhiều nhà sản xuất, đạo diễn trả lời rằng họ không biết người đó ở đâu. Trong khi, chính nhà phê bình và các bài viết của họ sẽ giúp khán giả cân bằng được giữa thông tin quảng bá với cái nhìn chuyên môn, giúp nhận ra những ưu nhược hay sự tinh tế của một tác phẩm.

Văn Bảy

Pu tin cũng biết đùa…

NHỮNG CÂU HÀI HƯỚC TRONG ĐỐI THOẠI CỦA PUTIN
Diệu Minh

Trong buổi đối thoại dài kỷ lục được truyền hình trực tiếp hôm qua, xen kẽ giữa các thảo luận về nền kinh tế và phúc lợi xã hội, Putin có những lời nhận xét bông đùa, trong đó có lời hứa làm ông Bụt và từ chối lời mời trở thành bất tử.
Trường của chúng cháu chỉ có ba máy tính. Liệu ngài có thể phân phát cho chúng cháu một ít tiền? – học sinh Tatyana Kapnitskaya lớp 9 hỏi.
Putin đã trả lời rằng ông sẽ vào vai ông Bụt trong các câu chuyện cổ tích. Nếu cháu tìm đến tôi thì tôi sẽ coi đó như một nhiệm vụ để đáp ứng yêu cầu của cháu, ông trả lời.
Putin cũng đùa khi trả lời câu hỏi vì sao trông ông hạnh phúc bên các con hổ và báo hơn là khi ở cạnh các bộ trưởng. Càng hiểu rõ con người, tôi càng thích các chú chó, ông nói, và bổ sung rằng, thực ra ông không nghĩ xấu về các bộ trưởng hay đồng nghiệp. Tôi chỉ đơn giản thích các con vật.
Một trong số những người gửi thư cho Putin, bà Tatyana Romanenko đến từ Rostov, hôm qua hẳn phải có một sinh nhật như mơ khi được Putin đích thân chúc mừng sinh nhật trong cuộc nói chuyện trực tiếp.
Romanenko, vừa tròn 55 tuổi, đã yêu cầu Putin chúc mừng sinh nhật bà. Lời yêu cầu nằm trong số hơn 2 triệu e-mail, cuộc gọi điện thoại và tin nhắn được gửi tới Putin trước cuộc đối thoại trực tiếp với dân hôm qua.
Putin, người thường chỉ gửi lời chúc mừng sinh nhật tới những người đồng cấp như Thủ tướng Ukraina Yulia Tymoshenko hay các chính trị gia nổi tiếng, đã đọc được lời yêu cầu từ một tập thư mà ông đích thân lựa chọn.
Bà Tatyana Nikolayevna thân mến! Với tất cả tấm lòng mình, tôi chúc mừng bà nhân dịp tròn 55 tuổi và chúc bà thành công, ông vừa nói vừa mỉm cười khiến tất cả khán phòng vỗ tay tán thưởng. Sau đó ông nói tiếp: Và tất cả mọi người ở đây cũng chung lời chúc với tôi.
Trong một giây phút sơ sẩy, khả năng ghi nhớ tên tuổi và con số ấn tượng của Putin đã gặp trục trặc khi ông nhầm một trong những ông chủ của hãng ôtô đang gặp khó khăn, AvtoVAZ.
Putin cũng nói rằng ông đều coi mỗi ngày là những ngày hạnh phúc nhất trong đời. Chỉ riêng việc chúng ta đang sống đã là điều hạnh phúc nhất mà đấng tạo hóa ban cho chúng ta.
Nhân vật được tạp chí Forbes bình chọn là người có quyền lực lớn thứ 3 thế giới cũng tỏ ra khá khiêm nhường. Khi trả lời câu hỏi vì sao rất nhiều người vĩ đại bị mắc chứng trầm cảm và Putin đã chống chọi với căn bệnh đó ra sao, thì Putin nói rằng ông không coi mình là vĩ đại và vì vậy chẳng có gì phải trầm uất cả.
Putin phản ứng mạnh mẽ trước vụ tai nạn xe hơi do một thanh niên người Nga say rượu điều khiển chiếc xe hơi sang trọng Lamborghinido ở Thụy Sĩ, khiến một cụ già Đức bị thương nặng.
Vụ án cho thấy nước Nga gặp phải một tình trạng nhiều người giàu thích phô trương của cải của mình. Putin nói: Những chiếc Lamborghini này cũng giống những chiếc răng vàng mà một số người Nga thích phô ra như biểu tượng của sự giàu sang.
Đến gần cuối chương trình, Putin bắt đầu trả lời các câu hỏi từ tập giấy chọn sẵn. Một trong số đó có câu: Liệu ngài có bỏ qua các câu hỏi ngớ ngẩn?. Ông hỏi lại rằng có câu hỏi nào đáng bị cho là ngớ ngẩn không. Putin đã trả lời nhiều câu hỏi về những chuyện đời thường như ông thích con Pokemon nào, hay có đồng ý giúp một người dân trở thành ca sĩ không.
Kết thúc buổi đối thoại, Putin đọc từ một bức thư: Nếu ngài muốn bất tử như một công dân của Trái đất, hãy gọi số điện thoại sau đây nhé.
Lời đề nghị giúp Putin có cơ hội kết thúc cuộc nói chuyện dài kỷ lục – 4 tiếng 1 phút – bằng một câu tỏ lòng yêu nước. Tôi tự hào là một công dân của Liên bang Nga. Như thế là quá đủ. Cảm ơn rất nhiều về lời đề nghị này.

Những vụ án khủng khiếp năm 2009

Nạn nhân nô lệ tình dục: Jaycee Lee Dugard

.
10 vụ án kinh hoàng năm 2009

Một cô gái bị ép làm nô lệ tình dục trong suốt 18 năm; mafia thanh toán nhau ngay giữa thanh thiên bạch nhật, dùng trực thăng cướp tiền như trong phim Hollywood, là những vụ án gây xôn xao nhất trong năm qua

1. 18 năm làm nô lệ tình dục

Một bí mật khủng khiếp kéo dài 18 năm tại Mỹ được phơi bày sau khi cảnh sát phát hiện cô Jaycee Lee Dugard đã bị cặp vợ chồng Philip và Nancy Garrido bắt cóc từ năm 11 tuổi và bị ép làm nô lệ tình dục. Trong suốt giai đoạn kéo dài gần hai thập kỷ, Jaycee phải sống trong một túp lều tồi tàn và bị buộc quan hệ tình dục với Garrido rồi sinh hai đứa con.

Điều đáng kinh ngạc là dù chỉ cách nhà hàng xóm vài bước chân, không một ai phát hiện bí mật này suốt 18 năm qua. Jaycee, giờ đã 29 tuổi, được đoàn tụ với gia đình. Còn Garrido – được cho là loạn tâm thần và nghiện sex – đối mặt với 29 cáo trạng vì vụ bắt cóc.

2. Cái chết bi thảm của cô dâu gốc Việt

Một nữ nghiên cứu sinh gốc Việt tại Mỹ – Annie Le – bỗng dưng biến mất chỉ 5 ngày trước khi cưới. Sau đó, thi thể của cô được phát hiện giấu trong bức tường tầng hầm của tòa nhà dành cho nghiên cứu y tế ở Đại học Yale. Nghi phạm được xác định là Raymond Clark III – một kỹ thuật viên tại phòng thí nghiệm nơi xác của cô dâu gốc Việt được tìm thấy.

Đến nay động cơ giết người của y vẫn chưa được làm sáng tỏ. Người ta cho rằng có thể Clark giết Le vì yêu cô này nhưng không được đáp trả. Nhưng giả thuyết đa phần nghiêng về cho rằng hai người cãi nhau rồi dẫn đến án mạng.

3. Mafia thanh toán nhau giữa ban ngày

Video ghi lại hình ảnh một kẻ sát nhân công khai bắn chết một tên trùm mafia ngay trước một cửa hàng đông đúc tại trung tâm thành phố Naples, Italy, đã khiến dân chúng cả nước này bàng hoàng. Điều gây sốc hơn cả là nhiều người có mặt tại hiện trường vụ án tỏ ra không hay biết gì cả. Các quan chức buộc phải tung ra đoạn video này bởi họ không thu được kết quả sau nhiều tháng điều tra. Cuối cùng, vào tháng 11, một nghi phạm đã bị bắt nhưng chi tiết về tên này chưa được công bố.

4. Cướp tiền bằng trực thăng như trong phim

Trong vụ cướp kho tiền bằng trực thăng ngoạn mục như phim Hollywood, những tên cướp tiếp cận kho chứa tiền ở phía nam Stockholm, Thụy Điển, từ trên không. Chúng thả mình từ trên cao xuống mái nhà, đập vỡ cửa kính mái rồi chui xuống. Trước sự chứng kiến của nhiều nhân chứng, kẻ cướp chuyển nhiều túi đựng tiền lên máy bay rồi tẩu thoát.

Trong suốt 20 phút diễn biến của vụ cướp, cảnh sát Stockholm không thể truy đuổi máy bay của bọn cướp vì một quả bom giả được đặt trước cửa nhà chứa máy bay của lực lượng an ninh. Cảnh sát đã trao giải 1 triệu USD để bắt nhóm cướp tiền. Đây được xem là chiến dịch điều tra lớn nhất của cảnh sát Thụy Điển kể từ năm 2003. Tuy nhiên cho đến nay chưa có thông tin về tung tích của những kẻ cướp táo tợn.

5. Sao truyền hình bị nghi giết vợ dã man

Trong một vụ án khiến giới chức Mỹ và Canada phải đau đầu, cảnh sát đã phát hiện thấy xác của Jasmine Fiore – vợ của ngôi sao truyền hình của Mỹ Ryan Alexander Jenkins – bị nhét trong một chiếc vali đầy máu ở thùng rác. Giới chức chỉ có thể xác định được Fiore nhờ tra mã số trên bộ ngực được bơm của cô.

Một tuần sau, Jenkins cũng bị phát hiện treo cổ tự tử trong một nhà nghỉ ở Canada, với một bức thư tuyệt mệnh chứa đầy lời lẽ ghen tuông. Cặp vợ chồng nổi tiếng với cuộc sống xa hoa và không ít lần gặp trục trặc vì thói trăng hoa của cả hai người.

6. Cướp trắng trợn 65 triệu USD giữa ban ngày

Kẻ gian cuỗm mất gần 65 triệu USD từ một cửa hàng kim hoàn ở London ngay giữa ban ngày, trong vụ cướp khiến cả thế giới kinh ngạc. Hai gã ăn mặc bảnh bao như các doanh nhân đến cửa hàng Graff Diamonds trên chiếc taxi đen, nhẹ nhàng vượt qua các cửa an ninh và dùng súng khống chế nhân viên. Chúng lại còn cẩn thận lựa 43 món đồ quý nhất rồi mới chuồn.

Đây được đánh giá là một vụ cướp tinh vi vì thủ phạm đã chuẩn bị nhiều ôtô trên đường tẩu thoát và có sự phối hợp ăn ý giữa những tên đồng bọn.

7. Thảm sát thường dân tại Philippines

Khoảng 100 tay súng đã bắt cóc một nhóm gồm khoảng 60 người là họ hàng của Ismael Mangudadatu – ứng viên tỉnh trưởng Maguindanao, cùng luật sư và phóng viên, tới một vùng đồi núi hẻo lánh và bắn chết họ. Thi thể những người này bị vùi dưới các hố chôn tập thể.

Một gia tộc quyền thế ở địa phương bị nghi là thủ phạm gây vụ thảm sát vô cùng tàn bạo này. Tổng thống Philippines phải ban bố tình trạng khẩn cấp và cam kết sẽ xử lý nghiêm những kẻ sát nhân. 1.000 cảnh sát bị sa thải và hàng chục nghi phạm đã bị bắt.

8. California sốc vì một vụ thủ tiêu trẻ em

Cảnh sát và người dân California, Mỹ, cùng sửng sốt khi kẻ tình nghi trong vụ giết chết một bé gái 8 tuổi rồi nhét xác trong vali lại là một phụ nữ – mẹ của bạn thân nạn nhân. Xác của cô bé được tìm thấy trong một vali vứt trong một hồ nước.

Nghi phạm là một giáo viên trường đạo và cũng từng tham gia buổi cầu nguyện cho cô bé xấu số. Người ta vẫn chưa rõ bà mẹ đơn thân này giết bé gái vì mục đích gì.

9. Huyền thoại âm nhạc bị kết tội giết người tình

Nhà soạn nhạc nổi tiếng thế giới Phil Spector đã phải nhận bản án 19 năm tù vì tội giết người, sau nhiều năm chìm trong men rượu, đam mê súng ngắn và chung chạ với nhiều ngôi sao màn bạc. Spector đã bắn vào họng nữ diễn viên Hollywood Lana Clarkson trong khu nhà rộng lớn của ông ta ở California, Mỹ, sau khi hai người trở về từ một hộp đêm.

Phải mất 8 tháng để cảnh sát khép tội nhà soạn nhạc và 4 năm để vụ án được đưa ra xét xử. Người ta cho rằng chính danh vọng đã đẩy tác giả của kỹ thuật thu thanh nổi tiếng “Wall of Sound” vào sau song sắt.

10. Thảm sát tại trường học Đức

Cả nước Đức sững sờ sau khi Tim Kretschmer, 17 tuổi, xông vào trường học cũ và xả súng điên loạn vào các học sinh, giáo viên, khiến 12 người tại trường thiệt mạng. Trên đường chạy trốn, hung thủ sát hại thêm 3 nạn nhân khác trước khi chết. Giới chức Đức cho biết Kretschmer đã bắn hơn 100 phát đạn trong suốt vụ tấn công và vẫn còn khoảng hơn 130 viên đạn khi bị cảnh sát bao vây và tự sát.

Đây là vụ xả súng gây thương vong nhiều nhất ở nước Đức kể từ năm 2002.

Diệu Minh

DÂN CA BÈO DẠT MÂY TRÔI qua 3 cách thể hiện – thư giãn rất thú vị

CHỈ NGƯỜI LỚN MỚI ĐƯỢC ĐỌC!

Hình sưu tầm - minh họa
DỊCH VỤ CHIỀU CHỒNG THỜI @
theo Vnn.vn

Chi gần 100 triệu đồng để chồng quan hệ với búp bê

Để giữ chồng, chị đã nhờ người mua bên nước ngoài một con búp bê vì sợ chồng đi tòm tem bên ngoài. Con búp bê có giá lên tới 93 triệu đồng.
Khác với trước kia, búp bê tình dục ở Việt Nam không còn là món đồ khó kiếm. Chỉ cần lướt qua vài trang web rao vặt là có thể dễ dàng mua được, từ loại giá vài trăm nghìn cho đến hàng trăm triệu đồng. Mặc dù đây là sản phẩm không được phép kinh doanh nhưng bằng nhiều cách khác nhau, nó vẫn được nhập vào Việt Nam và đã có mặt trong đời sống vợ chồng của nhiều gia đình.

Ngủ với búp bê vì vợ mang bầu

Trong lần nói chuyện tào lao, anh Phạm Thanh Ch., Giám đốc Công ty Tư vấn đầu tư T.Y (Mỹ Đình, Hà Nội) kể, thời gian vợ anh mang bầu đối với anh vui cũng có mà bức xúc cũng nhiều. “Nhiều đêm chán ở nhà dắt xe đi rong khắp Hà Nội. Muốn một cái gì đó nhưng lại thấy sợ nên đành quay xe về nhà”.
Vừa mới lấy vợ được không lâu, đang ở cái tuổi “xuân” nhất, hiểu được điều đó nên chị Y. (vợ anh) đã tình nguyện mua cho chồng một con búp bê bằng cao su.

