Một bài tư liệu hay, đáng xem ( về chiến lược của Mỹ và Tây Âu với TQ)

Khối siêu uyền lực Thế giới” sẽ xé Trung Quốc thành 5 nước nhỏ! 1Sau khi Thượng Viện Hoa Kỳ ra Nghị Quyết số 412 ngày 10-7-2014 cảnh cáo TQ và đòi TQ phải rút Giàn Khoan ra khỏi Biển Đông nơi tranh chấp với VN; ngày 11-7-2014, ông Michael Fuchs, Phó Trợ Lý Ngoại Trưởng Hoa Kỳ phụ trách Chiến Lược và Quan Hệ Địa Phương khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, bày tỏ quan ngại sâu sắc về tình hình ở Biển Đông và chỉ trích kiểu hành xử khiêu khích của Trung Quốc tại đây Đọc tiếp

Hà Nội có vượt nổi cuộc oanh tạc thời hiện đại?

Bài của anh đăng trên tuần báo The Observer Magazine dưới chuyên mục mang cái tên hiền lành: “Chuyện của những người lữ hành” song đầu đề là “Liệu cuộc oanh tạc của bê tông có vượt lên máy bay B52 Mỹ mà huỷ diệt Hà Nội?”.

Xem bài 1 và các bài khác cùng chủ đề: Khách quốc tế “nói thật lòng” về Hà Nội Đọc tiếp

Có phải các nhà khoa học VN không biết nghiên cứu ( bài st, đáng tham khảo)

Có phải các nhà khoa học Việt không biết nghiên cứu?
– Nhiều người thường lấy số lượng “rất lớn” các đơn vị nghiên cứu và phát triển (R&D), đặt bên cạnh số lượng “ít ỏi” các bằng sáng chế rồi vội vàng kết luận rằng các nhà khoa học của Việt Nam chẳng biết nghiên cứu là gì.
Thực tế không hẳn như vậy.
Người Việt thường hay nhìn vào con số để suy đoán và kết luận. Vậy, hãy xem những con số có thể cho ta biết những gì.
Việt Nam có bao nhiêu người làm R&D?
Câu hỏi đầu tiên cần trả lời là, Việt Nam có bao nhiêu người đang thực sự làm công việc R&D?

Hoạt động nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam thực sự còn yếu kém.
Đúng là theo thống kê, Việt Nam có khoảng gần 2.000 đơn vị có hoạt động R&D trong đó có khoảng 700 đơn vị trực thuộc các bộ, ngành và hơn 1.000 đơn vị khác thuộc địa phương. Tuy nhiên, đây chỉ là con số ở bề nổi.
Theo thống kê của Bộ KH&CN, tính đến hết năm 2011, Việt Nam có 134.780 nhân lực làm công tác R&D, chiếm 0,15% dân số (87,84 triệu dân). Trong số này, số lượng cán bộ nghiên cứu chỉ là 105.230 người, còn lại là cán bộ kỹ thuật, cán bộ hỗ trợ. Song, đây vẫn là những con số ở bề nổi.
Thống kê của Bộ KH&CN cho thấy, số cán bộ làm công tác nghiên cứu này chủ yếu tập trung ở các trường đại học, với 52.997 người, chiếm tới hơn 50%.
Theo quy định, các giảng viên tại các trường đại học chỉ dành từ 400-600 giờ (tùy cấp bậc giảng viên) cho hoạt động nghiên cứu trong tổng số 1.760 giờ làm việc mỗi năm. Nghĩa là, các giảng viên đại học chỉ dành từ 22-34% thời gian cho việc nghiên cứu mà thôi.
Với con số này, nếu quy đổi một cách tương đối sang số người tương đương toàn thời gian (FTE) thì nhân lực hoạt động nghiên cứu tại các trường đại học chỉ tương đương với 15 ngàn người.
Tuy vậy, đây cũng chỉ là con số lý thuyết khi thời gian xuất hiện tại các lò luyện thi hay tham gia các hoạt động kinh doanh khác của các giảng viên luôn hấp dẫn hơn nhiều so với việc đầu tư cho hoạt động nghiên cứu.
Như vậy, số nhân lực dành cả ngày cho hoạt động R&D tại Việt Nam thực chất chỉ vào khoảng 67.233 người. Trong số đó, số người làm việc tại các viện, trung tâm R&D chỉ khoảng 15 ngàn người.
Còn lại, 15 ngàn người làm việc tại các doanh nghiệp, 30 ngàn người khác làm việc ở các trường đại học, các đơn vị sự nghiệp, cơ quan hành chính và các tổ chức phi lợi nhuận khác.
Con số hơn 67 ngàn nhà nghiên cứu đương nhiên không phải là con số nhỏ. Nhưng hãy làm thử một phép so sánh.
Với 67 ngàn nhà nghiên cứu thì tỉ lệ nhà nghiên cứu trên 1 triệu dân tại Việt Nam vào khoảng 762 người. Còn đây là con số tại các quốc gia mà người ta hay lấy ra so sánh với Việt Nam, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB): Mỹ: 4.650 người (2007), Trung Quốc: 936 người (2011), Hàn Quốc: 5.451 người (2010), Singapore: 6.307 người (2010), Malaysia: 1.643 người (2011)…
Nếu tính ra con số tuyệt đối, vào năm 2007, nước Mỹ có 1,4 triệu nhà nghiên cứu, Trung Quốc có 1,25 triệu nhà nghiên cứu vào năm 2011 và vào năm 2010 Hàn Quốc có 265.809 nhà nghiên cứu, cao gấp 4 lần so với Việt Nam.
Đó là mới nói tới các nhà nghiên cứu, con số cán bộ kỹ thuật (technicians) tại Việt Nam còn thê thảm hơn.
Theo thống kế của Bộ KHCN, năm 2011, Việt Nam có khoảng 9.781 người. Suy ra, tỉ lệ số cán bộ kỹ thuật trên 1 triệu dân vào khoảng 111 người/1 triệu dân. Còn đây là con số tại các quốc gia khác: Hàn Quốc: 981 người/1 triệu dân (2010), Malaysia: 158 người/1 triệu dân…
Như vậy, có thể thấy rằng, số người làm công việc nghiên cứu và kỹ thuật tại Việt Nam là cực kỳ ít ỏi so với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.
Việt Nam chi bao nhiêu cho R&D?
Giờ, chúng ta sẽ nói về số tiền mà Việt Nam đang chi dùng cho hoạt động R&D.
Người ta thường nói về việc Mỹ hay Trung Quốc chi rất nhiều tiền cho hoạt động R&D song lại không biết, Việt Nam đang dùng bao nhiêu tiền cho hoạt động này.

Số tiền Việt Nam chi cho hoạt động R&D hàng năm thấp hơn nhiều so với các quốc gia khác.
Theo thống kê của Bộ KHCN, năm 2011, tổng chi quốc gia cho hoạt động R&D của Việt Nam (GERD) là 5.293 tỷ VND (tương đương 0,25 tỷ USD). Như vậy, tỉ lệ chi quốc gia cho R&D trên GDP của Việt Nam khoảng 0,21%.
Hãy thử đặt con số này bên cạnh các quốc gia khác. GERD của Mỹ năm 2011 là 2,77%, cao gấp 13 lần Việt Nam. Tính ra con số thực tế, số tiền mà Mỹ đầu tư cho hoạt động R&D vào khoảng 450 tỷ USD, cao hơn Việt Nam 1.785 lần.
Bạn nghĩ rằng, Hoa Kỳ là quốc gia phát triển, chuyện hơn Việt Nam là đương nhiên? Chúng ta hãy thử so sánh với anh bạn láng giềng Trung Quốc.
GERD của Trung Quốc năm 2011 là 1,84%, cao gấp 8,7 lần so với Việt Nam. Tính theo con số thực tế, số tiền mà Trung Quốc đầu tư cho hoạt động R&D vào khoảng 250 tỷ USD, cao gấp 992 lần so với Việt Nam.
Không nói chuyện với những nước lớn như Mỹ và Trung Quốc, chúng ta so với các quốc gia nhỏ hơn vậy. GERD của Hàn Quốc vào năm 2010 là 3,74%, tương đương khoảng 33,7 tỷ USD, gấp 133 lần so với Việt Nam. GERD của Malaysia vào năm 2011 là 1,07%, tương đương 2,65 tỷ USD, cao gấp 10 lần so với Việt Nam.
Một điểm cũng đáng lưu ý là nguồn tiền cho hoạt động R&D ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là do nhà nước tài trợ, chiếm 64%, các doanh nghiệp chỉ chiếm 28% trong tổng chi. Trong khi đó, nguồn tiền cho hoạt động R&D tại các quốc gia khác, nhất là các quốc gia phát triển chủ yếu đến từ doanh nghiệp.
Chúng ta lại làm một phép so sánh. Tỉ lệ cấp tài chính cho hoạt động R&D tại Trung Quốc vào năm 2011 là 77,3% từ doanh nghiệp còn chính phủ chỉ chiếm 24,26%. Tại Hàn Quốc, vào năm 2010, 71,8% nguồn tiền cho R&D đến từ doanh nghiệp, chính phủ chỉ chiếm 26,75%.
Khi R&D vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ trong ngân sách và khi nó vẫn được coi là hoạt động “đã có Đảng và Nhà nước lo” thì lẽ đương nhiên, R&D tại Việt Nam có muốn phát triển cũng sẽ rất khó.
Vì sao Việt Nam lại ít bằng sáng chế?
Cuối cùng, chúng ta nói tới số lượng bằng sáng chế (Patent Cooperation Treaty – PCT) ít ỏi của Việt Nam được đăng ký với thuộc Tổ chức sở hữu trí tuệ quốc tế (WIPO).
Trước hết, hãy xem mỗi người dân và nhà nghiên cứu tại Việt Nam được chi bao nhiêu cho hoạt động R&D mỗi năm.