Một mẫu búp bê tình dục (nguồn: Internet)

Anh Ch. cười khẩy khi giới thiệu anh có một bộ sưu tập 3 con búp bê, con đắt nhất có giá 32 triệu đồng, con rẻ nhất ngày đầu vợ anh mua cho giá gần 2 triệu.

Đến khi vợ anh qua thời kỳ kiêng cữ, anh vẫn còn “vương vấn” với những con búp bê đó. Tối tối, lấy lý do ra ngoài đọc sách, anh lại đắm chìm cùng con búp bê anh cất công mang từ Lạng Sơn về. Vợ anh cũng không khó khăn gì khi anh ăn phở với búp bê, anh mẫu mực chiều vợ, chăm con.

Anh Nguyễn Tuấn P. (Quan Hoa, Cầu Giấy, Hà Nội) rơi vào trạng thái chán nản vì vợ anh bị ốm đau thường xuyên, trong khi đó anh đang tuổi hồi xuân. Hoàn cảnh đời sống vợ chồng lệch pha nhau, anh đã phải tìm kiếm trên mạng và xin tư vấn ở nhiều nơi.

Cuối cùng, anh đã tìm vị “cứu tinh” cho hạnh phúc lứa đôi của vợ chồng anh chính là những đồ chơi dành cho người lớn.

Con cái đi học xa nhà nên vợ chồng anh P. đành chấp nhận có thêm thành viên thứ 3 trong gia đình là con búp bê tình dục. Anh P. kể trước phải đặt hàng ở TP.HCM mới mua được. Bây giờ chỉ cần alô cái là họ mang đến tận nhà cho. Trong số những con búp bê anh đã dùng anh hài lòng nhất là con búp bê anh mang từ Nhật về.

Chị Bùi Thu H. (ngõ Gốc Đề, Hai Bà Trưng, Hà Nội) cũng đau đầu không kém khi chị vào thời kỳ mãn kinh sớm. Để giữ chồng, chị đã nhờ người mua bên nước ngoài một con búp bê vì sợ chồng đi tòm tem bên ngoài. Con búp bê có giá lên tới 93 triệu đồng.

Búp bê tình dục chung tình tuyệt đối!?

Một lần ngồi nhậu nhẹt với mấy người bạn, rượu vào lời ra mấy ông bạn khích nhau việc một vài ông bị vợ cho dùng đồ giả. Các bà đi nâng cấp vòng một bằng silicon, các ông trêu nhau về dùng búp bê bằng silicon còn thích hơn.

Những con búp bê tình dục này có giá lên đến 5.500 USD.

Thấy vậy, anh Chu Ngọc Th. (Nguyễn Ngọc Nại, Hà Nội) quyết định mua cho mình một con búp bê bằng silicon để trả thù việc vợ cho dùng đồ giả bây lâu nay.

Trớ trêu cho anh Th. , khi anh ôm con búp bê về nhà vợ anh lu loa lên đòi li hôn vì không chấp nhận được sự có mặt của “người thứ ba” trong nhà cũng như hành vi ngang nhiên lấy “vợ bé” của anh.

Vợ chồng anh Vũ Văn H. (ngõ 164, Vương Thừa Vũ, Hà Nội) vừa mới cưới nhau được vài năm nhưng hạnh phúc lứa đôi của hai vợ chồng không được như ý. Vợ anh là người thành đạt chỉ mải mê kiếm tiền mà quên mất nghĩa vụ của một người vợ. Qua bạn bè anh tìm đến đồ chơi sextoy.

Anh H. cho biết, phải dùng trộm khi vợ anh đi công tác xa. Anh rất coi trọng vấn đề vệ sinh nên việc lau chùi và tắm rửa cho những con búp bê bằng silicon này cũng khá chu đáo. Không chỉ vậy, anh H. còn thường xuyên tìm hiểu và xin tư vấn qua các diễn đàn dành cho đàn ông.

Một lần anh đang mây mưa với búp bê, bất ngờ vợ về và bắt gặp. Chị tuyên bố anh chỉ được chọn một trong hai: một người vợ kiếm tiền hoặc người tình là con búp bê kia.

Phải lòng nàng tiên silicon, anh Lại Thế V. (phường Cao Thắng, Hòn Gai, Quảng Ninh) thú thực với chúng tôi rằng đã trải qua 3 mối tình nhưng cuối cùng anh vẫn là kẻ cô đơn.

Một vài lần đi giao hàng ở cửa khẩu Tân Thanh, anh mua về cho mình hai nàng tiên “made in China” hẳn hoi để phục vụ cho riêng anh. Anh cười xoà và nói cái anh thích nhất ở những con búp bê này là cảm giác chung tình tuyệt đối.

Nhấp chuột, hàng đến tận nhà

Các cửa hàng bán những đồ độc kiểu này đều là ảo, không có địa chỉ cụ thể, hàng hoá không được bày bán công khai. Để mua, chỉ có cách duy nhất là đăng ký trên mạng, rồi liên lạc điện thoại với người bán.
Sau khi lang thang trên một số website rao vặt, chúng tôi bắt đầu thử thực hiện một thương vụ mua bán búp bê tình dục. Qua điện thoại, phía người bán tỏ ra thận trọng, từ chối đề nghị xem hàng trực tiếp tại cửa hàng. Người bán chỉ khẳng định, nếu người mua ở trong nội thành Hà Nội, sẽ có người giao hàng về tận nhà.
Tất cả đều giao dịch qua mạng, nếu đồng ý mua, cứ xem kỹ hàng, nhấp chuột vào đặt hàng và gửi tiền vào tài khoản, đảm bảo hàng sẽ đến nhanh chóng – một người bán hàng có số điện thoại liên hệ là 0983 288 2XX trả lời.

Theo địa chỉ trên một trang web khác, sau khi chúng tôi liên hệ và ngỏ ý muốn mua hàng cho một đại gia ở Quảng Ninh, người bán hàng đã tư vấn khá kỹ. Anh này cho biết, giá cả búp bê tình dục rất đa dạng. Từ 10 triệu đồng trở xuống thì trong kho lúc nào cũng còn hàng, nếu muốn mua hàng xịn giá từ 15 triệu đồng trở lên, phải đặt cọc trước 20%, sau một tuần sẽ có hàng. Muốn xem hàng, anh sẽ mang đến tận nhà.

Đảm bảo xịn hơn người thật!

Đúng hẹn, người bán hàng tên H. mang 3 con búp bê tình dục có giá bình dân từ 1,3 đến 1,8 triệu đồng, cùng những mẫu ảnh của loại búp bê cao cấp đến. Rất thành thạo, anh H. tư vấn tỉ mỉ công dụng của từng con búp bê, về chức năng sử dụng từng bộ phận.

H. không tiếc lời quảng cáo hàng của mình: “Nhiều sản phẩm còn… hơn cả người thật, da nhẵn mịn không sứt mẻ, các vòng cân đối, bốc lửa.

Mỗi con búp bê tình dục hoạt động nhờ một hộp pin và một lọ gel bôi trơn. Những loại cao cấp hơn có thể hoạt động bằng điện. Giá càng cao, chất lượng càng tốt. Giá thấp chất liệu chủ yếu là cao su. Một số loại tốt làm bằng silicon, mức độ chất lượng theo giá tiền.

Công ty của H. có trụ sở tại Hà Đông, Hà Nội nhưng chỉ hoạt động qua mạng. Gọi là công ty cho oai, chứ không có giấy phép kinh doanh. H cho biết, mỗi ngày, công ty tiêu thụ được từ 3 – 5 con búp bê loại từ 3 – 5 triệu đồng. Gần đây, không ít người xem búp bê tình dục như món quà để tặng nhau nên có lúc, công ty của H. đã cháy hàng.

Cứ theo lời của H. thì công ty là nhà cung cấp sản phẩm độc quyền và duy nhất cho các đại lý nhỏ trong cả nước(?). Toàn bộ sản phảm đều xuất xứ từ Trung Quốc. Ngoài búp bê tình dục, anh còn cung cấp các đồ vật trợ giúp phòng the khác. H. tranh thủ giới thiệu luôn một list sản phẩm sextoy khác với đủ loại kích cỡ, kèm theo hướng dẫn sử dụng, giá cả cũng không hề mềm chút nào, thấp nhất là 500 nghìn đồng.

Sau một hồi nghe H. tư vấn, chúng tôi tìm cách từ chối khéo, lấy cớ rằng người dùng hàng kén lắm, chỉ dùng hàng đắt tiền của Nhật. H. vẫn vui vẻ mang hàng về, không quên nói: Em cứ bảo ông ấy xem trên web công ty rồi liên hệ lại. Thích loại xịn nhất bọn anh cũng kiếm được.

Khó xử lý vì quy định chung chung

Theo ông Nguyễn Trường Sơn – Đội phó Đội Quản lý thị trường số 2 – Chi cục quản lý thị trường Hà Nội, trong đợt truy quét hàng lậu tháng 10/2009, đội có thu giữ một khối lượng hàng hoá kích dục tại khu vực Hàng Chiếu Hà Nội. Sau đó, số hàng này đều bị tiêu huỷ.

Việc bắt giữ đồ chơi tình dục là rất khó, vì trong các văn bản quy định đều không nói rõ cụ thể các đồ chơi bị cấm mà chỉ nói chung chung: Một số đồ chơi trẻ em có hại tới giáo dục nhân cách, sức khỏe của trẻ em hoặc tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội (Nghị định số 11/1999/NĐ-CP).

Với đồ chơi tình dục trôi nổi trên thị trường, theo ông Sơn để kiểm soát và tiếp cận còn gặp nhiều khó khăn do người buôn bán có nhiều cách đối phó.

Cũng có ý kiến tương tự, ông Nguyễn Huy Cương, Trưởng phòng Tổ chức hành chính – Chi cục quản lý thị trường Hà Nội, cho biết: Mọi hàng hoá nhập khẩu không trong danh mục hàng hoá cấm nhập khẩu nhưng không có nguồn gốc xuất xứ và hoá đơn chứng từ đều bị tịch thu.

Tất cả các biện pháp xử lý vi phạm đều theo Nghị định số 06/2008/NĐ-CP /2008 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực thương mại. Nhưng cái khó của cơ quan chức năng trong việc xử lý đồ chơi tình dục là quy định về vấn đề này chưa rõ ràng.

Nguồn: http://www.vietnamnet.vn/xahoi/200912/Chi-gan-100-trieu-dong-de-chong-quan-he-voi-bup-be-885234/

Mấy tư vấn hữu ích khi mua máy ảnh số

Máy ảnh sử dụng phim truyền thống đã dần nhường chỗ cho máy ảnh số. Máy ảnh số
đem lại hình ảnh chất lượng ngày càng cao mà lại không sử dụng phim, cho phép
kết nối với PC, laptop… dễ dàng và in ảnh chất lượng cao không thua kém máy ảnh
truyền thống. Máy ảnh kĩ thuật số ngày càng tốt hơn, độ phân giải cao hơn, chức
năng nhiều hơn và công nghệ chụp hình thì đơn giản hơn.

Đối với nhiều người, con số Megpixel vẫn là mục tiêu lựa chọn số 1 khi mua máy
ảnh số. Bởi nhiều lý do thì độ phân giải cao vẫn là yếu tố chính ảnh hưởng tới
chất lượng máy ảnh số, nhưng con số đó cũng mang nhiều yếu tố quảng cáo. Mặc dù
máy ảnh số cần phải có độ phân giải cao để đem lại chất lượng hình ảnh tốt nhất,
nhưng các các yếu tố khác cũng quan trọng không kém. Chẳng hạn: Chiếc máy ảnh
tuyệt vời cần thời gian đáp ứng ngắn hơn để có thể chộp được những pha hành động
nhanh, hoặc phải gọn nhẹ khi mang theo, thời gian dùng pin….
Vì vậy, để có được chiếc máy ảnh số ưng ý thì bạn cần phải chú ý tới những tính
năng:
Độ phân giải

Nếu bạn chỉ cần chụp hình để gửi cho bạn bè qua email hoặc các đem in ảnh với
kích thước nhỏ thì máy ảnh với độ phân giải nào cũng đạt được. Tuy nhiên, máy
ảnh có độ phân giải cao sẽ có nhiều lựa chọn hơn, bạn có thể in ảnh sắc nét hơn
hoặc cắt cúp những vùng ảnh mà mình thích nhất. Một máy ảnh số 2 Megapixel cho
thể cho ảnh độ phân giải 1600x 1200 pixel,cho chất lượng ảnh đẹp nhất khi in cỡ
5×7; máy ảnh 3 Megapixel có thể cho ảnh ở độ phân giải 2048 x 1536 pixel, in đẹp
nhất ở cỡ 8×10….Những máy ảnh có độ phân giải cao hơn thường cho kết quả tốt
hơn nhưng chất lượng ảnh đẹp cũng còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khác.

Kích thước, trọng lượng và thiết kế

Đối với một số người sử dụng, máy ảnh có trọng lượng bao nhiêu, và kiểu dáng
thiết kế, có để vừa vào trong túi hay không… là yếu tố quan trọng hơn cả độ phân
giải. Thường máy ảnh có nhiều chức năng hơn sẽ có kích thước lớn hơn và cũng
thường đắt tiền hơn. Một điều đáng lưu ý là máy ảnh có kích thước nhỏ thường các
nút bấm cũng nhỏ, nên thao tác sẽ khó khăn. Do đó, nên chọn máy ảnh có phù hợp
với mình và các nút bấm đừng quá nhỏ, các thao tác khác cũng phải dễ dàng thực
hiện.

Ống kính Zoom quang học (Optical Zoom lens)

Các máy ảnh số rẻ tiền thường không có ống kính zoom quang học. Nếu được phép
lựa chọn giữa máy ảnh có ống kính zoom quang học và máy ảnh có độ phân giải cao
thì chắc chắn máy ảnh số có zoom quang học sẽ được chọn. Tại sao lại chọn máy
ảnh có ống kính zoom quang học ? Rất đơn giản, bởi ống kính zoom quang học cho
phóng to đối tượng mà không làm vỡ hình, hơn nữa bạn có thể sử dụng phần mềm để
lấy phần ảnh mà mình mong muốn dễ dàng. Hiện nay, một số máy ảnh số cao cấp có
khả năng zoom lên tới 10X. Những máy ảnh này thật sự sẽ đem lại hình ảnh tuyệt
diệu khi chụp ảnh phong cảnh, các hoạt động thể thao… nhưng để đạt chất lượng
tối ưu thì bạn cần phải khá nhanh tay và phải có giá đỡ máy để tránh ảnh bị nhoè
do phóng hình ảnh quá lớn.
Cần phải rất lưu ý với khả năng zoom, nhiều hãng sản xuất thường kết hợp zoom
quang và zoom số (digital zoom). Zoom quang đem lại khả năng phóng to mà vẫn
không bị vỡ hình và sắc nét hơn, còn zoom số sử dụng phần mềm để nội suy các
điểm ảnh. Vì vậy, khi phóng ảnh bằng zoom số cho chất lượng không được sắc nét
và đẹp như zoom quang.
Chỉnh tiêu cự bằng tay
Trong một số tình huống thì máy ảnh không thể tự động giữ tiêu điểm thật tốt,
lúc này khả năng chỉnh tiêu điểm bằng tay luôn là lựa chọn tốt. Tất nhiên, không
phải máy ảnh nào cũng hỗ trợ tính năng này, một số máy ảnh cấp thấp thường không
có khả năng này, hoặc chỉ cho phép lựa chọn một số mẫu có sẵn. Máy ảnh số cao
cấp mới có tính chỉnh tiêu điểm hoàn toàn bằng tay.
Khả năng lưu trữ
Với một ảnh độ phân giải cao 2 Megapixel, thì một thẻ nhớ 8 MB chỉ lưu trữ được
8 tới 10 ảnh. Vì vậy, bộ nhớ cho máy ảnh số thực sự rất quan trọng. Máy ảnh số
thường có bộ nhớ trong nhưng khá nhỏ nên bạn cần chú ý tới sự hỗ trợ các thẻ nhớ
cắm thêm. Các loại thẻ nhớ rất đa dạng từ CompactFlash, Secure Digital Cards,
cho đến SmartMedia…và chúng cũng có giá khác nhau tuỳ thuộc vào dung lượng. Phổ
biến thẻ nhớ có dung lượng 64 MB có giá 35 USD và thẻ nhớ 128 MB có giá 50 USD.
Trước đây, Sony cũng đưa ra khả năng lưu trữ ảnh chụp trên đĩa mềm và đĩa CD-R,
tuy nhiên chúng không thành công vì tốc độ chậm hoặc không hữu dụng.

Pin
Đang dự định chụp một bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp thì máy lại hết pin! Do đó,
nên lựa chọn các loại pin phù hợp và an toàn với máy và có thời gian sử dụng lâu
là cần thiết. Máy ảnh số sử dụng một số loại pin như: pin alkaline không thể
sạc, pin nickel có khả năng sạc điện, loại pin CRV3s có thời gian dùng pin dài
hơn và cũng đắt hơn… Loại pin nickel có thể sạc lại được là loại pin nên lựa
chọn vì sự hiệu quả và giá cả cũng không quá đắt.

Quay video và âm thanh
Rất nhiều máy ảnh có thể kiêm luôn khả năng quay video. Đây là lựa chọn hấp dẫn
vì bạn không có máy quay video và bạn muốn tích hợp mọi tính năng trong một?
Điều này là không thể. Bởi chức năng chính của máy ảnh số là để chụp ảnh nên khả
năng quay video và hỗ trợ âm thanh của máy ảnh số sẽ không thể đạt chất lượng
“đỉnh cao” như máy quay chuyên dụng được.

Thiết lập lấy ánh sáng
Hầu hết các máy ảnh số đều có chế độ lấy sáng tự động- chỉ cấn nhấn nút là có
luôn ảnh chụp. Trong một số trường hợp thì lấy sáng tự động không đạt được hiệu
ứng hình ảnh mong muốn. Tuy nhiên, khả năng này chỉ có ở một số máy ảnh cao cấp.
Một số máy ảnh cao cấp có khả năng điều chỉnh lấy ánh sáng hoàn toàn bằng tay,
bạn có thể điều chỉnh độ mở của ống kính và cửa sập (shutter) sẽ được mở trong
bao lâu, tiếp đó máy ảnh sẽ quản lý tự động các thông số khác để có được độ sáng
phù hợp nhất.

Menu
Để đánh giá các máy ảnh, hãy cân nhắc tới những lựa chọn nhanh tới các thiết lập
thông dụng như độ phân giải, chế độ macro, và điều chỉnh độ sáng… và khả năng
xem lại các ảnh vừa chụp được nhanh chóng. Quá nhiều nút bấm, bạn sẽ mất nhiều
thời gian để biết được nút bấm này sẽ làm gì. Quá nhiều menu, bạn sẽ tốn công
“chạy qua chạy lại” giữa các menu. Vì vậy, hãy lựa chọn máy ảnh số có các nút
bấm và menu đơn giản, vẫn đem lại hiệu quả cao mà truy cập lại nhanh chóng.

Cân bằng trắng:
Đa số các máy ảnh số đều có khả năng cân bằng trắng nhờ các thiết lập đã được
thiết lập sẵn. Cân bằng trắng cho phép máy ảnh biết được phần tử nào có màu
trắng và phần tử nào có màu đen và phân biệt tốt hơn giữa các đối tượng. Là một
người cầu kì về màu sắc, muốn có chất lượng màu trông “thật như cuộc sống”, bạn
hãy tìm kiếm máy ảnh có khả năng cân bằng trắng và chỉnh màu sắc bằng tay.

Màn hình LCD:
Thường thì các máy ảnh số cao cấp mới có thêm màn hình LCD. Màn hình LCD cần
thiết để xem và đánh giá các hình vừa chụp được. Một màn hình LCD là cần thiết
khi bạn muốn biết hình vừa chụp đạt kết quả chất lượng ra sao, và bạn có thể dựa
vào đó để bạn chọn độ sáng hợp lý hơn. Chất lượng LCD còn tuỳ thuộc vào các hãng
sản xuất: Rất nhiều màn hình bị mờ khi gặp ánh nắng mặt trời, hoặc hình ảnh có
thể bị thay đổi khi máy ảnh hơi bị nghiêng đi một chút… Nếu có thể, bạn hãy thử
ở sử dụng ngoài trời trước khi mua.

Giá cả:

Tính năngCấp thấp (50 USD-200 USD)Khuyên dùng (200 USD-500 USD)Cao cấp
(500 USD hoặc cao hơn)
Thời gian dùng pin Số lần chụp ít hơn 200 lầnTừ 200 đến 400 lần chụpNhiều
hơn 400 lần chụp
Hãy cân nhắc kĩ:Máy ảnh số thường tiêu tốn nhiều năng lượng, nên pin hết
rất nhanh. Đặc biệt là các loại pin alkaline, chúng có thể rất đắt tiền mà
chẳng làm được gì. Thời gian dùng pin và giá cả thường chẳng có liên hệ gì
với nhau. Một số máy ảnh rẻ tiền nhưng có thời gian sử dụng pin dài, và
một số đắt tiền hơn thì có khả năng sạc pin nhanh hơn… Do đó, tốt nhất hãy
mua dự phòng pin nếu có đủ khả năng tài chính.

Độ phân giải (Megapixels):
2 megapixels hoặc thấp hơn, từ 3 đến 4 megapixels.Từ 4 đến 6 megapixels hoặc cao hơn
Hãy cân nhắc kĩ: Đây là yếu tố chỉ ra khả năng thể hiện chi tiết mà máy
ảnh có thể chụp được. Độ phân giải cao hơn, có nghĩa là là bạn có thể in
ảnh lớn hơn với chất lượng cao hơn.

Điều chỉnh thiết lập lấy sáng:
Không có (Hoặc tự động hoàn toàn)Một số thiết
lập có sẵn. Có khả năng chỉnh độ mở và định thời cửa sập và có thể điều
chỉnh hoàn toàn bằng tay.
Hãy cân nhắc kĩ:Những khả năng điều chỉnh này thực sự quan trọng đối với
nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp, còn đối với người sử dụng thông thường thì
một số chế độ có sẵn cũng hoàn toàn đáp ứng tốt.

Khả năng zoom:
Không có zoom hoặc chỉ là zoom số (digital zoom)Zoom quang 2X
tới 3XZoom quang 4X hoặc cao hơn
Hãy cân nhắc kĩ: Máy ảnh có khả năng zoom sẽ cho ảnh chụp có độ chi tiết
cao hơn. Khả năng zoom quang đem lại chất lượng tốt hơn hẳn zoom số.
Chỉnh tiêu cựKhông cóChỉnh tiêu cự với vài lựa chọn có sẵnCó
Hãy cân nhắc kĩ: Tự điều chỉnh tiêu cự rất tốt trong một số trường hợp, có
thể đem lại độ chính xác cao hơn. Đối với các máy ảnh cao cấp, cho phép
chỉnh tiêu cự hoàn toàn bằng tay

Khả năng lưu trữ: 32MB hoặc ít hơnTừ 32MB đến 128MB256MB hoặc nhiều hơn
Hãy cân nhắc kĩ: Bao nhiêu ảnh bạn có thể lưu trữ được là phụ thuộc vào bộ
của máy ảnh và thẻ nhớ kèm theo. Hiện nay, các thẻ nhớ không còn là hàng
hiếm và giá cả cũng đã dễ chịu hơn. Hãy bổ xung thêm thẻ nhớ có dung lượng
lớn nếu có thể.

Bạn đang rất muốn mua một máy ảnh số. Dưới đây là những lời khuyên dành cho bạn:
Hãy mua máy ảnh có độ phân giải phù hợp với bạn: Với những máy ảnh 2 Megapixel
thì có lẽ không phải là lựa chọn hoàn hảo. Nếu mục đích của bạn là in ấn hoặc
trao đổi bức hình với bạn bè thì những máy ảnh từ 3 Megapixel trở lên là sự
lựa chọn sáng suốt. Với người sử dụng cần chất lượng ảnh cao hơn thì từ 4
Megapixel – tới 7 Megapixel cũng không phải là quá khó khăn. Nếu là một chuyên
gia, một tay săn ảnh chuyên nghiệp thì máy ảnh từ 7 Megapixel trở lên cũng
không phải là quá đáng. Hiện nay, máy ảnh có độ phân giải cực cao lên tới 12
Megapixel và cao hơn cũng đã xuất hiện.

Hãy tìm kiếm loại pin có thể sạc lại và bộ sạc: Về lâu về dài, giá của loại
pin chỉ dùng một lần có thể sẽ tốn kém hơn. Các loại pin có thể sạc tuy đắt
hơn đôi chút nhưng lại có thể sạc lại. Nhớ là hãy mang theo cả bộ sạc nhé và
sạc lại pin bất cứ khi nào có thể.

Hãy cố gắng mua máy ảnh số có zoom quang đạt tối thiểu 2X: Hầu hết các máy ảnh
số đều có zoom số, nhưng chất lượng zoom số không thể bằng được zoom quang. Vì
vậy, hãy cố gắng đầu tư thêm một chút tiền để có khả năng zoom quang, tối
thiểu cũng là 2X.

Hãy tìm kiếm khả năng hỗ trợ lấy sáng: Một số máy ảnh có thể lấy thêm ánh sáng
từ các đèn flash bên ngoài. Tính năng này rất hữu ích trong trường hợp bạn
chụp hình trong nhà.

Hãy mua những máy ảnh có khả năng lưu trữ ngoài: Hầu hết các máy ảnh số đều có
bộ nhớ trong, nhưng với thẻ nhớ bạn có thể mở rộng khả năng lưu trữ cũng như
trao đổi dữ liệu, hình ảnh dễ dàng hơn.

Ưu tiên màn hình LCD: Màn hình cho phép bạn đánh giá chất lượng hình vừa chụp,
có thể xoá đi các hình ảnh không vừa ý, chất lượng thấp.
Hãy loại bỏ những máy ảnh số hỗ trợ đĩa mềm hoặc đĩa CD: Những lựa chọn đĩa
mềm và CD thì tương đối rẻ tiền, nhưng chúng có thể sẽ làm cho kích cỡ của máy
ảnh to hơn mà tốc độ đọc thì chậm chạp.

Hãy thử trước khi mua: Một số máy ảnh số có các nút bấm và các menu dễ dàng,
đơn giản hơn các máy ảnh khác. Chỉ khi sử dụng thử bạn mới thấy được sự tiện
lợi. Hãy chụp thử vài hình ảnh, dùng các menu xem chúng có thực sự đơn giản và
dễ sử dụng không? Hãy xem ống kính zoom quang có chuyển động nhanh và trơn khu
không? Thời gian chụp giữa bức ảnh là bao nhiêu? Màn hình LCD có bị mờ khi gặp
ánh nắng mặt trời không?…

Hãy cân nhắc máy ảnh có kèm thêm các phần mềm chỉnh sửa ảnh: Hãy tìm kiếm máy
ảnh có đi kèm các phần mềm như Adobe Photoshop Elements hoặc Ulead PhotoImpact.

Đừng nhất thiết tìm kiếm máy ảnh số có khả năng quay video: Mặc dù, khả năng quay video
của máy ảnh số thường được hỗ trợ tốt, nhưng khả năng quay video thường có
chất lượng âm thanh và hình ảnh không được sắc nét và âm thanh cũng không hoàn
hảo. Bởi vậy, yếu tố quay video không nên đặt vào tiêu chí khi lựa chọn máy
ảnh số.Tuy nhiên nếu chỉ để quay kỷ niệm sự kiện bình thường thì dùng kiêm cũng tiện.
Hãy cân nhắc mua thêm đầu đọc thẻ nhớ: Đầu đọc thẻ nhớ có thể coi như là một ổ
đĩa gắn ngoài cho máy PC và laptop. Người sử dụng có thể lấy trực tiếp hình
ảnh từ các thẻ nhớ nhanh chóng. Không cần sử dụng máy ảnh số để truyền các ảnh
đã chụp, nên sẽ tiết kiệm được thời gian và cả pin của máy ảnh nữa.

Minh Phúc (theo PCWorld)

HỘI CHỨNG NHIỆM KỲ

Theo VietnamNet
Không ít người suy nghĩ và hành động rất thực dụng. Nếu có thể tiếp tục làm khóa tới hoặc có thể “lên” thì thu mình cho tròn, tránh mọi va chạm để dễ được bầu, cử lại; nếu là nhiệm kỳ thứ hai hoặc sắp về hưu thì tập trung lo thu vén cá nhân: nhận nhà, xin đất, sắp xếp công việc cho người thân, phe cánh.

Nhiệm kỳ là thời hạn giữ chức vụ. Thời hạn đó thường được định ra trước trong các văn bản chính thức. Chắc người đầu tiên dùng nhóm từ “tư duy nhiệm kỳ” cũng không nghĩ rằng ngày nay nó được dùng phổ biến như vậy, dù nội dung chưa được minh định rõ ràng. Có người gọi “tư duy nhiệm kỳ” là “tranh thủ nhiệm kỳ công tác của mình để xoay xở, trục lợi”. Có lẽ nên gọi những hành vi đó là chụp giật, tranh thủ vơ vét lúc đương chức thì đúng hơn.

Trong thực tế, chế độ nhiệm kỳ ảnh hưởng khá mạnh đến hoạt động của một số tổ chức, cơ quan, cá nhân được bầu hoặc được cử theo nhiệm kỳ. Tạm gọi đó là “hội chứng nhiệm kỳ” để nghiên cứu, khảo sát.

Né tránh, đùn đẩy

Thời hạn một nhiệm kỳ của đa số tổ chức được bầu ra ở nước ta như Quốc hội/ hội đồng nhân dân/ cấp ủy đảng là 5 năm. Thời hạn đó xem như “cứng” vì chỉ 5 năm mới tổ chức bầu cử/ đại hội đảng để bầu ra các cơ quan đó một lần.

Các chức danh do các cơ quan nói trên bầu ra như chủ tịch hội đồng, chủ tịch ủy ban, bí thư cấp ủy… thường cũng hưởng thời hạn nhiệm kỳ theo các cơ quan bầu ra họ, tuy điều này không hoàn toàn đúng. Trên nguyên tắc thì cơ quan bầu ra có thể “cắt” nhiệm kỳ của người đã được bầu bằng cách bầu người khác thay thế khi cần, trong phiên họp của cơ quan đó.

Khi được bầu ra, mỗi cá nhân và tổ chức thường có những ý tưởng, chương trình, kế hoạch, những lời hứa hẹn cải thiện mọi mặt công việc thuộc phạm vi trách nhiệm và cố gắng tìm cách hoàn thành những điều đó trong nhiệm kỳ. Đó là điều cần có và rất nên hoan nghênh, khuyến khích.

Hội chứng nhiệm kỳ là những mặt tiêu cực trong tư duy và hành vi của tổ chức và người đứng đầu, bị tác động bởi tính chất thời hạn của nhiệm kỳ.

Hội chứng nhiệm kỳ thường có một số biểu hiện:

Thay đổi nề nếp công việc đã hình thành đang hoạt động tốt, kèm theo đó là việc sắp xếp nhân sự. Thay đổi thường làm rối việc vì không xuất phát từ yêu cầu khách quan mà do người mới chủ quan, thiếu hiểu biết, phiến diện, có dụng ý riêng. Hội chứng này lặp lại qua các khóa, các đời thủ trưởng khiến nề nếp công việc, các mối quan hệ công tác không định hình, rất khó tiến bộ.