Bình quân kinh phí R&D trên đầu cán bộ nghiên cứu của Việt Nam thấp hơn rất nhiều so với các nước khác.
Theo Bộ KHCN, GERD của Việt Nam trên đầu người năm 2011 khoảng 7 USD ppp (USD theo sức mua tương đương, con số thực tế thấp hơn nhiều) chưa bằng 1/2 so với Thái Lan (16,53 USD) và chỉ bằng 1/10 của Malaysia năm 2006 (78,63 USD) và chỉ bằng 1/20 so với Singapore năm 2009 (1.324 USD).
Nhiều người sẽ nói rằng, nước ta đông dân mà ngân sách cho nghiên cứu thì ít, đương nhiên, bình quân trên đầu dân sẽ thấp. Tuy nhiên, con số chi hoạt động R&D trên đầu cán bộ nghiên cứu cũng không khá hơn.
Theo con số của Bộ KHCN, kinh phí nghiên cứu trung bình cho một cán bộ nghiên cứu của Việt Nam vào khoảng 50 triệu/năm (khoảng 2.358 USD). Trong khi đó, ở quốc gia ngay cạnh chúng ta, Malaysia, trung bình, mỗi nhà nghiên cứu được đầu tư 57,6 ngàn USD/năm, cao gấp 24 lần so với Việt Nam.
Con số này càng cách biệt khi chúng ta so sánh với Singapore. Vào năm 2010, Singapore chi 2,09% GPD cho hoạt động R&D, khoảng 4 tỷ USD. Như vậy, trung bình, mỗi nhà nghiên cứu của Singapore nhận được 126 ngàn USD/năm, cao gấp 53 lần so với Việt Nam.
Điểm đáng nói là, theo thông báo chính thức của WIPO, để có thể đăng ký PCT quốc tế, chủ nhân của các bằng sáng chế phải đóng một khoản phí tương đương 2 ngàn USD, gần bằng toàn bộ số kinh phí được cấp cho hoạt động R&D trong vòng 1 năm của cán bộ nghiên cứu.
Người xưa từng nói: “Có thực mới vực được đạo”, với nguồn kinh phí như vậy thì thật khó để đòi hỏi các nhà nghiên cứu chạy đua đăng ký những bằng sáng chế quốc tế để “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” được.
Tạm kết
Những điều bất thường luôn là miếng bánh hấp dẫn với truyền thông. Do vậy, chẳng có gì là lạ khi việc một người nông dân chế tạo máy gặt lúa được báo chí quan tâm nhiều hơn là một nhà khoa học Việt Nam xuất khẩu được một dây chuyền sản xuất sang Nhật Bản. Tuy nhiên, nếu như từ đó mà kết luận rằng, các nhà khoa học Việt chỉ biết “uống trà và tán phét” thì e là có phần hơi vội vàng.
Đã đành, hoạt động R&D tại Việt Nam còn rất yếu kém, không chỉ so với các quốc gia phát triển trên thế giới mà ngay cả với các quốc gia láng giềng. Song, trước khi đặt câu hỏi về khả năng nghiên cứu của các đơn vị R&D, cũng cần đặt câu hỏi nghiêm túc về nhận thức của doanh nghiệp, các đơn vị quản lý nhà nước cũng như truyền thông về vai trò của R&D tại một quốc gia như Việt Nam.
Lê Văn
Hơn 9.000 giáo sư sao không có bằng sáng chế?
Những nhà khoa học nữ vô danh góp phần thay đổi thế giới
Nhà khoa học bỏ viện, nông dân thành kỹ sư
Để được nghiên cứu, nhà khoa học phải biết “lác

Trần Đăng Khoa nhớ về Tô Hoài ( tư liệu tham khảo)

NHỚ BÁC TÔ HOÀI
(Trần Đăng Khoa)