Thích làm các việc “hoành tráng”, có tiếng, để ghi dấu ấn của cá nhân mình, khóa mình. Những việc đó thường là việc bề nổi, dễ làm, ngon ăn, nhưng không cơ bản. Để làm, họ bất chấp những điều kiện khách quan, những lãng phí gây ra do phải bỏ dở việc khóa trước để lại, bất chấp những lời can ngăn.

Tìm cách né tránh, trì hoãn những nhiệm vụ cơ bản nhưng thầm lặng, hoặc khó khăn, cần nhiều tâm lực, thời gian. Đùn đẩy trách nhiệm kết luận và xử lý những vấn đề gai góc nảy sinh trong nhiệm kỳ, vin cớ”chuyện thuộc nhiệm kỳ trước” để đẩy trách nhiệm cho khóa trước, người trước, hoặc vin cớ “chưa chín mùi” để “gói” lại, “chuyển giao” cho khóa sau. Nếu khóa sau cũng lặp lại cách làm này thì việc giải quyết vấn đề bị đẩy lùi vô thời hạn.

Đề bạt “đầu sai”

Những người mắc hội chứng nhiệm kỳ không lo công tác tổ chức cán bộ tầm dài, chỉ chăm chăm làm những việc sắp xếp nhân sự vừa được tiếng, vừa có lợi như đề bạt, sắp xếp người cùng cánh vế, những”đầu sai” được việc trước mắt vào bộ máy,”cài cắm” vào khóa sau; gạt ra hoặc vô hiệu hóa những người có đức, tài nhưng có ý kiến khác.

Không thực lòng tiếp thu kinh nghiệm, đánh giá đúng công lao, đóng góp của khóa trước, người đi trước. Có khuynh hướng lái mọi đánh giá, tổng kết công việc của khóa mình theo hướng ưu điểm nhiều hơn, khuyết điểm ít hơn so với thực tế. Có thành tích thì nhấn mạnh vai trò lãnh đạo, có khuyết điểm không thể phủ nhận thì nhấn mạnh nguyên nhân khách quan.

Hội chứng nhiệm kỳ của tổ chức thường là do người đứng đầu chi phối, thể hiện hội chứng nhiệm kỳ của người đứng đầu, phụ thuộc khá rõ vào đạo đức, bản lĩnh, cá tính, văn hóa của họ. Nó cũng phụ thuộc nhiều vào đặc điểm “nhân thân” đứng đầu: là người trưởng thành tại chỗ hay được điều động từ nơi khác, khóa đầu hay khóa thứ hai, tới đây sẽ “lên” hay “sang ngang” hay về hưu.

Không ít người suy nghĩ và hành động rất thực dụng. Nếu có thể tiếp tục làm khóa tới hoặc có thể “lên” thì thu mình cho tròn, tránh mọi va chạm để dễ được bầu, cử lại; nếu là nhiệm kỳ thứ hai hoặc sắp về hưu thì tập trung lo thu vén cá nhân: nhận nhà, xin đất, sắp xếp công việc cho người thân, phe cánh; một số hối hả ra các quyết định về dự án, về nhân sự… bất chấp thủ tục, để lại hậu quả phức tạp về sau.

Đảng lãnh đạo trước hết bằng cách đề ra và tổ chức thực hiện cương lĩnh, đường lối và công tác tổ chức cán bộ. Đó là những nhiệm vụ chiến lược đòi hỏi tầm nhìn và hành động kiên trì, nhất quán, không thể hoàn thành ngay trong một khóa qua các khóa, tại các cấp, đòi hỏi thực hiện những việc căn cơ, phức tạp, phải dám đương đầu với những trở ngại. Hội chứng nhiệm kỳ rõ ràng trái với những yêu cầu này.

Đây chính là một nguyên nhân khiến một số nội dung quan trọng của cương lĩnh và chiến lược thực hiện chậm chạp, thậm chí bị bỏ qua.

Hội chứng nhiệm kỳ càng có khuynh hướng nặng hơn nếu các nghị quyết chỉ mới đề cập được những vấn đề chung về nguyên tắc; nếu các mối quan hệ trên – dưới, mối quan hệ giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp còn nhiều điểm chưa rõ; nếu việc kiểm tra, giám sát không được cải thiện; nếu việc đánh giá và sử dụng cán bộ lãnh đạo vẫn chưa sát, đúng, còn bị nhiễu vì những cố gắng bề nổi để”tự thể hiện” của cán bộ, nhẹ xem xét thực chất.

Bùi Đức Lại

Về thăm quê ngày đầu năm Dương lịch 2010

Kính viếng mộ tổ tiên

Tiệc vui

5 anh chị em và mẹ già

Nhóm nhà bác cả chụp chung tại nhà ông bà nội

Đại gia đình lưu ảnh kỷ niệm

Chú em vội về đón khách

Trong phòng khách nhà cha mẹ, tôi giới thiệu bà con tới thăm cho cháu rể vừa ở Sài Gòn ra chơi dịp tết Dương lịch 2010

Vì sao các chính sách công nghiệp thất bại?

Điểm ảo song song - hình chỉ có tính trang trí


Vì sao các chính sách công nghiệp thất bại
FR: Lao Động Cuối tuần

Tư duy cũ ký khiến các chính sách công nghiệp khó có thể thành công.
(LĐCT) – Có thể nói chính sách công nghiệp điện tử, chính sách công nghiệp ôtô của Việt Nam đã hoàn toàn thất bại. Có rất nhiều nguyên nhân nhưng bài này chỉ tập trung vào một nguyên nhân quan trọng (theo tôi, có lẽ là quan trọng nhất) là tư duy cũ kỹ của những người soạn thảo và thông qua chính sách công nghiệp.
Tình cờ, tôi biết khá rõ mấy vị này trong ngành điện tử và cũng quen vài người trong ngành ôtô.

Thực sự chúng ta có quá nhiều “kế hoạch tổng thể”, “đề án”, “chính sách”, “tầm nhìn đến…”, may thay đa số đã “được xếp xó” nên chỉ gây tác hại nhỏ (tốn tiền và công sức xây dựng, để lại dấu ấn trong đầu những người soạn thảo nếu họ vẫn tại vị, v.v…). Có một số chính sách công nghiệp hay kế hoạch tổng thể đã vượt qua được giai đoạn “khó khăn ban đầu” và “đã được chấp nhận” với sự hỗ trợ về thuế, vốn vay, v.v…, hay đầu tư trực tiếp của Nhà nước, song đã mang lại kết quả không như mong muốn.

Phải nói ngay rất nhiều nước cũng có các chính sách công nghiệp thất bại. Nhật Bản và Hàn Quốc đã có những chính sách công nghiệp khá thành công nhưng nhiều nước đang phát triển thì không. Rất nhiều nước chẳng hề có chính sách công nghiệp thành văn.

Sự phát triển công nghiệp chủ yếu là chuyện của các doanh nghiệp, bằng chính sách của mình nhà nước có thể tạo điều kiện thêm để cho ngành nào đó đi theo hướng mà nhà nước muốn. Nói như thế, có nghĩa là vai trò của nhà nước có thể không phải là quyết định và có thể có nhiều hệ quả (cả hại hay lợi) không lường trước.

Chính sách công nghiệp hợp với thời cuộc, hợp với thị trường, hợp với lợi ích của các doanh nghiệp thì cơ hội thành công cao, còn nếu ngược lại thì chắc chắn thất bại. Đáng tiếc, các chính sách công nghiệp của ta không hoàn toàn như vậy, còn quá tham vọng, còn quá thiên về phản ánh những mong mỏi chủ quan của các nhà làm chính sách và có thể còn bị “các nhóm lợi ích” tác động mạnh.

Đã có một sự thay đổi vô cùng to lớn trong sản xuất công nghiệp thời toàn cầu hoá: sự xuất hiện các chuỗi cung ứng to lớn, phức tạp của các nhà sản xuất. Trong sản xuất lớn, hàng loạt không nhà sản xuất nào đi làm từ A tới Z cả. Để sản xuất ra một máy tính cần hàng trăm nhà cung cấp các bộ phận, để sản xuất một chiếc ôtô có khi cần hàng ngàn nhà cung cấp khác nhau.

Dẫu sản xuất một bộ phận, cũng phải lẻn được vào chuỗi cung toàn cầu và cung cấp cho thị trường toàn thế giới, hay chí ít thị trường khu vực hay thị trường trong nước nếu nó đủ lớn. Thí dụ, thị trường ôtô Việt Nam, nếu tính với gần 100 triệu người, thì có tiềm năng lớn, nhưng so với sức mua của dân chúng thì vẫn là thị trường nhỏ.

Chính vì vậy đòi hỏi “nội địa hoá” 30-40% là khó khả thi. Lẽ ra chính sách công nghiệp phải khuyến khích mạnh mẽ bất cứ ai sản xuất linh phụ kiện nào cũng được, miễn là len được vào chuỗi cung toàn cầu nào đó, thí dụ khuyến khích mạnh việc xuất khẩu. Còn các chính sách của ta lại có vẻ quá tham vọng, muốn làm từ linh kiện đến sản phẩm cuối cùng (như các chiến lược công nghiệp điện tử một thời) hay lại thiên về “thay thế nhập khẩu” (như công nghiệp ôtô) cho nên việc sản xuất chủ yếu phục vụ thị trường trong nước.

Giả như có một nhà sản xuất phụ kiện ôtô mà chỉ để phục vụ cho việc lắp ráp vài nghìn (hay vài chục nghìn) ôtô, thì hỏi liệu họ có sống nổi hay không? Ngược lại, thị trường xe máy Việt Nam lại đủ lớn để có thể yêu cầu tỉ lệ nội địa hoá cao nhưng dường như chưa có chính sách thúc đẩy việc đó. Đấy là một lý do vì sao công nghiệp phụ trợ ôtô của chúng ta ì ạch. Hãy xem Canon, Fujitsu, họ sản xuất chủ yếu cho xuất khẩu cho thị trường thế giới, hay cho bản thân chuỗi cung của họ.

Còn sản xuất ôtô ở Việt Nam có xuất được bao nhiêu? Do tư duy còn cũ, còn chưa hiểu tình hình đã thay đổi từ lâu nên hơi tham vọng, do học cách làm từ giữa thế kỷ trước của một vài nước nên chính sách công nghiệp không hợp thời, không hợp với doanh nghiệp và sự thất bại là không khó hiểu. Đáng tiếc những cảnh báo hay góp ý của các chuyên gia độc lập, thậm chí của các chuyên gia UNIDO, từ gần 20 năm trước về những điều tương tự đã không được lắng nghe.

Bộ Công thương đã trình Thủ tướng Chính phủ đề xuất dòng xe đa dụng 6-9 chỗ ngồi (dung tích động cơ nhỏ hơn 1,5l) được hưởng ưu đãi về thuế nhằm khuyến khích dòng xe này phát triển. Theo đó, thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ còn 30% (các xe khác là 45-60%). Phí trước bạ sẽ là 2%, thuế VAT 5% (xe khác là 10%)…

Theo tôi đề xuất như vậy cũng vẫn theo cách tư duy cũ và cũng rất có thể có sự tác động của “nhóm lợi ích” nào đó.

Với cách tư duy nói trên thì các chính sách công nghiệp khó có thể thành công.
Nguyễn Quang A

Không nên quá o bế trẻ em


fr: VNN
, – Muốn trẻ đạt những thành tựu lớn thì đôi khi bạn phải để chúng trải qua những thất bại nặng nề.

Phần 1: Phụ huynh hiện đại tước quyền vui chơi của trẻ?

Càng được bao bọc, càng lắm “bệnh”

Mọi nghiên cứu đều chỉ ra rằng, thời gian bọn trẻ chơi cùng nhau là nền tảng cơ bản hình thành và phát triển kỹ năng sống. Ảnh minh họa

Hiện nay, nhiều trẻ không được thoải mái vui chơi, chạy nhảy, mà chỉ loanh quanh trong bốn bức tường hay ngồi lì một chỗ, “dán” mắt vào ti vi, máy tính. Hậu quả nhãn tiền của việc này chính là bệnh béo phì, cận thị đang ngày càng phổ biến đối với trẻ nhỏ.

Không những vậy, thế hệ những đứa trẻ được nâng niu, chiều chuộng thường trở nên đơn độc, lẻ loi, buồn phiền, rất dễ mắc bệnh trầm cảm, tự kỉ.

Điều đó khiến cảm xúc và tính xã hội của trẻ bị cằn cỗi, ảnh hưởng đến quá trình phát triển tâm sinh lý. Dần dần trẻ sẽ mất khả năng giao tiếp xã hội, không hòa đồng với những người khác.

Những đứa trẻ bị cô lập trong 4 bức tường, ít tiếp xúc thì khi ra ngoài xã hội đó rất dễ gây gổ, không có khả năng tự chủ, kìm chế được bản thân, nguy cơ phạm tội cao…

Vào năm 2007, một cuộc điều tra đã cho kết quả rất trớ trêu rằng: số trẻ phải nhập viện vì bị ngã từ trên giường xuống đất nhiều gấp 3 lần số trẻ bị ngã do trèo cây.

Rõ ràng, trẻ càng được bao bọc lúc nhỏ, thì khi lớn lên, chúng càng gặp khó khăn và thất bại khi phải đối mặt với những rắc rối, thử thách của cuộc sống.

Hiệu trưởng trường Independent Association of Preparatory Schools cho rằng: Nếu một đứa trẻ luôn được bố mẹ lái xe chở đi khắp nơi thì khi chúng tự đi bằng chính đôi chân của mình, chúng sẽ có nguy cơ bị ô tô cán nhiều hơn”.

Cũng giống như chuyện con tằm được cắt bỏ vỏ kén suốt đời chỉ bò luẩn quẩn mà không bao giờ trở thành con bướm để bay lên, những đứa trẻ được bố mẹ trang bị quá đầy đủ cũng khó để trưởng thành.

Khuyến khích mạo hiểm

Các chuyên gia tâm lý cho rằng, cha mẹ nên để cho trẻ được tham gia những trò chơi mang tính liều lĩnh, mạo hiểm một chút. Như vậy, trẻ sẽ có cơ hội được cọ xát, thử sức mình, nâng cao sức bền và tính kiên cường.

Hãy tập cho trẻ biết liều lĩnh, mạo hiểm. Ảnh minh họa

Những trò chơi mang tính vận động cao, có tính phiêu lưu cần được khuyến khích như: các môn thể thao dưới nước, đấm bốc, leo cây…

Trước kia, trẻ con thường hay rong chơi, khám phá những vùng rộng lớn và xa xôi quanh ngôi nhà của chúng bằng xe đạp. Ngày nay, phần lớn bọn trẻ chỉ chơi quanh quẩn ở trong nhà hoặc cùng lắm là ra ngoài sân, ngoài vườn. Do đó, rất nhiều HS hiện nay đang bị thiếu kiến thức thực tế, thiếu sự liều lĩnh, cũng như niềm đam mê khám phá cuộc sống và bản thân.

Việc cho trẻ được ra ngoài chơi cũng sẽ giúp các em nâng cao khả năng giao tiếp xã hội, hình thành kỹ năng xây dựng và củng cố các mối quan hệ bạn bè, cũng như việc giải quyết tranh chấp, xung đột.

Adrian Voce, Giám đốc phụ trách các khu vui chơi trẻ em Play England cho rằng nên để trẻ học đối mặt với rủi ro: “Nếu chẳng may một đứa trẻ bị sơ sẩy, xây xát, thì đó cũng không phải ngày tận thế của thế giới”.

Voce đã tổ chức hàng trăm sự kiện vui chơi dành cho trẻ. Đây còn là cơ hội để trẻ tự kiểm tra, thử thách khả năng của bản thân bằng cách tham gia các trò chơi có mức độ mạo hiểm khác nhau.

Andrea Quaintmere, người quản lý khu vui chơi Toffee Park Adventure Playground tại London kể lại: Tôi nhớ có một bé gái 9 tuổi tên là Kiara đã nói với tôi rằng: “Cháu rất thích leo cây. Nhưng mẹ lại nói là quá nguy hiểm. Mặc dù vậy bố vẫn ủng hộ cháu. Nếu chẳng may cháu có ngã và bị đau thì cháu cũng sẽ tự đứng dậy và mỉm cười”.

Còn Hiệu trưởng trường Independent Association of Preparatory Schools, ông David Hanson nói: “Nếu bạn muốn trẻ đạt những thành tựu lớn thì đôi khi bạn phải để chúng trải qua những thất bại nặng nề. Trẻ con không nên tin rằng cuộc sống của chúng luôn là màu hồng, luôn đạt được mọi thứ chúng muốn một cách dễ dãi. Khi thất bại, chúng cần phải biết đứng dậy và cố gắng lần nữa”.
Một buổi học có chủ đề “An toàn khi cần thiết, nhưng không phải càng an toàn càng tốt” đã được tổ chức tại Anh để giáo dục các bậc cha mẹ cách bảo vệ con.

Tháng 5 vừa qua, hội đồng thành phố đã quyết định phát động chiến dịch chống lại “Cotton-Wool Culture”, và quyết định đầu tư xây dựng và tu bổ lại hơn 3.500 sân chơi vào năm 2011. Tại các khu vui chơi mới này, nhiều trò chơi khám phá bị cho là mạo hiểm lại được khuyến khích như xây dựng các mạng lưới dây, nhà cây, các đường hầm, các đường đua xe đạp, lướt sóng…

Việc tăng cường tổ chức các hoạt động vui chơi ngoài trời này cũng nằm trong chiến dịch chống lại căn bệnh béo phì của trẻ nhỏ đang ngày càng phổ biến trong xã hội.

•Sinh Phạm

Dân trí và quan trí qua phiếm đàm của nhà thơ Trần Đăng Khoa

CHUYỆN PHIẾM BÊN BÀN TRÀ
TRẦN ĐĂNG KHOA

- Này, tôi hỏi thật nhé, công việc bề bộn thế, chú còn thời gian đọc sách báo không?
- Cụ hỏi vậy có nghĩa là thế nào?
- Chả là gần đây, tôi thấy báo chí, truyền hình người ta hay bàn đến việc nâng cao dân trí. Nhưng vấn đề quan trọng, tôi nghĩ chính là chuyện quan trí, chứ không phải dân trí đâu, chú ạ.

- Cụ nói thế nghĩa là…
- Là cán bộ có vấn đề chứ sao. Tôi thấy trình độ dân trí của ta bây giờ rất khá. Họ không ấu trĩ u mê như cán bộ ta lầm tưởng đâu. Bây giờ, chỉ ngồi nhà, kéo cái cần ăng-ten lên là họ đã nắm được toàn thế giới. Trong khi đó nhiều cán bộ của ta lại ấu trĩ, non kém không đủ khả năng đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của dân. Mà cán bộ mới là quan trọng. Vì họ mới thực sự ở vị thế tác động tới đời sống xã hội. Một người dân dốt nát, có quyết định sai lầm thì chỉ một mình anh ta, hay cùng lắm là vợ con anh ta phải gánh chịu hậu quả. Nhưng một cán bộ mà có những quyết sách sai lầm thì nguy lắm. Cán bộ càng cao thì tầm ảnh hưởng càng lớn. Có khi một làng, một xã, một huyện, một tỉnh, hoặc thậm chí là cả một dân tộc phải trả giá cho sự sai lầm của một người hoặc một nhóm người. Tôi nói vậy sao chú lại cười? Có lẽ chú nghĩ tôi là gái goá lo việc triều đình ư?

- Ô không không… Con đang nghe mà. Nghe chuyện cụ vui lắm…
- Thế mà chú còn vui được à? Cái chú này lạ thật. Chính chú mới là cái thằng vô trách nhiệm nhất. May mà chú không làm to. Tôi nói, chú bỏ ngoài tai, đừng trách ông lão nhà quê lẩn thẩn nhé. Tôi thấy cán bộ các chú bây giờ nhiều anh buồn cười lắm. Có anh nói rất hùng hồn mà người nghe vẫn chẳng hiểu anh ta nói gì cả. Bởi tư duy người nói đâu có được mạch lạc. Có anh lên truyền hình vẫn còn nói ngọng, cứ lẫn lộn giữa N với L. Nghe mà nản quá, chú ạ. Hôm vừa rồi, tôi dự buổi mít-tinh truy điệu đồng bào bị thiệt hại trong mấy trận lũ lụt. Có ông đọc điếu văn xong lại vỗ tay hoan hô. Ông ta vỗ trước, rồi mọi người ngơ ngác vỗ theo…

- Cái đó xin cụ thông cảm, có thể do thói quen mà hoá sơ suất…
- Làm cán bộ thì phải cẩn trọng ngay từ những cái nhỏ nhất chứ. Bởi anh ta đang đứng trước dân. Người dân sẽ trông vào anh ta mà tìm cách ứng xử cho mình. Với những anh cán bộ như thế thì đừng trách vì sao dân lại thiếu lòng tin vào những người lãnh đạo. Cũng đừng nghĩ là họ nhẹ dạ bị địch xúi giục mua chuộc. Chẳng có địch nào chui được vào đội ngũ nhân dân, những người suốt đời gắn bó sinh tử với cách mạng, với đất nước. Hàng triệu con, em của họ còn đang nằm ở dưới đất trong s uốt mấy cuộc chiến tranh kia…

- Vâng, cụ nói vậy thì con cũng biết vậy. Nhưng dân mình cũng cần độ lượng, thông cảm. Làm cán bộ khó lắm…
- Thì có ai bảo làm lãnh đạo dễ đâu. Tôi có ông bạn chăn trâu cắt cỏ xưa, giờ làm phó chủ tịch tỉnh. Ông ấy bảo: Cậu nói gì? Cần phải học à? Rõ vẽ chuyện! Tớ chỉ học hết có lớp Bốn, sau này được người ta đưa đi học hết bổ túc lớp Bảy. Thế mà suốt mấy chục năm làm cán bộ, tớ có sử dụng đến kiến thức đã học đâu!. Tôi không biết những ông cán bộ như thế sẽ múa may ra sao trong thời Kinh tế tri thức và thông tin toàn cầu này. Chẳng biết chú thế nào, chứ tôi thì tôi lo lắm. Bởi thế cùng với việc nâng cao dân trí, chúng ta cần khẩn cấp nâng cao quan trí, chứ không thì nguy đấy!

Ngôn ngữ tiêu đề gây nực cười…

FR Nguyenvantuan blog

“To Introduce Vietnam Literature”
Hôm nọ, tôi có vài bình luận chung quanh vấn đề tiếng Anh của Bộ Ngoại giao trong hội nghị về lãnh hải. Hôm nay, nhân đọc bài này (Những chuyện lôm côm tại Hội nghị văn học quốc tế) tôi lại có thêm vài dòng ghi thêm.

Giới văn học mới tổ chức một hội nghị có tên là “Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam”, nhưng dịch tên hội nghị sang tiếng Anh mới là vấn đề. Bàn cãi đâu đó xong xuôi, họ cho ra cái tên chính thức là “International Conference to Introduce Vietnam Literature”. Chưa bao giờ trong đời tôi nghe đến tên một hội nghị nào mà có cả động từ!

Tôi hoàn toàn đồng ý với dịch giả Dương Tường khi ông chỉ ra 3 cái sai trong tên gọi đó: cái sai thứ nhất là không ai dùng “to + động từ” trong tên gọi các hội nghị; cái sai thứ hai là động từ “Introduce” không phản ánh cái ý đồ quảng bá văn học Việt Nam ra thế giới; và cái sai thứ ba là “Văn học Việt Nam” không thể dịch là “Vietnam Literature” mà chính xác phải là “Vietnamese Literature”. Đúng như dịch giả Hoàng Hưng nói cách dịch của ban tổ chức thật là nôm na và quê mùa. Điều đáng nói đây là giới văn học, tức là đáng lẽ họ phải biết văn chương chữ nghĩa chứ. Ấy thế mà họ dịch thật là tức cười. Tôi tự hỏi tại sao họ không nghĩ ra một cái tên nào văn chương hơn, tại sao cứ khăng khăng dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh sát nghĩa như vậy?

Viết đến đây tôi chợt nhớ đến một qui định cho các nghiên cứu sinh trong nước là tên gọi đề tài nghiên cứu phải có động từ, và tên đề tài không được thay đổi trong suốt thời gian học. Ghi danh sao thì ra trường y như vậy. Chưa bao giờ tôi thấy một qui định nào máy móc và quái gở như thế. Phải cho người ta cái tư duy tự do khám phá, tự do suy nghĩa, tự do tìm hiểu thì mới sáng tạo, chứ cái gì cũng theo công thức thì làm sao phát huy được tính sáng tạo.

NVT

Lương và tâm

Lương và Tâm

TP – Phàm ở đời, nhận hay cho đều gắn với chữ Tâm. Chữ Tâm tròn hay khuyết, mỏng hay dày đều xuất phát từ tâm thế, mục đích của người cho và nhận vậy. Lương (thu nhập, nhận) cũng không ngoài sự ràng buộc ấy. Soi chiếu việc này với việc một số sếp của các doanh nghiệp nhà nước nhận lương cao tới mức gây sốc cho dư luận, lại băn khoăn đi tìm vị trí chữ Tâm.

Nhận lương như thế mà để lỗ, lúc đó chữ Tâm có ngủ yên? Kinh doanh nguồn tiền khổng lồ của nhà nước, “buôn tài không bằng dài vốn”, nhưng “vốn dài” mà lợi nhuận thu về ngắn, có khi lại âm, thế nhưng lương tháng chẳng âm bao giờ.

Vừa mới đây, báo chí lại thông tin Tổng giám đốc Công ty TNHH một thành viên xuất nhập khẩu Kiên Giang nhận lương mỗi tháng 232 triệu đồng trong khi cả năm Cty này chỉ nộp ngân sách 4,7 tỷ đồng! Và lương công nhân chỉ bằng mươi cân cá kèo. Lúc đó chữ Tâm trong họ chắc đang ngủ yên?

Lương không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận với Tâm. Tiền Phong đã từng phản ánh câu chuyện các cô giáo mầm non ở xã Long Thành, huyện Yên Thành nhận mức lương mỗi tháng sáu trăm nghìn đồng, có khi lương được trả bằng lúa, bằng lạc, bằng cả ổ chó con. Nhưng các cô vẫn say nghề, yêu trẻ vô điều kiện.

Biết bao cán bộ công nhân viên chức đang nhận những đồng lương khốn khó mà vẫn hăng say lao động, đóng góp vào sự phát triển đất nước.

Lương chịu sự điều chỉnh của cơ chế, chính sách nhưng lương cũng chịu sự chi phối của chữ Tâm. Tâm thể hiện ở việc đưa ra một chế độ tiền lương công bằng, nhân sinh của những người hoạch định chính sách.

Tâm thể hiện ở cách ứng xử mang tính đạo lý: chỉ nhận những gì tương xứng với sự đóng góp của mình. Càng quyền cao chức trọng càng phải có trách nhiệm thể hiện chữ Tâm khi ứng xử với lương.

Tổng thống Mỹ B. Obama đã mắng các CEO của một số ngân hàng Mỹ là “thiếu lương tâm” khi để cho ngân hàng mà mình lãnh đạo lâm vào nguy cơ phá sản nhưng vẫn vô cảm nhận mức lương thưởng hàng triệu USD.

Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung Bak lại cam kết dành toàn bộ lương của nhiệm kỳ tổng thống 5 năm để tặng người nghèo.

Hồi đang ở cương vị Phó Thủ tướng, ông Vũ Khoan tâm sự: “Các bạn nghĩ rằng lương của tôi được bao nhiêu? Mới đây, tôi có đi thăm Cty sữa Việt Nam, hỏi chuyện anh em công nhân mới hay là lương của mình còn thua lương anh em. Dẫu sao, tôi cũng thấy mừng vì chuyện này…

Tôi biết lương của các nguyên thủ nước ngoài rất cao. Thế nhưng quan điểm của Chính phủ là một viên chức nhà nước không thể hưởng lương quá cao so với những người đã hy sinh xương máu của mình vì sự độc lập và thống nhất của tổ quốc”. Một quan điểm về lương hợp lý và thấu đạo.

Trong cơ chế thị trường, lương Phó Thủ tướng thua lương công nhân cũng là bình thường, nhưng sẽ không bình thường nếu như lương quá cao hoặc quá thấp so với sự đóng góp. Nhất là đối với những công bộc của dân, những người “Lo trước cái lo thiên hạ, vui sau cái vui thiên hạ”.

Khi chiết tự chữ Tâm, Nguyễn Du viết “Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời”. Để đắp đầy một chữ Tâm, nhất là đối với những người lãnh đạo, khó lắm thay!

Phùng Nguyên

Có một Nguyễn Bính thị thành

Có một Nguyễn Bính thị thành

TP – Nói về thơ Nguyễn Bính, trước nay người ta vẫn sử dụng một định thức quen thuộc: thi sỹ chân quê. Thì cũng chẳng sai. Nhưng trong thơ Nguyễn Bính còn hiện diện cả một phần thành thị, vừa như một đối trọng lại vừa như một sự bổ sung cho cái phần quê kiểng đậm đặc mà ai cũng nhận thấy kia.

Nhà thơ Nguyễn Bính
Cũng có thể cho rằng với nhà thơ chân quê Nguyễn Bính, thành thị vừa là sức đẩy lại vừa là sức hút, và thơ ông, trên một phương diện nào đó, chính là những dao động giữa hai lực này.

“Hôm qua em đi tỉnh về/ Đợi em ở mãi con đê đầu làng/ Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng/ Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi!” (Chân quê). Trong mắt của anh trai quê đang nóng ruột đón đợi người yêu trở về, thì “tỉnh” – nghĩa là thành thị – quả là một nơi chốn tai vạ!

Nó nhào nặn dáng vẻ bề ngoài của cô thôn nữ anh yêu theo cách rất khác so với hệ giá trị thẩm mỹ truyền thống, hệ giá trị thẩm mỹ mà đến tận lúc này vẫn nằm trong máu thịt của anh. Anh cuống cuồng lo sợ trước sự thay đổi.

Vì – hẳn là một người nhạy cảm – anh thoáng thấy “cái khác” ấy tiềm ẩn một sự thoái hóa về chất: “Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội ít nhiều bay đi”.

Như vậy đấy, phản ứng đầu tiên của người nhà quê Việt Nam trước những yếu tố đại diện cho thành thị, một thứ phản ứng mang tính chất tự vệ trước cái dị kỷ và khó đoán định.

Không có gì khó hiểu, sống sau lũy tre làng từ bao đời nay, người nhà quê Việt Nam làm sao mà đã thấy ngay được cái “hay hớm” của thành thị: những con người ăn trắng mặc trơn, quanh năm chẳng biết đến cày bừa cấy hái; sống thì nhà nào biết nhà nấy, chẳng quần tụ xóm láng họ hàng, chẳng sát gần phần mộ tổ tiên; ăn nói thì khéo léo trơn tru đến mức không tin được; đã thế, họ lại du nhập lắm thứ sinh hoạt lai căng nhăng nhố từ tít tận trời Tây, chẳng có gì giống với tập quán ngàn đời ở xứ sở này.

Thế nhưng, thành thị – đó là một cái mới ở xã hội Việt Nam lúc ấy. Mà cái mới, nói sao mặc lòng, bao giờ cũng có sức hấp dẫn và sức kích thích riêng của nó.