Tôi rất mê ông. Mê từ khi mới lẫm chẫm bước chân đến trường. Hồi đó tôi đã có thơ tặng ông, dù chưa từng được nhìn thấy ông ở trong đời thực. Đó là dịp tháng 4 – 1967, tình cờ tôi đọc được một truyện ngắn viết cho trẻ em của ông. Cái truyện có tên là Ò… ó… o… Truyện kể một cậu bé ở thành phố, về nghỉ hè ở nhà bà ngoại. Bà sống ở quê. Suốt ngày cậu chạy nhảy, vui chơi với bao trò chơi thú vị mà ở thành phố không có. Mới chập tối, mệt quá, cậu thiếp đi. Ngủ chưa được bao lâu, mắt vẫn cay sè, đã nghe gà gáy inh ỏi. Ngoài cửa nhờ nhờ. Cậu bé nhìn ra, thấy bà vẫn cặm cụi thái lá dâu cho tằm, dì vẫn kì cạch dệt lụa. Chưa có ai đi ngủ cả. Trời mới tối được một lúc. Thế sao gà đã gáy? À, đấy là mấy chú gà nhầm, thấy ánh điện nhà máy bên kia sông hắt sang, gà tưởng sáng nên thi nhau gáy. Cái truyện chỉ có thế. Nhà văn Tô Hoài ca ngợi sự đổi mới của nông thôn. Đấy là một chủ đề khá phổ biến trong văn chương Việt Nam những năm sáu mươi. Hồi ấy, tôi rất thích cái truyện ngắn này. Cái truyện gợi cho tôi viết bài thơ Ò…ó…o… với nội dung khác hẳn. Nhưng “ò…ó…o…” là chữ của Tô Hoài. Trong sách Tập đọc lớp ba của chúng tôi thời ấy, tả tiếng gà, người ta lại dùng chữ “cúc cù cu”. Một bài Học thuộc lòng thời ấy thế này: “Cúc cù cu! Cúc cù cu! Sáng rồi đây.Nông dân vác cuốc vác cày. Ra đồng cày cuốc cho đầy nồi cơm”…Những bài học thời ấy phải nói là rất nôm na, dễ dãi. “Cúc cù cu” là tiếng chim bồ câu gù chứ không phải tiếng gà. Nếu lấy tiếng chim bồ câu để báo sáng thì không phổ cập. Vì chỉ những gia đình trung nông trở lên mới nuôi chim bồ câu. Còn với những người nông dân “Vác cuốc vác cày. Ra đồng cày cuốc cho đầy nồi cơm” thì chỉ tiếng gà mới gần gũi với họ. “Ò… ó… o…” quả là một đóng góp của Tô Hoài. Tôi lấy mấy chữ ấy của ông. Và để tỏ lòng biết ơn ông, sau tên bài Ò… ó… o… tôi đã ghi một dòng rất trang trọng : “Kính tặng chú Tô Hoài”, dù lúc ấy, tôi chưa từng gặp ông, và ông cũng chẳng biết tôi là cái thằng bé cha vơ chú váo nào…
Tô Hoài là một nhà văn lớn, một ông khổng lồ với số lượng tác phẩm thật đồ sộ. Ông viết đủ các thể loại: từ tiểu thuyết, truyện vừa, bút ký, ký sự, truyện ngắn, hồi ký, tự truyện, tiểu luận phê bình, truyện viết cho thiếu nhi, cho đến cả các bài báo ngắn, các bài điểm sách chỉ bằng một… bàn tay trẻ con. Tô Hoài thực sự là nhà văn chuyên nghiệp. Nghĩa là ông hoàn toàn sống được bằng nghề văn. Ngồi đâu, ông cũng viết được văn, kể cả trong những lúc hội họp. Có người còn kể rằng, trong một hội nghị quốc tế sang trọng, Tô Hoài ngồi ghế chủ tịch đoàn điều hành cuộc họp. Người ta ngạc nhiên khi thấy ông cứ lật sổ viết nhoay nhoáy. Tưởng Tô Hoài ghi biên bản hội nghị. Hoá không phải. Ông đang viết tiểu thuyết. Không ít tác phẩm nổi tiếng của Tô Hoài đã ra đời trong những hoàn cảnh đặc biệt như thế. Ta hiểu vì sao Tô Hoài có được một lượng sách thật đồ sộ: 215 tác phẩm, nhiều hơn gấp đôi số tuổi đã sống trên trần gian của ông. Đó là một con số kỷ lục mà không phải nhà văn lớn nào trên thế giới cũng có thể đạt tới được.
Tô Hoài là nhà văn không có tuổi già. Ở ông không có dấu hiệu của tuổi già. Một trí tuệ tỉnh táo và thông minh đến mức… tinh quái. Ông cũng là trường hợp duy nhất ở Việt Nam: Là một nhà văn lớn, một học giả lớn, với kiến thức khổng lồ, mà trình đọ học vấn chỉ ở bậc … Tiểu học. Nói đúng ra, như ông kể với tôi, ông mới chỉ học hết lớp …ba, rồi đi kiếm sống. Cuộc sống chính là trường học lớn của ông. Ông bảo: “Đã là nhà văn thì phải có nhân vật và chi tiết. Mà chi tiết với nhân vật thì chỉ có ở trong cuộc sống thôi”. Đời sống chính là trường học vĩ đại của Tô Hoài.
Trong đời, may mắn sao, tôi cũng đã có dịp sống cùng Tô Hoài trong suốt nửa tháng ở Nhà Sáng tác Đại Lải, Vĩnh Phúc. Đó là dịp Bộ Giáo dục mời Ban Giám khảo cuộc thi viết về nhà giáo và Nhà trường. Trong Ban Giám khảo, gồm toàn những nhà văn lớn, Tô Hoài cao tuổi nhất, còn tôi lại là gã ít tuổi nhất. Bởi thế, Ban Tổ chức đã xếp tôi ở cùng phòng với ông, để giúp ông những việc lặt vặt. Tôi cũng rất khoái vì có dịp được chiêm ngưỡng bác …Dế Cụ, cha đẻ của chàng…Dế Mèn. Tôi rất kinh ngạc khi Tô Hoài ngủ rất sớm. Chưa đến tám giờ tối, ông đã ngủ rồi. Ngủ hồn nhiên như một …chú bé 14 tuổi. Không ngáy, cũng không trằn trọc như một người già. Ông ngủ thẳng một mạch cho đến ba giờ sáng thì lặng lẽ dậy, rồi đi lại ru như một chú mèo nhung. Ông che đèn để không ảnh hưởng đến người bên cạnh và bắt đầu đọc. Ông đọc rất nhiều, nhưng toàn đọc báo lá cải và những tờ báo chuyên ngành rất xa với văn chương. Ông bảo, ông không bao giờ xem truyền hình. Chỉ nghe Đài Tiếng nói Việt Nam. Đi đâu, ông cũng mang theo cái đài nhỏ. Vậy mà không biết ông thu nạp kiến thức từ đâu. Chạm đến lĩnh vực nào ông cũng biết và biết rất thấu đáo. Ngay cả những cây cỏ quanh ta, như cây phi lao, rảnh bèo tây, hay cỏ lồng vực, ông có thể nói một cách rành rẽ chúng xuất phát từ đâu, xuất hiện ở Việt Nam bắt đầu từ năm nào? Tô Hoài như một Từ Điển sống, một pho sách sống. Ông như cuốn Bách khoa Toàn thư mà không Viện sĩ nào, không Học giả nào có thể sánh được. Tôi đã có dịp tò mò hỏi ông về Hà Nội và rất ngạc nhiên. Tôi không ngờ ông hiểu Hà Nội sâu sắc đến thế. Tôi gọi ông là Nhà Hà Nội học, dù ông không nghiên cứu.
– Không! Tôi không phải là nhà Hà Nội học. – Nhà văn Tô Hoài cười – Tôi hiểu Hà Nội thì cũng là hiểu một cách rất tự nhiên thôi. Tôi sinh ở Hà Nội. Hà Nội trước thế nào thì bây giờ tôi thấy nó cũng vẫn như thế…
– Nghĩa là không có gì đổi khác ư?
– Có chứ! Nhưng đó là những khu vực ngoại thành và những khu mới mở, như đường Hoàng Quốc Việt, hay các khu phố mới. Còn các khu phố cũ vẫn thế. Nhà cửa có thể khác tý chút, có tân trang hơn hoặc nâng thêm tầng, nhưng đường phố vẫn vậy, nên phố phường Hà Nội, về cơ bản vẫn không có gì thay đổi. Ngày xưa thế nào thì bây giờ vẫn thế. Tôi có thể nhắm mắt đi đến khu phố nào cũng được. Vỉa hè vẫn vỉa hè cũ. Ở các phố Ngô Quyền, Hàng Khay, Tràng Tiền, Hàng Bài, hay Nguyễn Xí, Đinh Lễ, đầu vỉa hè còn bọc đá xanh. Đấy là vỉa hè xưa, vỉa hè đầu tiên của Hà Nội đấy. Đá bọc vỉa hè là đá lấy từ núi Thầy, núi Trầm. Lý do dùng đá ốp vỉa hè cũng đơn giản, vì dạo ấy ta chưa có lắm xi- măng. Đi trên đường Hà Nội, tôi thấy quen thuộc vô cùng. Cả hệ thống cống ngầm bên dưới cũng thế, cũng vẫn là hệ thống cũ. Vì thế, bây giờ mưa, đường Hà Nội ngập úng là tất nhiên, vì quá tải. Hệ thống cống ngầm xưa chỉ đủ phục vụ cho mấy vạn người. Đến bây giờ là 5 – 6 triệu người. Một thằng bé cõng cả một ông Khổng lồ thì điều gì đến tất sẽ đến. Có gì đâu mà lạ. Ta còn thấy những nắp cống tròn còn nguyên cả dòng chữ Marseille. Đó là nắp cống đúc từ bên Pháp, rồi mang sang bán ở ta. Hồi bấy giờ, ở phố Quán Thánh, ngay cạnh đền Quán Thánh bây giờ, Pháp còn mở công ty Sacric. Đấy là công ty gạch ngói Đông Dương. Khu sản xuất khá rộng, đến mấy ngàn mét vuông. Đất sét đóng gạch lấy ở Quán La, bên kia Tây Hồ, rồi dùng thuyền chở sang. Thuyền bè bấy giờ tấp nập lắm. Đúng là trên bến dưới thuyền.
– Thế còn Hồ Tây bây giờ thì sao?