Thành thị không chỉ đe dọa người nhà quê, mà nó còn hứa hẹn với họ. Thơ Nguyễn Bính đã hơn một lần nói đến việc người nhà quê bỏ làng lên phố, thay đổi hẳn không gian sinh sống và phương thức tồn tại: “Gia đình thiên cả lên Hà Nội/ Buôn bán quanh năm bỏ cấy cày” (Giời mưa ở Huế).

Thành thị, xét như một cực văn hóa đối trọng với cực văn hóa nông thôn, còn mời mọc người nhà quê gia nhập vào nó để tự khám phá những chiều kích chưa từng được biết đến trong bản thể văn hóa của anh ta. Thì đây: “Bỏ lại vườn cam bỏ mái gianh/ Tôi đi dan díu với kinh thành” (Hoa với rượu).

Tuần trăng mật của người nhà quê – ta cứ tạm coi người nhà quê này chính là thi sỹ Nguyễn Bính hóa thân – với thành thị không phải là không có những khoảng thời gian đắm say ngây ngất.

Gia nhập thành thị, Nguyễn Bính được sống trong một bầu khí quyển văn hóa khác, được biết và được trải nghiệm những trạng thái cảm xúc – tinh thần khác, khác hẳn so với khi ông chỉ là một người nhà quê, ở quê.

Chuyện yêu đương chẳng hạn. Nếu trước kia “thông điệp tình yêu” trong thơ ông được phát đi theo con đường bóng gió xa xôi: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông/ Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào?” (Tương tư), thì bây giờ nó trực tiếp hơn nhiều:

“Tôi muốn cô đừng nghĩ đến ai/ Đừng hôn dù thấy cánh hoa rơi/ Đừng ôm gối chiếc đêm nằm ngủ/ Đừng tắm chiều nay biển lắm người/ Tôi muốn mùi thơm của nước hoa/ Mà cô thường xức chẳng bay xa/ Chẳng làm ngây ngất người qua lại/ Dẫu chỉ qua đường khách lại qua” (Ghen).

Xưng hô bằng những đại từ “tôi, cô”, rồi nói tới việc cô ôm gối ngủ, cô đi tắm biển, cô xức nước hoa v.v…- “cô” ở đây hẳn là một cô tân thời, chứ tuyệt không phải một cô thôn nữ má hồng răng đen – chỉ từng ấy đã đủ để thấy dấu ấn thành thị trong tình yêu của người (vốn là) nhà quê Nguyễn Bính.

Ông yêu và ghen và bộc lộ cái ghen của mình theo cách của người thành thị, trên những “vật liệu” của đời sống thành thị. Nếu đọc cho kỹ, ta sẽ nhận ra trong cái ghen này một điều gì đó như là sự náo nức, rộn ràng, hồ hởi: ấy chính là niềm vui khi người nhà quê lần đầu tiên được biết đến một thứ trạng thái cảm xúc lạ mà thành thị đã gây mầm trong tâm hồn mình!

Và đây nữa, cách diễn đạt “tâm trạng khi yêu” như thế này, liệu có thể có ở một thi sỹ chưa được ướp mùi đô thị: “Bao năm đi giữa kinh thành/ Bao năm lẻ bóng, lẻ hình, lẻ đôi/ Cả kinh thành có những ai/ Cả kinh thành có một người mắt nhung”? (Mắt nhung)

Gia nhập đời sống thành thị trong vai một nghệ sỹ tự do, có thể nói, Nguyễn Bính đã nhận được khá nhiều từ thành thị: việc mưu sinh bằng khả năng thiên phú của mình (làm thơ), những mối quan hệ xã hội rộng rãi, những cuộc tình lãng mạn, những chuyến xê dịch cho thoả chí tang bồng trên nhiều vùng miền đất nước, và cả những thú ăn chơi nghiêng trời lệch đất (thuốc phiện, cô đầu).

Ông tận hưởng chúng một cách vồ vập, không khách khí. Tuy nhiên, tự trong căn cốt, Nguyễn Bính vẫn cứ là một người nhà quê như mọi người nhà quê Việt Nam bao đời nay. Ông “dan díu với kinh thành” nhưng không thể hòa tan vào nó để trở thành chính nó.

Trái lại, trước những biểu hiện của “cái thành thị”, con người nhà quê trong ông luôn thường trực một sự bất mãn, một thái độ phản kháng. Với ông, thành thị không phải nơi đất lề quê thói của những con người thuộc về cộng đồng họ mạc lâu đời, mà nó là chốn tụ lại của dân tứ chiếng với những mối quan hệ bèo nước nay hợp mai tan, không bền mà lại lắm dối trá, lọc lừa.

Vì thế mà ông thấy cảnh: “Mụ vợ bắc nam người tứ xứ/ Anh chồng tay trắng lẫn tay đen/ Đổi thay tình nghĩa như cơm bữa/ Khúc “Hậu đình hoa” hát tự nhiên” (Xóm Ngự Viên). Vì thế mà có lúc, dẫu thừa sự đa tình, ông sợ phải gắn bó tình cảm với một người con gái:

“Hàng xóm có người con gái lẻ/ ý chừng duyên nợ với nhau đây/ Chao ôi, ba bốn tao ân ái/ Đã đủ tan tành một kiếp trai/ Tôi rờn rợn lắm giai nhân ạ!/ Đành phụ nhau thôi kẻo tới ngày/ Khăn gói gió đưa sang xứ lạ/ Ai cười cho được lúc chia tay?” (Giời mưa ở Huế).

Con người nhà quê quen sống với nhiều mối liên hệ ràng buộc trong ông, vồ vập với thành thị đấy, nhưng lại sớm bơ vơ lạc lõng giữa thành thị. Từ phương Nam, ông viết thư gửi anh:

“Một buổi sớm mai đến Sài Gòn/ Thân em chẳng khác con chim non/ Bơ vơ trong xứ người xa lạ/ Rộn những phồn hoa, em chạnh buồn… Lẽo đẽo đi trong gió bụi đời/ Gian nan vất vả quá anh ơi/ Lắm khi thiếu cả lời an ủi/ Nhưng kiếm đâu ra lấy một lời?” (Lá thư gửi Bắc).

Tâm trạng bơ vơ lạc lõng này được Nguyễn Bính cực tả trong bài “Hành phương Nam”, khi mà giữa Sài Gòn phồn hoa đô hội, ông chợt nhận ra mình xa lạ biết bao với xung quanh:

“Ta đi nhưng biết về đâu chứ?/ Đã dấy phong yên khắp bốn trời/ Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ/ Uống say mà gọi thế nhân ơi/ Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ/ Ta với nhà ngươi cả tiếng cười/ Dằn chén hất cao đầu cỏ dại/ Hát rằng phương Nam ta với ngươi” (Hành phương Nam).

Tuy vậy, thành thị, với tất cả sự gắn bó và những sức mạnh tác động của nó tới con người nhà quê trong căn cốt tinh thần của Nguyễn Bính (phải nói thêm: con người nhà quê đa tình, giàu cảm xúc), không phải là Huế hay Sài Gòn, mà là Hà Nội.

Hầu như Nguyễn Bính không có một bài thơ hay một câu thơ nào sáng sủa vui tươi về Hà Nội. Sống ở Hà Nội, kết giao bằng hữu ở Hà Nội, thỏa chí phóng túng hình hài ở Hà Nội, song với ông, kinh thành Hà Nội dường như lại là một không gian ngả về sự tàn lụi, héo úa, điêu tàn, hấp hối.

Điều đáng chú ý là trong thơ, Nguyễn Bính luôn nhìn Hà Nội bằng con mắt sầu tình – cái sầu của sự biệt ly và chết chóc trong tình yêu. Thương vay khóc mướn, Nguyễn Bính đã “viếng hồn trinh nữ” không quen biết qua việc nhuộm Hà Nội trong một màu trắng tang tóc lạnh người:

“Chiều về chầm chậm trong hiu quạnh/ Tơ liễu theo nhau chảy xuống hồ/ Tôi thấy quanh tôi và tất cả/ Kinh thành Hà Nội chít khăn xô… Có một chiếc xe màu trắng đục/ Hai con ngựa trắng xếp hàng đôi/ Đem đi một chiếc quan tài trắng/ Và những vòng hoa trắng lạnh người/ Theo bước, những người khăn áo trắng/ Khóc hồn trinh trắng mãi không thôi” (Viếng hồn trinh nữ).

Trong xúc cảm hồi nhớ về một cuộc ly biệt năm nào, Hà Nội bị ông bóp méo bằng những nghịch âm nghịch sắc: “Hà Nội cơ hồ loạn tiếng ve/ Nắng dâng làm lụt cả trưa hè/ Năm xưa một buổi đang mưa lụt/ Tôi tiễn chân người sang biệt ly” (Nhớ người trong nắng).

Thậm chí, ngay cả khi nhớ tới người con gái “gặp một lần thôi”, Nguyễn Bính cũng đã kịp choàng lên diện mạo Hà Nội một nỗi buồn kỳ lạ: “Biết lối nào lên tới xứ nàng?/ Để người Hà Nội nhớ mang mang/ Nàng đi, Hà Nội buồn như chết/ Hà Nội buồn như một nhỡ nhàng” (Một lần).

Cũng có khi, dù không ở Hà Nội, nhưng Nguyễn Bính vẫn buộc phải chịu đựng sự giày vò đau đớn từ Hà Nội: “Hôm qua bắt được thư Hà Nội/ Cho biết tin Dung đã đẻ rồi/ Giờ sửu, tháng ngâu, ngày nguyệt tận/ Bao giờ tôi biết mặt con tôi/ Nào đoán thử xem tên con gái/ Oanh, Yến, Đào, Trâm, Bích, Ngọc, Hồi…/ Tôi biết vô tình Dung lại muốn/ Con mình mang lấy nghiệp ăn chơi” (Oan nghiệt).

Khi ấy, ở giữa hai hàng chữ của văn bản thơ, Hà Nội đã ngầm hiện lên như một không gian dung chứa sự thác loạn thành thị, nơi mà khách làng chơi và gái làng chơi đã ngẫu hợp trong những cơn cuồng hoan vô trách nhiệm và đem lại cho nhân gian một nỗi oan nghiệt mang hình người.

Cả một bài thơ dài “Oan nghiệt” là những tưởng tượng đen tối, những hối hận nhục nhã, những giật mình kinh sợ của Nguyễn Bính khi nhận được tin một cô gái làng chơi nào đó tên Dung ở Hà Nội đã có con với mình. Đỉnh điểm bi kịch của và trong sự tưởng tượng đó là:

“Chàng chàng thiếp thiếp cho bằng được/ Bố bố con con chẳng nhận nhau” (Oan nghiệt) – cha, gã nghệ sỹ lãng tử; và con, gái làng chơi theo nghiệp mẹ, có thể sẽ rơi vào loạn luân mà không biết. Hà Nội là cái khung nền cho tưởng tượng ấy!

Trong phần viết về Nguyễn Bính ở thi tuyển “Thi nhân Việt Nam”, dù đánh giá không thật cao tầm vóc nghệ thuật của giọng thơ chân quê Nguyễn Bính, song nhà phê bình văn học Hoài Thanh vẫn phải thừa nhận sức ảnh hưởng và sự mê hoặc của giọng thơ này tới số đông công chúng độc giả yêu thơ (thời ấy, và có lẽ cả bây giờ cũng vậy).

Ông có lí khi giải thích rằng ấy bởi trong mỗi người Việt Nam chúng ta đều có tồn tại một người nhà quê, nên chúng ta dễ dàng nảy sinh mối tình đồng điệu. Đó là ông nói về “bộ phận nông thôn” trong sáng tác của Nguyễn Bính. Thế nhưng còn “bộ phận thành thị” của giọng thơ chân quê thì sao?

Hình như không thật nhiều người quan tâm lắm đến khu vực tác phẩm này. Trên thực tế, từ cái cảm thức cơ bản “lạc chốn thị thành” ở mảng thơ thành thị của Nguyễn Bính, chúng ta có thể hiểu nhiều hơn, rõ hơn về chính sự chân quê của ông. Nguyễn Bính không phải chỉ là con người của nông thôn: ông như người lái đò qua lại giữa hai bờ nông thôn và thành thị.

Ông háo hức nhập cuộc với thành thị rồi mau chóng vỡ mộng, sầu buồn, đau đớn vì nó, nhưng vẫn không thể dứt bỏ được nó. Kiểu cảm thức này còn kéo dài trong thơ Việt Nam, kỳ lạ thay, ngay cả khi thành thị đã không còn là một cái mới như ở thời của Nguyễn Bính.

Hoài Nam

Nữ sinh viên và lời đề nghị khiếm nhã

Đặng Ngọc Hân

Ảnh: Bùi Việt Anh
TP – Đi làm thêm khi còn ngồi trên ghế nhà trường, các nữ sinh xinh đẹp thường đối mặt nhiều cám dỗ, thậm chí cả những lời đề nghị khiếm nhã được qui ra tiền và… rất nhiều tiền.

Nghề nhiều cám dỗ

Mới 21 tuổi, nhưng Đặng Ngọc Hân có thâm niên người mẫu 8 năm. Việc làm thêm để kiếm trên 10 triệu đồng/tháng với nữ sinh năm thứ tư ngành Thiết kế Thời trang, ĐH Mỹ thuật Công nghiệp khá đơn giản.

Ngọc Hân hiện là người mẫu của Cty New Talent, làm stylist cho một số nơi. Ngọc Hân bắt đầu kiếm bộn tiền từ khi còn là học sinh trường THPT Trần Nhân Tông, Hà Nội.

Với số đo ba vòng 80-61-92 chiều cao 1m72, 13 tuổi Ngọc Hân tham gia CLB người mẫu báo Hoa Học trò và bắt đầu vào nghề người mẫu từ đây. Hân tự trang trải tiền học, mua máy nghe nhạc, điện thoại di động, laptop, xe máy Dylan… “Mình cảm thấy tự hào vì tiền tiết kiệm cũng đủ tiền hồi môn để đi lấy chồng”, Ngọc Hân vui vẻ nói.

Nghề cám dỗ, Ngọc Hân biết điều này nhưng khẳng định: “Mình thấy không vấn đề gì. Một lần đi với người bạn làm mẫu tự do, có người đề nghị ăn tiệc cùng họ và nói thẳng sẽ trả 2 triệu đồng, một số tiền khá lớn đối với học sinh khi đó, nhưng đã từ chối vì nghĩ mình không phải là món đồ trang trí của bữa tiệc. Mình nghĩ số tiền đó không xứng đáng đánh đổi lòng tự trọng”.

Gia đình ủng hộ Ngọc Hân làm người mẫu vì công việc cũng liên quan đến việc học ở trường ĐH. “Mình học được từ những nhà thiết kế (chủ nhân những váy áo mình trình diễn) tinh thần làm việc hết mình, sự tỉ mẩn trong từng chi tiết và sự đam mê”, Ngọc Hân chia sẻ.

Từ khi đi làm người mẫu, Ngọc Hân lại có đam mê thời trang và đang xây dựng con đường mới cho mình.

Lời đề nghị 5.000 USD

Hoàng Phương

Từ chối lời mời Làm thư kí cho anh, sẽ trả em 5000 USD/tháng, Hoàng Phương* (sinh viên năm thứ hai ĐH Quốc gia Hà Nội làm thêm với công việc một PG – nhân viên tiếp thị) nói việc đại gia ngỏ lời và ngã giá cho những cuộc hẹn là chuyện thường ngày trong nghề.

“Có người còn nói thẳng với mình rằng anh rất giàu, thường xuyên gọi điện hát cho mình nghe chỉ để mình ngã lòng. Người khác không hiểu, nghĩ rằng mình dại khi từ chối một đại gia bự và nổi tiếng như thế. Nhưng mình nghĩ hiện tại mình đang đầy đủ, không cần phải có đại gia mình vẫn sống khoẻ, vẫn có thể tự mua hàng hiệu hay mua những thứ mình thích”, Phương tâm sự.

Luôn đa nghi, đó là bí quyết vượt qua những cám dỗ để sống được trong giới người mẫu. “Làm gì thì làm cũng phải nghĩ đến chuyện lấy chồng, nên mình luôn tỉnh táo và giữ khoảng cách nhất định đối với những mối quan hệ phức tạp”, Phương nói.

Tin đồn

Bức xúc với những lời đồn, đó là tâm trạng của Lê Quỳnh Trang, sinh viên năm thứ tư, khoa múa, ĐH Sân khấu Điện ảnh, khi đi làm thêm trong vai trò múa phụ họa.

Trang tâm sự: “Nghề này buộc mình phải mặc đẹp, trang điểm khi lên sân khấu, nhiều người nhìn mình trong trang phục diễn lại nghĩ mình là gái gọi. Mình rất bực nhưng không biết làm thế nào, chỉ cố gắng làm ngơ thôi”.

Có lần cô và các bạn đi diễn ở khách sạn Horison (Hà Nội), rồi có người tung tin gặp cô cặp với đại gia này nọ, tận mắt chứng kiến cảnh chờ đợi nhau ở khách sạn sang trọng Horison…Ứng xử với những câu chuyện trên, Trang và các bạn chỉ biết im lặng.

“Trong cuộc sống có rất nhiều cám dỗ, mỗi khi đi biểu diễn mình vẫn tự nhắc nhở phải nghiêm khắc với bản thân, luôn giữ phẩm giá của nghề nghiệp”, Trang tâm sự.

*Tên nhân vật đã thay đổi

Hải Yến

Duyên kỳ ngộ của các cựu phi công

Trung tướng cựu phi công Mỹ Steve Ritchie (thứ 4 từ trái) trong buổi hội ngộ với những cựu phi công Việt Nam

Những đối thủ đã bắn rơi lẫn nhau trong chiến tranh - Từ trái qua phải: John Stiles, Nguyễn Hồng Mĩ, Steve Ritchie

Duyên kỳ ngộ của những đối thủ trên không

TP – Một cuộc hội ngộ của những “kẻ tử thù” một thời diễn ra cảm động. Có những vòng tay ôm lấy nhau. Có khá nhiều hoa tặng. Chụp ảnh chung cũng rất nhiều.

Những đối thủ đã bắn rơi lẫn nhau trong chiến tranh – Từ trái qua phải: John Stiles, Nguyễn Hồng Mĩ, Steve Ritchie

Mới đây, tôi được bạn bè kéo đến Bảo tàng Quân chủng Phòng không – Không quân tham dự buổi giới thiệu cuốn hồi ký Chúng tôi và Mig-17. Tác giả cuốn sách là Thủy Hướng Dương, một cây bút nữ 38 tuổi, nguyên học sinh chuyên văn trường THPT Lê Hồng Phong, Nam Định.

Không khí khá trang trọng: có các sĩ quan cao cấp của Quân chủng Phòng không – Không quân, nhiều cựu phi công Việt Nam, trong đó có những anh hùng LLVT, rồi gia đình, bầu bạn của họ… Một cuộc gặp mặt nhộn nhịp, khách ngồi chật kín hội trường.

Thực ra, việc làm cuốn Chúng tôi và Mig-17, tôi cũng đã được biết từ khi nó còn ở giai đoạn khởi sự. Đó là vào cuối thu năm ngoái. Một hôm nhóm làm sách (gồm nhà thơ Đặng Vương Hưng; tác giả Thủy Hướng Dương; cựu phi công – Anh hùng LLVT – Đại tá Lưu Huy Chao, nhân vật chính của cuốn sách) được Quân chủng Phòng không – Không quân chu cấp cho hẳn một chuyến xe đi vào Thanh Hóa, quê ông Lưu Huy Chao để lấy tư liệu. Khi về qua Nam Định, họ dừng xe ghé vào cơ quan thăm tôi.

Xuất thân là nông dân nghèo, trở thành phi công đã hơn 100 lần xuất kích bay lên bầu trời chiến đấu “ngang ngửa” với không quân Mỹ như Lưu Huy Chao là rất đáng viết thành sách. Nhà thơ Đặng Vương Hưng, người tổ chức làm cuốn hồi ký này cho biết thêm:

“Cuốn sách này không chỉ viết về Lưu Huy Chao. Ta sẽ gặp trong cuốn sách này những câu chuyện kể, những kỷ niệm sâu sắc của nhiều người khác nữa. Từ anh chủ nhiệm quân y chuyên săn sóc sức khỏe cho phi công, vừa nghe thông tin có anh em ta phải nhảy dù, là vội vàng băng rừng lội suối đi tìm mấy ngày liền, đến nỗi khổ của những người vợ các phi công bị “khát yêu”.

Từ chuyện “anh cả” của những người thợ máy đã nghĩ ra cái “hăng-ga” độc đáo cho Mig-17, đến chuyện Không quân ta tự khôi phục những chiếc máy bay cường kích A-37 của Mỹ phục vụ cho chiến dịch giải phóng miền Nam. Tuy nhiên nhân vật trung tâm vẫn là Lưu Huy Chao…”.

Vâng, Lưu Huy Chao rất xứng đáng là một nhân vật trung tâm cuốn sách. Lưu Huy Chao sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở Đông Anh – Đông Sơn – Thanh Hóa. Khi được tuyên dương Anh hùng LLVT, ông đang mang quân hàm thượng úy, là Đại đội trưởng Đại đội 2, Đoàn Không quân Yên Thế.

Thành tích của Lưu Huy Chao khi được tuyên dương Anh hùng: “Trong 4 năm từ 1965 đến 1968, Lưu Huy Chao đã đánh 19 trận, bắn rơi 6 máy bay địch (gồm 2 chiếc F-4, 2 chiếc F-8, 1 chiếc F-105, 1 chiếc C47), ngoài ra anh còn chỉ huy biên đội đánh và yểm hộ cho đồng đội bắn rơi 11 chiếc khác…”.

Trung tướng cựu phi công Mỹ Steve Ritchie (thứ 4 từ trái) trong buổi hội ngộ với những cựu phi công Việt Nam
Điều khiến tôi thích thú hơn cả là trong buổi ra mắt cuốn sách có một vị khách rất đặc biệt xuất hiện. Tôi gọi “khách đặc biệt” bởi con người này đã từng là kẻ “tử thù” của những phi công Việt Nam một thời. Đó là Trung tướng – cựu phi công Mỹ Steve Ritchie.

Ông này được người Mỹ coi là một phi công chiến đấu giỏi nhất nước Mỹ. Hồi đó, chỉ tính trong vòng mấy tháng của năm 1972, đại úy Steve Ritchie đã bắn rơi 5 chiếc máy bay của ta, trong đó có chiếc Mig-21 của phi công Đặng Ngọc Ngự (Đặng Ngọc Ngự đã hy sinh, sau này được truy phong danh hiệu Anh hùng) và chiếc Mig-21 của phi công Nguyễn Hồng Mĩ.

Sự xuất hiện của Steve Ritchie trong buổi giới thiệu sách này, tôi xin kể chi tiết một chút:

Năm ngoái, trong một cuộc hội ngộ tại Sài Gòn, cựu phi công Việt Nam Nguyễn Hồng Mĩ gặp cựu phi công Dan Chrrey của Mỹ. Nguyễn Hồng Mĩ có kể cho Dan Chrrey nghe chuyện vào ngày 19 tháng 1 năm 1972, ông lái chiếc Mig-21 chiến đấu trên vùng trời Thanh Hóa – Nghệ An và bắn rơi một chiếc F-101 của Mỹ.

Theo chỗ ông biết thì người phi công lái chiếc phản lực ấy còn sống, có tên là John Stiles. Sau đấy, vào ngày 16 tháng 4 năm 1972, chiếc Mig-21 của Nguyễn Hồng Mĩ bị một chiếc F-4 bắn trúng. Khi máy bay bị hư, Nguyễn Hồng Mĩ đã nhảy dù xuống vùng đất thuộc tỉnh Hòa Bình. Người phi công lái chiếc F-4 ấy tên là Steve Ritchie.

Nghe nói sau đó Steve Ritchie trở thành một sĩ quan cấp tướng. Không ngờ ông Dan Chrrey lại biết rất rõ về Johh Stiles và Steve Ritchie. Sau cuộc gặp ấy, Dan Chrrey về Mỹ tìm gặp John Stiles và Steve Ritchie. Thế là viên phi công bị Nguyễn Hồng Mĩ bắn hạ cùng với viên phi công bắn hạ Nguyễn Hồng Mĩ liền có thư mời “kẻ tử thù” sang Mỹ chơi.

Tháng tư năm nay, Nguyễn Hồng Mĩ có con trai tên là Quân, làm phiên dịch thực hiện một chuyến viễn du sang bên kia bán cầu xa xôi. Tại đây ba “kẻ tử thù” đã hội ngộ khá vui vẻ. Không những thế họ còn làm được hai việc:

1- Xuất bản một cuốn sách ảnh, lời bằng tiếng Anh, có tiêu đề là Kẻ thù của tôi – bạn của tôi.

2- Nguyễn Hồng Mĩ đã thay mặt cho một số cựu phi công Việt Nam ngỏ ý mời viên Trung tướng – cựu phi công Steve Ritchie sang thăm Việt Nam. Và ông này đã vô cùng phấn khích khi nhận lời.

Trung tuần tháng 12 này Steve Ritchie đã có mặt ở Việt Nam. Steve Ritchie sang tới Hà Nội ít ngày, biết có buổi ra mắt cuốn sách viết về cựu phi công Việt Nam, ông xin được tham dự. Nguyễn Hồng Mĩ đã đi cùng với ông.

Khi được mời phát biểu, viên Trung tướng cựu phi công Mỹ nói rất hay, hấp dẫn người nghe. Steve Ritchie nói rằng, mục đích của ông sang Việt Nam chuyến này là để thăm lại cái miền đất mà chính bàn tay ông đã từng nhiều lần ấn nút cắt bom tàn phá, đồng thời ông muốn biết lễ Giáng sinh diễn ra ở Việt Nam bây giờ ra sao, và đương nhiên còn mục đích nữa rằng, ông muốn làm quen và kết bạn với nhiều người Việt Nam, trong đó có những cựu phi công…

Cuối cùng, Steve Ritchie nói, ông rất vui khi thấy Hà Nội đang mở mang, phát triển như một đại công trường. Còn gần một tuần nữa mới tới lễ Giáng sinh nhưng Hà Nội đã tràn ngập không khí của đại lễ. Những cây thông Nô-en, những bản nhạc Giáng sinh không chỉ hiện diện trong các tòa thánh mà còn thấy ở những khách sạn, siêu thị, nhà dân…

Chỗ nào có người Mỹ ở là ở đó có lá cờ Mỹ treo cạnh lá cờ Việt Nam… Và nhất là ông cảm thấy người Hà Nội nhìn mình với ánh mắt ấm áp, thân thiện… chứng tỏ rằng người Việt Nam thực sự mong muốn khép lại quá khứ, hướng đến tương lai và tình yêu cùng không khí thanh bình đang ngự trị trên đất này…

Trong số những người mà Steve Ritchie làm quen và kết thân, ngoài Nguyễn Hồng Mĩ, không thể không kể đến Lưu Huy Chao, vị Đại tá Anh hùng, nhân vật trung tâm của buổi hội ngộ hôm nay. Steve Ritchie nói đến đó, rồi bước xuống ôm hôn Lưu Huy Chao thắm thiết.

Lê Hoài Nam

Dâng hương tưởng niệm những chiến sỹ hi sinh ở Gac Ma

Những người lính nằm lại Gạc Ma sống mãi trong lòng nhân dân - Ảnh: Đức Thảo

FR :Tuoitre

Dâng hương tưởng niệm những người nằm lại Gạc Ma

TT – Sáng 15-1 tại vùng biển Gạc Ma – Cô Lin – Len Đao, trong hành trình đưa hàng tết đến Trường Sa, đoàn công tác trên tàu Trường Sa 14 đã tiến hành trọng thể lễ dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ Gạc Ma.

Những người lính nằm lại Gạc Ma sống mãi trong lòng nhân dân – Ảnh: Đức Thảo

Cách đây gần 22 năm vào sáng 14-3-1988, để bảo vệ chủ quyền lãnh hải Tổ quốc, trong cuộc chiến bi hùng bất hủ, 64 cán bộ chiến sĩ hải quân, công binh đã dũng cảm hi sinh trên bãi Gạc Ma. Trong số 64 sĩ quan – chiến sĩ ngã xuống ngày hôm ấy chỉ có ba người tìm được thi thể.

* Chiều 16-1 tại Bà Rịa – Vũng Tàu, tàu HQ 609 đã rời cảng bắt đầu chuyến đi biển dài ngày chúc tết cán bộ chiến sĩ nhà giàn DK1 (Cụm dịch vụ khoa học kỹ thuật dầu khí). Con tàu mang theo tình cảm tràn đầy của đất liền gửi tới những người lính biển đang gìn giữ biên cương Tổ quốc.

ĐỨC THẢO – V.T.BÌNH

Người Mỹ thầm lặng ở Hội An

Nhân vật hằng tuần

Người Mỹ thầm lặng ở Hội An

TT – Ông bỏ việc giảng dạy tại một đại học danh tiếng bên Mỹ bởi nỗi ám ảnh từ những đôi mắt trong veo ở Việt Nam. Ông đã nghe theo lời cha dạy: quyết định theo mách bảo của trái tim.

“Đừng u sầu nữa, hãy vui lên. Và điều đầu tiên tôi buộc các em phải ghi nhớ là tôn trọng phẩm giá của mình và phẩm giá của người khác”

NEAL F. BERMAS tiết lộ về lời khuyên của ông khi dạy những đứa “con nuôi” – từ ông dùng để chỉ những học trò thân thương của mình.

Hội An. Mưa dầm suốt ngày đông. Nhiều cửa tiệm vắng tanh. Nhưng quán Streets vẫn đông khách nhấm nháp món ăn Việt do chính đầu bếp người Mỹ Neal F. Bermas và các “con nuôi” phục vụ. Nhìn ông hết cắm cúi với bếp núc lại tận tình chỉ bảo các “con nuôi”, hiếm ai nghĩ đó là một tiến sĩ giảng dạy môn ý tưởng mới ở Đại học New York…

Trong lúc đó, ở một căn nhà gần quán Streets cũng đang có lớp học khác. 16 cô cậu đang luyện tiếng Anh với cô giáo Sondra Streward. Là bạn Neal, Sondra cùng đến VN với ý nguyện góp chút công sức nhỏ nhoi cho trẻ em đường phố. Mưa mùa đông thật lạnh nhưng lớp học vẫn ấm cúng. Lát sau, Neal từ quán về phụ dạy cùng Sondra. Không khí sôi nổi hẳn lên khi ông vui vẻ nói: “Các bạn hãy kể một câu chuyện vui bằng tiếng Anh cho tôi nghe nào?”.

Ám ảnh từ những đôi mắt

Trong một buổi tối rảnh rỗi hiếm hoi bên bờ sông Hội An, tiến sĩ Neal tâm sự: “Quê hương tôi cũng có những dòng sông, chỉ có điều nó bình yên hơn những dòng sông từng phải soi bóng khói lửa chiến tranh ở đây”. Ông kể hơn mười năm trước, lần đầu đến VN, đã rải bước khắp Hà Nội, TP.HCM, Tây nguyên, miền Trung cát cháy để thấu cảm đất nước từng ám ảnh mình đến mất ngủ. “Đó là những mái nhà cháy, những dòng sông đầy xác người và tiếng khóc xé lòng của trẻ thơ!” – Neal tâm sự khi còn là sinh viên đã rất buồn và phẫn nộ chiến tranh. Nhiều bạn bè ông về nước trong quan tài kẽm, trong lúc máu người Việt thấm đỏ mảnh đất quê hương họ.