– Bây giờ Hồ Tây bị thu hẹp lại vì trò lấn đất. Trước đây rộng lắm. Ngút ngát cả một vùng trời nước. Xung quanh hồ, um tùm cây lá rậm rạp. Ven bờ, người ta còn thả sen. Nhiều sen lắm. Sau bỏ sen để nuôi cá mè, vì cá mè hay rúc vào bãi sen, tróc vảy chết. Trước đây, ở Hồ Tây không có cá mè đâu. Người ta chỉ thả một loại cá trắm. Cá mè tanh. Dân Hà Nội không ăn, nên chỉ có ở ao quê.
– Thế còn các khu phố Hà Nội thì sao bác?
– Địa giới Hà Nội xưa rất hẹp. Đi hết trường Chu Văn An bây giờ đã là đất Hà Đông rồi. Làng Yên Phụ cũng thuộc đất Hà Đông. Người Pháp xưa đặt tên Đường, tên Phố rất rành rẽ. Phố là địa giới nằm trong khu vực nội thị, còn Đường là nối với các tỉnh khác. Cuối Đường đã là tỉnh khác rồi. Ví như Đường Huế nối với Hà Đông, Đường Hàng Bột, hay Đường Bạch Mai cũng thế. Cuối đường là địa phận của tỉnh khác. Về mặt hành chính, Hà Nội được chia ra làm bốn khu. “Khu phố cổ”, bao gồm địa danh của 36 phố phường xưa, như Hàng Buồm, Hàng Bạc, Hàng Thiếc vv… Rồi “khu phố cũ” là khu phố xây dựng từ thời Tây, có những biệt thự kiểu Tây, như phố Hàng Khay, Tràng Thi, Bùi Thị Xuân, Huyền Trân Công Chúa, Phan Đình Phùng, hai bên đường, có vỉa hè xây và trồng cây hai bên, cành lá giao nhau, nói như cụ Phạm Quỳnh, và dùng chữ của Cụ Phạm thì đấy là “đường thông cù”. Đó là khu ở của những ông Tham, ông Phán hoặc dân nhà giàu…”Khu phố mới”, là khu phố được nới ra, xây dựng sau này. Còn khu thứ tư là “khu dưới bãi”, nơi ở của dân cu ly cu leo…
– Chắc đó là vùng Nghi Tàm, Yên Phụ bây giờ?
– Không, từ Yên Phụ đến Nghi Tàm xưa là đất trồng dâu, trồng ngô. Còn khu dưới bãi là vùng An Dương, Chương Dương, Long Biên bây giờ…
– Bác vừa nói đến phố cổ. Tôi thì lại ngờ ngợ rằng, hình như Hà Nội mình, trừ các chùa chiền và Văn Miếu, một công trình kiến trúc có tuổi thọ ngót một ngàn năm, sau được trùng tu, tôn tạo qua rất nhiều đời, còn thì chúng ta không có phố cổ mà chỉ có phố cũ. Bao gồm cả phố cũ xưa ta xây và phố cũ sau này Tây xây. Đó là Ba mươi sáu phố phường xưa và những khu phố có biệt thự Tây như bác vừa nói. Bởi vì những khu phố đó có rất nhiều nhà chỉ xây cách đây chừng hơn một trăm năm thì sao lại gọi là phố cổ được? Ở Nga, có những thành phố cổ như Xuzđan xây dựng cách đây hơn 11 thế kỷ, trong đó có những căn nhà gỗ, tường xếp bằng nguyên cả những cây gỗ, mái cũng lợp gỗ. Trong nhà vẫn còn nguyên cả những đồ đạc có cách chúng ta 1200 năm. Ở ta, nếu có phố cổ thì đấy chính là Hội An. Một khu phố rất lạ. Kiến trúc khá độc đáo. Hội An có một vùng văn hoá riêng, một bầu không khí cũng rất riêng biệt. Hàng tháng, cứ vào đêm 14 là người ta tắt hết điện, thắp đèn lồng. Những căn nhà gỗ trông rất cổ kính. Vào trong nhà không khí khác hẳn, nhiệt độ cũng mát hẳn. Người ta lấy gió tự nhiên làm điều hoà nhiệt độ cho cả căn nhà. Ở đó không có AIDS, không có kẻ cắp, trấn lột và những kẻ lừa đảo. Tóm lại, những cái xấu, cái hỗn tạp của những đô thị hiện đại không du nhập được vào khu phố cổ này. Người dân sống giữa một bầu không khí trong vắt như ở hồi thế kỷ 17. Ngay cả việc buôn bán của họ cũng rất lạ lùng. Tôi mua một cái quần bò. Bà chủ quán hỏi rất cặn kẽ: “Chú định mặc một lần hay muốn dùng lâu dài? ” Khi biết tôi thuộc dân “ăn chắc mặc bền”, bà chủ quán khuyên tôi nên sang cửa hàng khác. Không xa đâu. Chỉ cách quán bà có ba nhà thôi. Bà bảo đồ của bà không tốt. Chỉ qua vài lần giặt là vải xù ra. Tôi không thấy ở đâu có người bán hàng lạ lùng như thế. Nếu đã mua hàng rồi mà không ưng, hôm sau có thể mang trả lại. Người bán sẽ hoàn lại nguyên tiền, không bớt đi một xu, cũng không hề tỏ vẻ trách móc. Đấy là buôn bán theo lối cổ, ở một thời xã hội còn trong veo. Hà Nội chẳng bao giờ có chuyện như thế…
– Nói Hà Nội không có phố cổ thì cũng không hẳn. – Nhà văn Tô Hoài nói – Hà Nội không có khu phố cổ nhưng có nhà cổ. Ví như nhà số 38 Hàng Đào và 87 Mã Mây. Hai ngôi nhà cổ này đã được Pháp đầu tư tài trợ để bảo tồn. Có thể rất dễ dàng nhận ra nhà cổ. Nhà cổ có hai cửa. Cửa trước dành cho chủ nhà đi. Cửa sau dành cho gia nhân, đầy tớ, hoặc chuyển phân rác và đồ phế thải. Hà Nội xưa có những vùng riêng biệt. “Thành thị” không phải là một từ chung đâu. Đó là hai khu cụ thể. “Thành” là nơi vua quan ở, còn “Thị” là nơi ở của dân chúng, chủ yếu là dân buôn bán, phục vụ cho “Thành”. Vua quan trong thành thỉnh thoảng ra đường, nên thường qui định dân chúng chỉ được ở nhà trệt, không làm nhà gác, hoặc nếu có nhà gác thì không được trổ cửa sổ hoặc làm ban-công chìa ra đường, vì vua quan đi ở bên dưới. Không ai được đứng trên đầu vua. Bởi thế, nhà cổ không có ban công hoặc cửa sổ trổ ra đường. Tôi cũng đồng ý với anh Dương Trung Quốc là chúng ta nên xác định rõ đâu là nhà cổ để gìn giữ, trùng tu, còn đâu là những ngôi nhà cũ để cho dân được tôn tạo, nâng cấp, hoặc xây dựng lại. Bởi nhiều nhà tối tăm, xập xệ quá. Thực chất đó là những khu nhà ổ chuột. Đã thế, vệ sinh lại không bảo đảm, vừa ô nhiễm môi trường, vừa làm mất cảnh quan đô thị…
– Ở Hà Nội, trong số 36 phố phường như bác nói, có những tên phố rất lạ: Hàng Đường, Hàng Quạt, Hàng Nón, Hàng Mắm, Hàng Thiếc, Hàng Thùng, Hàng Buồm, Hàng Trống… Nghe cứ như tên các quán hàng. Có cảm giác Hà Nội là một cái chợ khổng lồ. Chắc ngày xưa mỗi khu phố là một nơi sản xuất và buôn bán các mặt hàng riêng biệt. Ví như Hàng Rươi bán rươi, Hàng Mắm bán… mắm chẳng hạn?
– Không hẳn thế đâu – Nhà văn Tô Hoài cười – Có rất nhiều mặt hàng, người ta sản xuất ở quê, ở Hà Đông và các vùng phụ cận, rồi đem ra bán ở Hà Nội. Như đồ gò đúc đồng, rồi guốc dép, mũ nón. Trước đây, Hà Nội còn có phố Hàng Tiện và phố Hàng Dép nữa. Đó là hai phố nhỏ. Phố Hàng Tiện ở bên Hàng Gai trông ra phía Bờ hồ, phố Hàng Dép ở đầu Hàng Buồm. Hai phố này, năm 1945 bị phá huỷ trong những cuộc giao tranh với Pháp, rồi cũng từ đấy bị mất phố luôn.
– Thế còn những phong tục tập quán ở Hà Nội?
– Hà Nội không có phong tục tập quán gì cả. – Nhà văn Tô Hoài giải thích – Trước đây, Hà Nội là đất nhượng địa cho Tây. Một anh đi ăn cắp chẳng hạn, nếu bị xử ở Hà Nội có thể sẽ rất nhẹ, nhưng nếu xử ở Hà Đông, trong toà án An Nam thì nặng hơn nhiều. Hà Nội theo luật lệ riêng của Tây. Muốn làm gì cũng phải xin phép Tây. Ngay cả việc dạy học tư, cứ có từ năm học sinh trở lên là đã phải xin phép. Muốn có hội hè đình đám là phải tập hợp rồi. Tây rất ngại sự tụ tập của dân chúng. Nó sợ ta gom quân đánh nó. Vì thế đình đám chỉ có thể tổ chức được ở các làng quê. Mà không phải làng quê nào cũng có hội đâu. Hội hè rước xách còn phụ thuộc vào sự tích của các ông Thánh ở làng. Không phải làng nào cũng có ông Thánh, nên không thể cứ rước xách tùm lum được. Làng Nghĩa Đô quê tôi cùng lắm cũng chỉ làm được một đêm chèo.
– Nếu cần nói thật ngắn gọn về tính cách người Hà Nội thì bác sẽ nói thế nào? Thanh lịch hào hoa chăng? Ca dao xưa: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài – Chẳng thanh lịch cũng là người Tràng An”?
– Hà Nội do dân tứ phương lập lên. Người Hà Nội gốc có lẽ chỉ là mấy anh đánh cá ở sông Tô Lịch. Mà Tô Lịch chỉ còn là một phế tích. Chẳng có ai sống ở Hà Nội được đến mười đời. Vì thế muốn hiểu tính cách người Hà Nội, ta phải tìm hiểu tính cách chung của người Việt Nam, rồi nghiên cứu cá tính người thành thị thì mới ra tính cách người Hà Nội. Tất nhiên người Hà Nội có nét hào hoa phong nhã, nhưng đấy không phải tận gốc mà là tinh hoa của nhiều vùng đất tạo nên. Dân Hà Nội là dân tứ chiếng. Vì thế, ở Hà Nội tuyệt nhiên không có chuyện cục bộ địa phương. Bất cứ ai cũng có thể về làm Lãnh đạo Hà Nội. Tôi cho đó cũng là một nét rất hay của Hà Nội.
– Bác đã nói Hà Nội trước đây thế nào thì bây giờ vẫn thế…
– Đúng vậy. Chỉ bổ sung thêm mà ít thay đổi. Về cơ bản, ta vẫn giữ nguyên như cách bố trí, sắp đặt của ông Trần Văn Lai.
– Xin bác nói rõ hơn được không?
– Trần Văn Lai là một bác sĩ. Ông là người tốt, người yêu nước. Chính vì thế, thực dân Pháp đã bỏ tù ông. Tháng Ba năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, ông được ra tù và được mời làm Thị trưởng thành phố. Trần Văn Lai chỉ làm Thị trưởng có 5 tháng, từ tháng Ba đến tháng Tám năm 1945, nhưng ông đã làm được hai việc rất cơ bản. Một là đập hết các tượng đài của Pháp, chỉ để lại hai tượng bán thân là tượng Yersin và tượng Pasteur. Hai là thay lại các tên phố. Trước đây, phố Hà Nội hầu hết mang tên Tây, hoặc tên những người Việt có công với Tây. Một số danh nhân của ta cũng được đặt tên, nhưng lại ở những phố tồi tàn, bẩn thỉu, hoặc hẻo lánh. Ông Trần Văn Lai thay lại hết. Tất nhiên, ông thạo võ hơn văn. Dân văn chương thì ông chỉ biết Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm cho đến Tú Xương là hết. Dân võ ông biết nhiều hơn. Tất cả những người ông biết, ông đều đặt hết tên phố. Đặc biệt, ông rất yêu các vị võ tướng. Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản, Yết Kiêu, Dã Tượng, Bùi Thị Xuân, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học… Toàn là các võ tướng lừng danh cả. Rồi lại cả Ba Đình nữa. Tôi có đọc trong một tờ báo, thấy có anh giải thích rằng trước đây ở khu Quảng trường này có ba… cái đình nên Quảng Trường mang tên Ba Đình. Thật buồn cười. Làm gì có cái đình nào ở đấy cơ chứ. Ba Đình là nơi có cuộc khởi nghĩa của ông Đinh Công Tráng ở Thanh Hoá. Quảng trường mang tên cuộc khởi nghĩa ấy. Sau này, ta định đổi thành Quảng trường Độc Lập để ghi nhớ ngày 2-9-1945. Nhưng Cụ Hồ không đồng ý. Cụ bảo, mình đã tuyên bố với thế giới là Tuyên ngôn Độc lập đọc ở Quảng trường Ba Đình rồi, giờ không nên thay đổi nữa. Pháp tái chiếm Hà Nội, chúng thay là Quảng trường Hồng Bàng. Sau khi ta thắng Pháp, Quảng trường trở lại tên Ba Đình, đúng như cái tên ông Trần Văn Lai đã đặt.
– Thế còn việc phá bỏ tượng đài?
– Hà Nội cũ rất lắm tượng. Riêng tượng hoành tráng, tượng toàn thân đã có khoảng hơn chục cái. Còn tượng bán thân thì rất nhiều. Nhưng cũng đều là tượng Tây, hoặc tượng những người có công với Tây, được dựng nhân ngày kỷ niệm gì đó của Pháp. Như ở vườn hoa Inđira Ganđi bây giờ, trước đây có tượng toàn thân ông Toàn quyền Paul Bert. Rồi tượng Nữ thần Tự do. Cái tượng người đàn bà giơ cao ngọn đuốc dựng ở Hoa Kỳ, thành một danh thắng của Mỹ, do Pháp tặng ấy, trước đây đã có ở Hà Nội rồi. Dân mình gọi nôm na là tượng Bà đầm xoè. Cái tượng này thoạt đầu đặt trên nóc Tháp Rùa ở giữa hồ Hoàn Kiếm. Sau báo chí Pháp chửi ghê quá. Họ cho rằng cái tượng lớn như thế mà lại đặt chênh vênh trên bốn cái cọc sắt thì không được bề thế và chắc chắn. Thêm nữa để đàn bà trùm váy lên đền miếu là không tôn trọng phong tục tập quán của người bản xứ. Bức tượng được đưa về đặt ở vườn hoa Cửa Nam, gần chỗ bục Công an ở chợ Cửa Nam bây giờ. Còn một bức tượng hoành tráng rất đồ sộ nữa đặt ở vườn hoa Canh Nông, chính là khu vực bây giờ mình đặt tượng Lênin.
– Tôi nghĩ rằng, cụ Trần Văn Lai rất hiểu người Việt và người phương Đông nói chung. Dân mình không mặn mà lắm với tượng đài. Yêu ai, sùng kính ai thì họ lập chùa chiền đền miếu để thờ, rồi còn hương khói cúng tế. Không ai cắm hương dưới chân các bức tượng đá ngoài trời cả. Dân mình là dân có tín ngưỡng. Đình chùa, đền miếu mới chính là “tượng đài” của người Việt. Thần linh phải vô hình, phải âm âm u u thì mới thiêng. Thần linh mà phơi mặt ra giữa thanh thiên bạch nhật thì không còn là thần linh nữa. Còn những bức tượng đá ngoài trời là công trình văn hóa phương Tây, nó hợp với văn hoá tập quán và khí hậu phương Tây. Ở ta bão gió, mưa nắng đều rất dữ dằn, chưa kể chim muông nó đỗ lên, có việc gì mà nó không làm. Vì thế chỉ sau vài năm là tượng sứt sẹo, mốc thếch, trông rất nhem nhuốc. Các nhà quản lý văn hóa rất nên nghiên cứu kỹ tâm lý, quan niệm của dân ta và khí hậu cũng như các điều kiện khác của ta trước khi dựng tượng đài. Bỏ ra hàng trăm tỉ đồng dựng những bức tượng mà dân không đến thì có nên không? Thế còn vườn hoa Canh Nông. Thưa nhà văn Tô Hoài, tại sao lại gọi là vườn hoa Canh Nông?
– Cái tên ấy cũng do dân gọi mà thành. Đơn giản thôi, vì ở đấy có cái tượng rất lớn. Cái tượng này được dựng nhân dịp Pháp kỷ niệm cuộc chiến tranh Thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918). Trên đỉnh là một thằng lính Tây và một lính Ta (lính ngụy) cùng chĩa súng bắn vào cột cờ Hà Nội. Dưới là bốn mặt Sĩ, Nông, Công, Thương. Sĩ là ông thầy đồ cắp cái tráp. Công là một anh kéo cái xe cút kít (loại xe một bánh). Thương là một mụ đàn bà te tái gánh đôi quang thúng. Còn Nông là anh thợ cày đang bước sau con trâu. Cái bụng trâu to đùng và anh nông dân đang cày chiềng ra phía đường, nên ai qua cũng thấy. Còn ba mặt Sĩ, Công, Thương chìm trong cây lá và ở phía sau nên nhiều người không biết. Người ta chỉ thấy ở đấy có anh nông dân đang cày nên gọi là vườn hoa Canh Nông. Đằng sau bức tượng là cái đình tám mái, trong có tấm bia đá ghi tên những người Việt có công với mẫu quốc. Cái bia ấy, ông Trần Văn Lai cũng đã cho đập đi. Giờ chỉ còn có mỗi cái đình và một cây đa, trên thân cây đa lại có cây dừa là dấu tích cũ còn lại. Ở Hà Nội có khoảng chục cây chồng lên nhau như thế.
– Bác bảo, Hà Nội về cơ bản vẫn như cũ. Ta chỉ có bổ sung thêm…
– Đúng vậy. Ngoại trừ vùng ngoại ô và những khu mở thêm. Những khu phố ấy rất hiện đại. Còn bên trong, những phố cũ vẫn vậy. Về cơ bản, ta vẫn giữ nguyên. Ngay cả những phố cụ Trần Văn Lai đã đặt tên rồi ta cũng có thể điều chỉnh cho hợp lý. Phố Nguyễn Thái Học, Hoàng Hoa Thám dài quá, có thể cắt ra được. Đã có phố Hoàng Hoa Thám rồi thì không nên có phố Yên Thế nữa, hay đã có phố Nguyễn Thái Học rồi thì còn thêm phố Yên Bái nữa làm gì.
Điều nhà văn Tô Hoài nói, không phải không có lý. Đặc biệt là việc xác định lại cho chính xác phố cổ để trùng tu, còn nhà cũ, phố cũ tồi tàn và xuống cấp quá thì để dân tôn tạo, sửa chữa, hay như việc chỉnh lại những dãy phố quá dài. Trong khi đó, phố Nam Cao lại chỉ có vài số nhà, sao gọi là phố được? Mấy khu phố Pháp vẫn để chờ từ thời Pháp kia, mấy năm gần đây cũng đã được đặt thành tên mới: Phố 334 thành phố Cảm Hội, phố 335 là Đống Mác, phố 325 là Thể Giao, phố 332 là Chùa Vua, phố 336 mang tên Lê Gia Định, phố 337 mang tên Đỗ Ngọc Du, phố 339 vẫn mang tên Yên Bái, phố 358 là Núi Trúc, phố 356 là Thanh Bảo. Đã đến lúc chúng ta cũng cần chỉnh lại cho hợp lý.
Ngắm Thủ Đô của chúng ta hôm nay, ta càng thấy nhớ Tô Hoài, một công dân Ưu tú của Thủ Đô. Đúng như lời ông nói, ta cần gìn giữ, tu tạo làm sao để có được một thành phố, một Thủ Đô văn hoá vừa đẹp, vừa hiện đại lại không làm mất đi những vẻ đẹp xưa cũ.