Rồi những buổi dạo phố VN, tiến sĩ Neal xót xa chứng kiến nhiều trẻ nghèo khó đội mưa nắng chào mời bán từng thanh kẹo cao su, tấm ảnh lưu niệm. Ông còn tận mắt nhìn thấy các cậu bé, cô bé có nụ cười thật hiền hậu nhưng lại khuyết tật vì bom mìn khi cuộc chiến đã dứt từ lâu. Những đôi mắt trong veo và bất hạnh ấy ám ảnh ông về tận nước Mỹ…

Tiến sĩ Neal sau đó còn đến những vùng đất nghèo khó khác ở châu Phi, Nam Á, nhưng vẫn có gì đó từ sâu thẳm thúc giục ông trở lại VN nhiều lần nữa. Và mỗi lần trở lại ông đều thấy đất nước này thay đổi, phát triển nhưng vẫn còn nhiều trẻ kiếm sống trên đường phố. Nước da các em đen nhẻm nhưng ánh mắt rực sáng sức sống. Nhiều năm dạy học, ông hiểu trong các đôi mắt ấy có nghị lực vươn lên.

Cuộc đời các em sẽ tốt hơn nhiều nếu được đào tạo. Ông trao đổi suy nghĩ của mình với bạn bè. Một số người nói thẳng ông nên thực tế hơn như liên kết giảng dạy đại học cho sinh viên VN nếu muốn giúp đất nước này. Nhưng ông lại suy nghĩ khác: trẻ đường phố chịu thiệt thòi và cần được giúp đỡ hơn. Từ sâu thẳm ông tin điều đó sẽ không vô ích với các em.

Cửa vào đời

Để các em có điều kiện thực hành, tiến sĩ Neal mở quán ăn Streets International ở Hội An. Neal và Sondra tỉ mỉ dạy các em từ cách chế biến món ăn đến bày bàn, lau ly tách cho sạch, cắm bình hoa, cả nụ cười cảm ơn lịch sự.

Neal thường khuyến khích học viên tự làm trước, sau đó ông sửa sai để nhớ kỹ. “Các em học tiếng Anh nhanh vì phố cổ nhiều du khách dễ tập nói. Khó nhất là dạy kỹ năng sống, bởi nhiều em đã quen sống ở đường phố với bản năng tự do…”. Neal kể mất nhiều thời gian để dạy các em tránh xa thói quen xấu, tập lối sống lành mạnh, kỷ luật.

Trao cần câu cho các em

May mắn là nhiều người đồng cảm với ông. Trong đó có những người từng đến VN như cô Sondra. Hạnh phúc nhất là cha ông, vị luật sư già 84 tuổi chỉ nói một câu không hề sáo rỗng: “Con hãy nghe theo trái tim để quyết định như một người đàn ông!”.

Tuy nhiên, từ ý tưởng đến hiện thực không đơn giản. Tiến sĩ Neal nhớ lại: “Tôi phải mất gần năm năm cho việc chuẩn bị ở Mỹ lẫn VN”. Quyết định nghỉ dạy ở Đại học New York, ông qua VN chuẩn bị thực hiện dự án Streets International ở Hội An. Bạn bè thắc mắc tại sao chọn phố cổ nhỏ bé? Ông trả lời đơn giản: “Sài Gòn, Hà Nội đã có các tổ chức nước ngoài giúp trẻ khó khăn. Còn Hội An thì chưa. Tôi muốn góp sức mình cho các em chưa bao giờ có cơ hội”.

Lúc này bên ông đã có Sondra. Cô từng là nhà tư vấn đầu tư, nhưng bỏ việc để đến với trẻ có hoàn cảnh khó khăn ở VN. Nội dung dự án của tiến sĩ Neal là đào tạo tiếng Anh, kỹ năng sống và phục vụ nhà hàng, du lịch cho trẻ em bất hạnh để tìm được việc làm tốt sau này. Trong đó, ông nhấn mạnh đào tạo kỹ năng sống và những ý tưởng mới trong hoạt động du lịch. Đó cũng là những môn dạy của ông ở Đại học New York.

Lớp học của thầy Neal và cô Sondra chỉ nhận các em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như mồ côi, nghèo khó, kiếm sống trên đường phố. Ban đầu ông liên hệ các trung tâm nhân đạo, nhưng sau đó các em truyền tai nhau đến gõ cửa lớp học. Một số gia đình ở Hội An, Đà Nẵng, Tam Kỳ có điều kiện, xin đóng tiền để gửi con mình vào rèn tiếng Anh nhưng Neal từ chối. Ông trả lời: “Mỗi học viên lớp này là một hoàn cảnh kém may mắn. Hơn ai hết các em cần được ưu tiên giúp đỡ”. Và hơn 30 em đã được ông nhận vào lớp.

Gia đình, gia đình…

Neal và Sondra như bù trừ cho nhau. Ông nói nhanh, đôi khi nóng tính. Sondra thì từ tốn, luôn cười với các em. Trong lớp, thầy cô và học viên như bạn bè. Nhờ vậy, các vấn đề thường được giải quyết vui vẻ. Kỷ luật nặng nhất được áp dụng với một vài học viên chỉ là: “Em cứ về nghỉ vài ngày để suy nghĩ kỹ việc làm của mình”. Thực tế chưa em nào về luôn.

Ban đầu tiến sĩ Neal cũng gặp khá nhiều khó khăn, nhất là với một số em có hoàn cảnh gia đình và tâm lý đặc biệt. Nhiều học viên đã để lại cho Neal kỷ niệm khó quên. Trong đó, em N.Đ. có gương mặt rất thông minh. Cha chết, mẹ rất nghèo khổ nên Đ. phải vào trung tâm bảo trợ xã hội. Neal ưu tiên nhận em. Nhưng ngay hôm sau ông đã rất buồn vì em lấy trộm xe đạp rồi bỏ đi mất.

Lặng lẽ tìm mãi ông mới gặp được em. Hai người nhìn nhau không nói tiếng nào. Mãi lát sau ông mới mở lời: “Em về suy nghĩ việc làm của mình. Nếu muốn đi học lại thì gặp tôi”. Vài ngày sau Đ. gõ cửa tìm thầy Neal.

Rót cho Đ. ly nước mát, ông chậm rãi kể chuyện: “Ngày còn nhỏ tôi cũng từng phạm lỗi như em. Cha tôi chỉ bảo nếu con biết lỗi thì hãy trung thực và dũng cảm sửa lỗi như một người đàn ông”. Rồi thầy Neal khuyên Đ. đến cảnh sát nhận lỗi, xin trả lại xe đạp. Đ. cúi đầu khóc, làm theo lời ông. Và bây giờ cậu đã là một học viên giỏi của lớp.

Ngoài miễn học phí, các em còn được lo ăn, nghỉ. Đặc biệt, Neal còn giảm chi tiêu cá nhân để dành tặng 400.000 đồng cho từng em mỗi tháng. Ông giải thích: “Tôi biết nhiều em sẽ khó gắn bó với lớp học vì còn phải kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Số tiền nhỏ này giúp các em phần nào yên tâm học hành”.

Neal thuê nhà cho học viên nữ và nam ở riêng. Neal và Sondra thường xuyên ghé nấu cơm chung rồi vui vẻ cùng ăn. Sondra tâm sự: “Tôi thích những bữa cơm quây quần này. Tôi thấy như mình sống trong gia đình”. Bữa cơm chung cũng là buổi học thú vị. Nhìn các em ăn uống, nói chuyện, Neal có thể hiểu gia đình các em đang buồn vui thế nào để khéo léo truyền đạt các kỹ năng sống và giúp đỡ.

“Thầy Neal hay khuyên bọn em hãy tự tin. Thầy nói có chuyện gì hãy tâm sự với bạn bè, thầy cô để cùng chia sẻ, giúp đỡ nhau. Em xem lớp học này như gia đình mình, còn thầy Neal và cô Sondra như cha mẹ mình…” – học viên Nguyễn Thị Lý tâm sự. Em đang sống với bà ngoại vì cha đi biển chết, mẹ lấy chồng khác.

Vừa rồi, họ đã có bữa liên hoan ra trò vì nhiều công ty du lịch, khách sạn quốc tế ở Đà Nẵng, Hội An, Huế tìm đến xin tuyển học viên của lớp. Cánh cửa vào đời đã mở rộng với các em.

QUỐC VIỆT

Một giảng viên “đạo” từ điển


Sách gốc và sách /

Một giảng viên “đạo” từ điển tiếng Hàn

Từ điển ngữ pháp tiếng Hàn, một cuốn sách phổ biến được rất nhiều học viên, sinh viên tiếng Hàn ở Việt Nam sử dụng, đứng tên tác giả Lý Kính Hiền thực ra là một cuốn sách “đạo”.

Một nhóm nghiên cứu sinh tại Hàn Quốc cho phóng viên biết hiện GS Beak Bong Ja, Trường ĐH Jonsei, đang rất bức xúc vì cuốn sách Từ điển ngữ pháp tiếng Hàn cho người nước ngoài của bà đã bị một giảng viên Việt Nam dịch và phát hành rộng rãi tại Việt Nam suốt 4 năm qua mà chưa hề được sự đồng ý của bà.

Điều đáng nói là trên cuốn sách lại ghi tên tác giả Lý Kính Hiền, trưởng ngành Hàn Quốc học, Khoa Đông phương học Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia TPHCM).

Cuốn sách của GS Beak Bong Ja và cuốn sách đứng tên Lý Kính Hiền

Giống nhau đến 99,9%

Chúng tôi đã tìm cuốn sách Từ điển ngữ pháp tiếng Hàn cho người nước ngoài nguyên gốc tiếng Hàn của tác giả Beak Bong Ja, xuất bản năm 1999 tại Hàn Quốc (tái bản năm 2004) và cuốn sách Từ điển ngữ pháp tiếng Hàn ghi tác giả là Lý Kính Hiền, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, năm 2007 (thực hiện liên doanh: Công ty TNHH Gia Vũ), nhờ các giảng viên bộ môn Hàn Quốc học tại các trường ĐH thẩm định thì ai cũng quả quyết hai cuốn sách là một.

Ông Huỳnh Sang, giảng viên Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa phương Đông Trường ĐH Ngoại ngữ – Tin học TPHCM, cho rằng tác giả Lý Kính Hiền chỉ dịch lại cuốn sách của GS Beak Bong Ja, bởi nội dung của hai cuốn sách hoàn toàn giống nhau.

Ngay phần dẫn nhập, tác giả Lý Kính Hiền dịch lại phần dẫn nhập của bà Beak Bong Ja, nhưng kết thúc phần này, tác giả ghi: “Sài Gòn, tháng 6 năm 2004, Lý Kính Hiền…”, khiến cho người ta hiểu rằng người viết chính là Lý Kính Hiền. Dù điểm khác duy nhất của cuốn sách là có thêm phần phụ lục 3 trang về thuật ngữ ngữ pháp thông dụng.

Theo các giảng viên chuyên ngành Hàn Quốc học, cuốn sách của GS Beak Bong Ja được dùng như là kim chỉ nam cho người học và dạy tiếng Hàn, được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới.

Tại Hàn Quốc, GS Beak Bong Ja là người rất nổi tiếng về học thuật, từng xuất bản nhiều cuốn sách về tiếng Hàn và cũng là giảng viên của nhiều du học sinh, nghiên cứu sinh Việt Nam. Do đó, việc một giảng viên Việt Nam “đạo” sách của bà đã ảnh hưởng rất nhiều đến uy tín của giới học thuật Việt Nam tại Hàn Quốc.

Cách đây không lâu, GS Beak Bong Ja cũng đã lên tiếng về vấn đề này tại một hội thảo quốc tế ở Hàn Quốc.

Không rõ luật bản quyền?

Ngày 25-1, chúng tôi đã tìm gặp giảng viên Lý Kính Hiền. Ông thừa nhận đã dịch cuốn sách của tác giả Beak Bong Ja và cho biết GS Beak Bong Ja là cô giáo từng dạy ông năm 2002 tại Hàn Quốc. Chính GS Beak Bong Ja đã tặng ông cuốn sách đó.

Thấy cuốn sách hay và hữu dụng nên Lý Kính Hiền đã dịch và phối hợp với Công ty TNHH Gia Vũ in, phát hành.

Vì sao chỉ dịch mà lại đề tên mình là tác giả? Ông Lý Kính Hiền lý giải: Do không hiểu rõ về luật bản quyền và lúc đó tại Việt Nam chưa áp dụng luật bản quyền nên đã làm trên tinh thần giúp sinh viên học tiếng Hàn hiệu quả hơn chứ không phải mục đích kinh doanh. Và lúc đó không biết liên lạc với GS Beak Bong Ja bằng cách nào.

“Tôi sẽ cố gắng liên lạc với tác giả để xin lỗi và nếu phải trả phí bản quyền bao nhiêu tôi cũng chấp nhận”- ông Lý Kính Hiền nói.

Trao đổi với chúng tôi, Ông Vũ Đình Thân, Giám đốc Công ty TNHH Gia Vũ, cho biết: “Năm 2004, chưa ai để ý đến Luật Bản quyền nên khi Lý Kính Hiền nói cuốn sách này hay, muốn in để phát hành rộng rãi, tôi đồng ý hợp tác ngay và làm cuốn sách trong vòng 3 năm”.

Năm 2009, phía Hàn Quốc đã liên lạc và muốn hợp tác tái bản cuốn sách trên nhưng ông Thân không dám nhận vì phát hiện Lý Kính Hiền chỉ dịch chứ không phải là tác giả.

“Đáng ra Lý Kính Hiền phải xin phép tác giả trước khi làm cuốn sách. Giờ tôi cũng chỉ biết xin lỗi và rất mong được hợp tác với tác giả thật sự để tái bản cuốn sách trên vì đây là cuốn sách rất có ích cho sinh viên”- ông Thân nói.

Cuốn sách Từ điển ngữ pháp tiếng Hàn được phát hành 2.000 cuốn, chi phí mà Công ty TNHH Gia Vũ trả cho ông Lý Kính Hiền là 30.000 đồng/trang, tổng cộng là 22.920.000 đồng.

PGS-TS Võ Văn Sen, Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia TPHCM): Sẽ xử lý kỷ luật

Anh Lý Kính Hiền là giảng viên trẻ, có thể chưa hiểu hết về vấn đề bản quyền nhưng hành động trên rõ ràng là không tốt.

Là cơ quan chủ quản, khi giảng viên có khuyết điểm, chúng tôi có trách nhiệm xử lý kỷ luật, với trường hợp anh Lý Kính Hiền là vấn đề tư cách người thầy. Hơn nữa, đây là vấn đề đạo đức trong nghiên cứu khoa học.

Nhà trường sẽ yêu cầu anh Lý Kính Hiền viết tường trình và sẽ xem xét mức độ kỷ luật, hình thức kỷ luật cao nhất là sa thải cán bộ.

PGS-TS Đặng Ngọc Lệ, Phó Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học Việt Nam: Cần phải lên án

“Đạo” sách là cách nói đẹp thôi, thực chất đây là vấn đề ăn cắp. Đã là ăn cắp thì hành động dù nhỏ hay lớn đều cần phải lên án. Đặc biệt, đây lại là vấn đề vi phạm đạo đức.

Một giảng viên ĐH “đạo” sách thì không thể đủ tư cách đứng trên bục giảng, nhưng tùy từng trường hợp cụ thể để xem xét.

Giải pháp để chấm dứt tình trạng vi phạm tác quyền là cần phải thực thi đúng pháp luật quyền sở hữu trí tuệ mà Nhà nước đã ban hành.

Theo Người lao động