Tô Hoài – Nhìn từ một khoảng cách gần (bài hay, ST lưu tư liệu tham khảo)

Tô Hoài – Nhìn từ một khoảng cách gần

  •   Vương Trí Nhàn
  • Chủ nhật, 03 Tháng 1 2010 17:54
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
 ·         Những suy nghĩ về tác giả và tác phẩm
·         Những cuộc trò chuyện với nhà văn
·         Tô Hoài nói về nghề và nói về người khác
·         Người khác nói về Tô Hoài
 1986
 Những suy nghĩ khi nhớ lại Tự truyện
Một xuất phát tốt là thiên hồi ức Cỏ dại. Hình như thời thơ ấu không may mắn đã giúp cho người trai ấy có sự tỉnh táo, biết vị thế của mình trong đời. Cái gốc của Tô Hoài là một linh hồn bơ vơ. Một người thợ thủ công “cỏ dại” chính cống. Sau mới có  một con người cán bộ — cán bộ  viết văn – trùm ra ngoài.
Cái giọng riêng của Tô Hoài bắt đầu từ đâu? Câu văn như bước chân người kéo lê đi, lại như tiếng thủ thỉ để chứng tỏ là con người đó vẫn sống, không bao giờ chấp nhận sự cùng đường. Văn Tô Hoài không gợi cảm giác sang trọng mà thường ăn ở cái vẻ miên man không cùng; sinh động tự tin, nhưng lại vẫn có chút hậm hụi, hèn hèn tội tội như thế nào đó. Một câu trong Xóm giếng ngày xưa “Tôi vẫn quen với những nhem nhọ”.
Về kỹ thuật viết
Như nhiều người đã nói (trong đó có Hoàng Tiến), Tô Hoài mạnh nhất khi tả phong cảnh, tả những ấn tượng của người viết. Từ đoạn này sang đoạn khác, nhiều khi chuyển rất đột ngột, không đếm xỉa gì đến người đọc. Nhưng vì cái duyên, người ta bị hút ngay vào những đoạn rẽ ngang rẽ dọc đó.
Tôi nghĩ rằng Tô Hoài không biết rõ nhân vật và ông không để ý đến nhân vật bằng phong cảnh. Nhân vật của ông như người qua đường không hiện lên như những tính cách mãnh liệt muốn thể hiện ý mình, mà chỉ để làm cớ cho tác giả kể chuyện.
Các loại nhân vật
Chỉ có một lần, Tô Hoài tả nhân vật có chí khí và có tầm nhìn xa – Dế mèn.
Chỉ có một lần, Tô Hoài tả loại người quật khởi – đó là A Phủ.
Còn ngoài ra các nhân vật của ông đều là là sát mặt đất; pha tạp, không thuần nhất; mặt mày nhòe nhoẹt; tồn tại theo kiểu khật khà khật khưỡng. Người ta hơi khó nghĩ khi xếp họ vào những loại người cụ thể. Nhiều người là loại tầm thường.
Sự tồn tại giữa đời
Mỗi lần nghĩ đến Tô Hoài, tôi vẫn lạ vì sao có một người khinh người rẻ của như vậy, lạnh lùng như vậy, mà vẫn sống giữa người đời rất nhẹ nhàng, và đi đâu cũng lọt. Hay là sự chân thành của Tô Hoài và người đời cũng rất thật mà tôi chưa nhận ra (Phạm Thế Ngũ trong Việt nam văn học sử giản ước tân biên in ở Sài Gòn trước 1975 coi Tô Hoài thuộc loại ngòi bút nhân hậu bậc nhất hồi tiền chiến).
Một số tác phẩm
Tự truyện cho thấy cái đời thường duyên dáng của một người làm nghề.
Nét nổi bật của Một quãng đường đoạn tả nhà văn lang thang đi ăn xin. Chất “bạc nhạc”. Những đoạn không đâu vào đâu như thế, cung cấp tốt tài liệu cho những người viết tiểu sử ông. Cho người ta hiểu thế nào là một con người, nhất là loại ta hay gọi là “nhân dân lao động”.
+ hóm hỉnh, gần nhân tình, nhạy bén.
+ ngấm ngầm ham hố, cũng đi lừa mọi người sau khi đã bị người lừa.
+ không thể lớn được, nhưng không chết, lầm lụi dai dẳng, để rồi lại mãi mãi sinh sôi.
Bề ngoài có tính chất dân gian, song thực ra đó cũng là một quan niệm hiện đại về thế giới này, ở đó con người vừa có mặt, vừa vắng bóng; mọi hoạt động vừa là làm, vừa là chơi; tác phẩm vừa là tinh tuý, vừa là độn; con người vừa là cán bộ, vừa là dân thường. Dễ từ bỏ nhau, dửng dưng với nhau, như đã dễ gần gũi với nhau.
Những con người trong đó biểu hiện rõ cuộc Cách mạng này – Nảy sinh từ xã hội cũ, họ lại là động lưc chính phủ nhận nó và lang thang đi tìm một cái gì khác dù không biết rõ cái đích mình đến.  
Trong bài viết về Nguyễn Bính, Tô Hoài bảo trong đời sống văn học trước 1945, người lẫn với ma, đó là cái thời nửa người nửa ma.
Theo nghĩa này có thể bảo chính ông như một con ma, trong ông có một con người nghĩ ngược với những điều đang viết.  Lúc nào ông cũng có nhu cầu tố giác mọi người, lật tẩy mọi người – kể cả lật tẩy chính mình. Lúc nào ông cũng đắm đuối trong một vài ý nghĩ tinh quái nào đó.
Người sùng bái sự không thiêng liêng của cuộc đời  ̶ Tô Hoài đáng được định nghĩa như vậy.Trong Tô Hoài luôn luôn có cái xu thế muốn xúi giục chúng ta viết văn thực sự, làm người thực sự, tuy ông vẫn nghĩ:
- Như thế thì mệt lắm, mà cũng chả đi đến đâu.
Trong con mắt những đồng nghiệp
Ý Nhi kể: Ông Tô Hoài thấy cái ảnh của mình ở 45 truyện ngắn cho một câu “Mình mà cũng đẹp nhỉ. Mình như Tây thế này còn gì.”
Kim Lân: Tô Hoài là người rất từng trải, chịu chơi với anh em lắm, đâu cũng đi (mà vẫn giữ được mình). Nguyễn Đình Thi khi làm Tổng Thư ký, không dám ra quán rượu thịt chó với anh em nữa. Tô Hoài thì làm tất. Dễ dàng lắm. Rồi lại vào kiểm điểm nhau như chơi.
Thợ Rèn có ý tương tự: Ông ta sẵn sàng uống rượu, nói bậy với anh em, rồi lại đứng lên thay mặt chi uỷ, phê phán anh em.
Lê Minh Khuê nhớ lại một lần bầu Quốc hội: Gớm, ông Tô Hoài ông ấy ra tranh cử, ông ấy nói cũng chẳng khác gì xã luận hết, điếc cả tai.
Vũ Hùng: Tôi đọc Chuyện đường xa, thấy lạ. Tô Hoài viết quá nhiều chuyện mà anh không biết, ví dụ chuyện vệ tinh, chuyện bay trên máy bay, đi ngược ngày thế nào. Cái gì anh ấy không biết, anh ấy phải hỏi người khác chứ?
Trong một số truyện ngắn, Tô Hoài luôn luôn thù ghét với những người không ở cái căng ( tiếng Pháp camp  ̶  chỉ phe nhóm, trận tuyến) của mình. Luôn luôn thấy căng của mình mới hay ho tốt đẹp, mọi nơi khác, không ra gì!
Tôi (Vũ Hùng) thấy anh  ̶  Tô Hoài  ̶  không bằng anh Võ Quảng. Anh Võ Quảng hôm nọ bảo tôi: Nhà văn không nên để mình quá bị ràng buộc vào một quan niệm nào đó. Chỉ có một quan niệm mà, theo Võ Quảng, chúng ta phải trung thành – đó là quan niệm nhân bản.
Tô Hoài cũng có cái nhân bản của mình, chỉ có điều cái nhân bản đó, không có được cái tầm như ở những ngòi bút kiệt xuất.
 Mối quan hệ với đồng nghiệp
Sau 1975, vào Sài Gòn, Tô Hoài rủ Nguyễn Tuân thăm Vũ Bằng. Nguyễn Tuân không đi, coi như không trở lại chuyện cũ. Tô Hoài đã đi thăm thật. Cũng như Tô Hoài đã lặn lội về thăm Nguyễn Bính, sau khi Nguyễn Bính mất. Hình như việc gì người khác không dám làm, thì Tô Hoài dám làm, luôn luôn Tô Hoài muốn chứng tỏ rằng mình không sợ gì cả. Trong bụng dám cho rằng mình đi với ai cũng được.
Bùi Hoà nhớ một vài lần đến gặp nhà chính khách Nguyễn Văn Bổng, lại gặp Tô Hoài ở đấy. Hai ông trao đổi cho nhau mấy quyển tiếng Pháp. Sao Tô Hoài cứ lẩn lẩn, thằng Hân cũng có cái tính hay lẩn kiểu ấy, Bùi Hoà kết luận.
Không chừng cái cách sống ấy có ở nhiều người. Chẳng hạn như Nguyễn Kiên. Né tránh mọi người, giữ miếng, không thích bàn kỹ về điều gì cả, vì ngại bộc lộ đến cùng con người mình trước người khác.
Con người làm bằng chất dẻo
Chuyện ở Hội Văn nghệ Hà Nội, báo Người Hà Nội. Bằng Việt kể: Ông Triệu Bôn có vẻ vùng vằng, nghĩ rằng mình đi vắng 2 tuần, ở nhà báo sẽ chẳng ra sao. Ai ngờ, cũng xong. Tô Hoài mủm mỉm cười, làm tuốt.
Bùi Bình Thi kể về thái độ chịu chơi của Tô Hoài. Tô Hoài đang có chuyện gì đó làm mọi người bực ra mặt. Văn Linh cáu. Muốn xin lỗi, thừa lúc Văn Linh quay ra phía khác, Tô Hoài thò tay bắt tay Văn Linh từ phía sau, nắm thật chặt. Văn Linh có cáu mấy cũng đành đặt tay mình trong tay Tô Hoài.
Nguyễn Minh Châu: Tô Hoài bao giờ cũng có xu thế muốn làm vừa lòng người nói chuyện với mình. Hễ mình nói cái gì động chạm là lão chuồn ngày, lảng sang chuyện khác ngay.
Tô Hoài hỏi Xuân Quỳnh:
- Có phải cô bảo tôi là vừa đá bóng vừa thổi còi phải không?
- Vâng, em bảo anh thế đấy! (có liên quan đến một giải thưởng)
Tô Hoài không nói gì, sau vẫn gửi sách tặng Xuân Quỳnh (cuốn Nhà Chử)
Nói chung, theo Ý Nhi, Tô Hoài tỉnh bơ như không, khi nghe người khác chỉnh mình, cười mình, vạch cái xấu của mình. Tôi nghĩ, ông như có cái khoá tốt, khoá tạch lại một cái, thế là mọi ý kiến về ông ở ngoài.
Theo nghĩa rộng, Tô Hoài rất khớp với xã hội Việt Nam hôm nay. Đọc lại Tự truyện, thấy tưng tức. Người tài quá, mà lại cũng khinh người rẻ của, ma giáo quá. Dương Thu Hương: Lão Tô Hoài là loại Hà Nội móc cống, xích lô, chứ đâu có chất quý tộc như dân Hà Nội thực thụ.
Một kiểu làm ăn tùy tiện
Thỉnh thoảng liếc qua báo Người Hà Nội, tự nhiên thấy nhếch nhác quá. Mà do Tô Hoài làm đấy. Từ người phụ trách báo đã khinh thường tờ báo của mình biết bao.
Một lúc nào đó tôi buột miệng nói: nếu tất cả chúng ta đều là cặn bã, thì loại như Tô Hoài vừa là cặn bã của xã hội cũ, vừa là cặn bã của xã hội mới.
Đọc lại bài viết Núi Cứu quốc (Nguyễn Đình Thi), thấy có câu “Tô Hoài thú Việt Bắc nhưng không yêu Việt Bắc.”
Có lẽ với cả cuộc đời này cũng vậy, Tô Hoài đâu có yêu. Một mặt, đó là người chả có nguyên tắc sống gì (dân ngoại ô không có nghề chuyên, chỉ đi làm thuê, việc gì cũng có thể làm; người ta chỉ thuê một lần, sau này cũng chả nhớ mặt nhau nữa). Mặt khác, đó lại là một cán bộ biết vươn lên trong xã hội, cũng thích công danh lắm.
Phan Thị Thanh Nhàn bảo: Bây giờ Tô Hoài vẫn bảo là không phải làm báo cho bạn đọc, mà là làm báo cho tuyên huấn họ đọc.
Nhàn: Tôi ngờ rằng lúc vào nghề, ông Tô Hoài đã bị những người trong nghề coi thường lắm nên bây giờ ông ta mới lang thang đủ nơi mà chẳng dính vào nơi nào hết. Kim Lân: Không, căn bản là vì Tô Hoài rất chịu chơi, lúc nào cũng sẵn sàng đi chơi với mọi người, tuy chẳng để làm gì, chẳng để yêu bạn bè hơn, nhưng cứ thích đi.
 Nói về người khác
Thường chỉ cần một hai câu, Tô Hoài cũng đủ giết người ta rồi.
- Con người ta thật là buồn cười. Như cô Tú bây giờ, lúc nào cũng nói “in được một bài thơ, đối với tôi bây giờ, còn sướng hơn in một tập truyện ngắn”.
- Không ngờ đời sống làm cho ông Thông ông ấy đổ đốn như vậy chứ hồi ở Việt Bắc, ai cũng yêu nhớ. Trẻ này, chịu học này, đọc được cả chữ Hán lẫn chữ Pháp, nên cần gì là nghiên cứu được cái ấy, mà lại đặc biệt tín nhiệm về chính trị nữa. Mình vẫn ngờ cái loại nhà văn về Hà Nội bằng con đường Thái Nguyên. Ít nhiều vẫn có chất tỉnh lẻ của nó!
Tô Hoài kể về một kiểu người nhạt nhẽo.
- Chả là tôi cũng là loại tác giả được phân công có người chuyên môn theo dõi. Người ấy chính là cô X. Một hôm cô ấy bảo tôi “Em nghe người ta bảo anh với chị bằng mặt nhưng chả bằng lòng, mà anh lại lòng thòng với chị N. phải không?” “Mồm thiên hạ vẫn thế. Hay là để tôi gọi nhà tôi lên cho cô tin nhé!” “Nghĩa là không có gì?” “Toàn chuyện vớ vẩn đồn thổi!”.
Thế là cô ta sung sướng như chính cô ta được minh oan. “Có thế chứ, có thế chứ!”
Về sau, Nguyễn Kiên bình luận: Ông Tô Hoài vẫn có cái lối đóng kịch kiểu ấy. Cứ làm như mình sòng phẳng lắm ấy!
 Nói về chữ nghĩa
- Tôi thấy luôn luôn người ta có thể viết cho gọn hơn. Từ 5 dòng, tôi có thể co lại, còn độ 3 dòng, hay 2 dòng. Trong ba chữ một cái đèn, thể nào cũng có thể xoá bớt, chỉ còn hoặc là một đèn, hoặc là cái đèn.
Tôi (VTN) nghĩ: đi mà xoá văn Nguyễn Tuân!
Nhưng một phát hiện khác của Tô Hoài thì có thể chấp nhận được:
- Cái bài Chữ và câu văn của tôi còn có đoạn nói đến biền ngẫu ở Nguyễn Khải. Thế mới biết biền ngẫu nó vào mình tự nhiên thật ( đoạn chê này, đến lúc in, thì trường Nguyễn Du, nơi in tập sách có bài Chữ và nghĩa nói trên họ xoá hết!)
Tầm vóc văn chương
Đọc những nhà văn lớn ở nước ngoài, thấy rõ người ta định lớn – người ta muốn cạnh tranh cả với Chúa! Các nhà văn Viẽt Nam ở trình độ khác. Từ Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân tới Xuân Diệu Tô Hoài, luôn luôn ở người ta chỉ có cái ao ước là tìm ra một chỗ đứng trong đời sống, len lỏi để có thể bám trụ được, và từ đó nhìn ra với nụ cười hể hả: ta không chết.
Và nỗi lo lớn nhất là cạnh tranh với các đồng nghiệp ghi điểm trước đồng nghiệp. 
Đọc lại truyện ngắn viết trước 1945, thấy nhà văn này có lý để tự kiêu, truyện rất hay, tự nhiên. Có một chút gì đó thanh thoát hơn các truyện của Nam Cao nữa. Nhưng thấy Tô Hoài ảnh hưởng đủ thứ kể cả Nguyễn Công Hoan (truyện Ma đè).
Ý nghĩa xã hội
Đọc Tô Hoài, thêm hiểu tại sao lại có Cách mạng tháng Tám. Tình cảnh dân ta trước 1945 khá rõ.
- Một xã hội đẹp nhưng quái gở. Đàn bà quyết định tất cả (truyện Một người đi xa). Thế nào người ta cũng có lý, cũng nói được.
- Một xã hội quá tù túng. Những yếu tố lạ, nhưng yếu tố ánh sáng, có le lói đến ( những đoạn tả người ở quê ra tỉnh, người ở tỉnh về) những chưa giải quyết được bế tắc. Tỉnh thành phố xá nào có ra gì, cũng buồn bã, yếu đuối, không đủ sức phá vỡ sự tẻ nhạt của nông thôn công xã.
Những trang Tô Hoài tả việc lên phố của mình (trong Cỏ dại), câu chuyện lên Hàng Mã ở, sao vẫn chỉ như là dấu hiệu cho thấy một sự bất lực. Ngưng đọng, trì trệ là đặc điểm chính của những xóm ngoại ô này. Có cố thì cũng đến thế thôi.
Có cả những bệnh không chữa mà khỏi, lẫn những bệnh không bao giờ chữa khỏi. Có cả những ao ước mơ hồ, lẫn lời hứa phiệu ngay từ đầu đã không ai tin.
Tô Hoài hay có lối tả con người dù đã qua nhiều bước phiêu lưu, vẫn trơ lại trước mọi tác động, con người mặc dù có vẻ rất nhạy cảm nhưng cuối cùng đâu vẫn đóng đấy, nhân vật đi qua cuộc đời mà rút cục mình vẫn là mình.
Niềm tự tin
Lại Nguyên Ân kể về một ông bán sách cũ: bán ra thì rất đắt, coi như sách của mình đi khắp cả nước tìm không ra; mà mua vào thì nhìn dửng dưng, nhạt nhẽo, y như không cần, nhìn sách bằng nửa con mắt.
Tôi muốn mượn mấy câu này để nói về “thần thái” của Tô Hoài. Trong Tô Hoài có chất của dân buôn bán Bắc bộ, nghèo nàn, chắc lép; lại có chất của dân công chức thuộc địa, cốt làm xong việc lấy lương, còn đâu kệ thằng Tây; có triết lý của người người hư vô, thây kệ đời bởi hiểu mọi cố gắng chỉ vô ích, vậy thì cứ sống cho thoải mái, đến đâu hay đến đấy. Tô Hoài là một hãng hàng thật hàng giả đều làm được, cũng biết người biết của, mà nhìn chung đối với sự đời chả coi cái gì ra gì hết.
 Những năm chín mươi
 1/1990
Một chuyện đáng nhớ ở Đại hội nhà văn III: Tô Hoài mai đi Le Caire Ai Cập họp Hội nghị Á Phi rồi, hôm nay vẫn giữ tên trong danh sách bầu chủ tịch đoàn. Phan Hồng Giang tố ra giữa hội trường để còn dành chỗ cho người khác. Ai cũng nghĩ ê cả mặt.
Nhưng Tô Hoài coi như không có chuyện gì xảy ra. Sau Đại Hội vẫn đến Hội Nhà văn. Nghe đâu, số Tác phẩm văn học này, lại có bài điểm sách Tô Hoài.
Sức sống của nhà văn này cho tôi hiểu thế nào là sự phong phú của con người, nhất là loại người từng trải. Có thể nói ở mỗi con người loại này có những con người khác nhau. Trước công việc, một con người khác – đôi khi là Chúa – chi phối anh ta. Trong khi đó, thì ngoài đời, anh ta vẫn tiếp tục phiêu lưu, lang thang, hưởng thụ, hư hỏng. 
Phan Thị Thanh Nhàn kể: Ông Tô Hoài làm ở cơ quan báo, lại Hội nữa, ăn hai lương như Bằng Việt, mà chả bao giờ đến cơ quan cả.  
Theo Nguyễn Kiên, cái vụ Đại hội thì dơ thật. Nguyễn Kiên giải thích thêm, sở dĩ lúc bấy giờ ông Tô Hoài còn nấn ná chờ có được chút gì không, theo mình biết là vì ông nghe rằng hình như trên sẽ can thiệp vào Đại hội, nhân sự sẽ do trên xếp, và như vậy, thể nào ông cũng có phần. Ấy, kinh nghiệm xưa nay vẫn là như thế, chỉ có điều lần này kinh nghiệm đó không đúng nữa.
Nhân chuyện gì đó (à, chuyện về tạp chí của Hội), tôi bảo:
- Hình như ông Tô Hoài sẵn sàng làm.
Nguyễn Kiên:
- Ông ấy thì cái gì chẳng nhận. Rồi cũng chẳng làm mà cũng chẳng bỏ, nghĩa là làm cứ như đùa. 
Ngày thứ ba 20/2, Hội đồng văn xuôi họp. Nghe anh em kể thì Tô Hoài giở giọng ngang phè (Ma Văn Kháng gọi là “giả lão, bán lão”, cậy mình là già, lợi dụng tuổi già của mình) :
- Tôi bây giờ chả sợ gì nữa. Ông Tố Hữu còn sợ, tôi chẳng sợ.
- Đọc báo là tôi cứ tìm cái dở nhất tôi đọc. Đọc thơ. Mà lại thơ Huy Cận, thơ Nguyễn Xuân Sanh hẳn hoi. Toàn thơ in theo chiếu mà, nên muốn hiểu ai lên ai xuống ai đứng yên mình phải đọc .
- Thời buổi bây giờ hỗn loạn, bỏ cái minh hoạ hôm qua, thì lại minh hoạ cho cái đổi mới hôm nay.
- Thì những giải văn chương trên chính trường bây giờ, như giải Nobel, nó cũng đều là chính trị cả.
Có một chút gì trơ tráo trong tất cả những lời bộc bạch đó. Anh em người ta cãi lại, anh mà không minh hoạ à, anh mà không có chiếu à, chiếu lớn là đằng khác. Anh bảo giải Nobel chính trị, thế giải Bông Sen của anh (Phạm Thị Hoài: Bông Sen hay Hoa Sen tôi cũng không biết nữa), mà không chính trị à? 
Nghe Đỗ Trung Lai nói lại, Bằng Việt bảo phải cho Tô Hoài về hưu thôi, Tô Hoài cũng 70 rồi (Bằng Việt vẫn là nhân vật số 1 của Văn nghệ Hà Nội ).
Chắc có lẽ thế, nên Tô Hoài chạy vạy đủ các nơi.
Hoàng Cầm: Tô Hoài đúng là một con chuột ngày, khôn lắm. Khi mà Tô Hoài muốn lấy lòng mình, lão rất khéo. Để rồi sau đó, lại phản ngay được.
19/6/90
Loại như Tô Hoài — đó là sản phẩm của quá trình dân chủ hoá trên thế giới này (quá trình dân chủ hoá tất yếu mà Likhatchev đã có lần nói tới cũng là một xu thế chung của văn học mình, từ thế kỷ XX ). Nhưng dân chủ mà thiếu phần quý tộc, chỉ là dân chủ trong tầm thường, nhảm, thấp.
11/7/90
Ngồi cạnh Tế Hanh nghe ông nói với ai đó rồi quay sang gật gù bảo với tôi :
- Anh Tô Hoài còn trẻ mà nhanh nhẹn lắm.
Tôi máy mồm, không kìm được, độp luôn:
- Nhanh nhẹn và tham lam nữa, nên đúng là trẻ thật.
Nguyễn Đình Nghi:
- Tô Hoài thường bảo rằng Tự lực văn đoàn không trả tiền mình. Nói thế chỉ là thấy việc nhỏ mà không thấy việc lớn. Lệ hồi ấy, ai mới gửi mà được đăng lần đầu đều không trả tiền. Còn về truyện Con gà ri (khi đăng trên Chủ nhật còn giữ cái tên là Mê gái – V.T.N.). Bố tôi là người đọc văn xuôi. Có đống bản thảo, tôi biết đã định loại đi, nhưng thấy tiếc moi xem lại lần nữa. Phát hiện ra truyện của Tô Hoài, thế là ông thuê xe lên ngay nhà Thạch Lam và hai ông cho đăng ngay ở số gần nhất. Sao lại bảo là ông vô trách nhiệm được.
(Cũng Nguyễn Đình Nghi: Đừng tưởng như Nguyễn Công Hoan mà là chân thực đâu. Trong Đời viết văn của tôi cũng khối chỗ nói dối!) 
Người ta kể rằng, ở Hội nghị của Hội đồng văn học thiếu nhi, Văn Linh chửi ầm lên: Tôi chán các thứ hội đồng này lắm rồi. Lúc nào cũng từng ấy mặt chẳng nhẽ không ai thay được à?
Quang Huy cũng phụ hoạ cái giọng đó. Nhưng Tô Hoài kệ. 
Trong đầu óc mọi người ở Hội, Tô Hoài vẫn là một nhân vật không thể thiếu. Khi người ta có ý định lập ra tạp chí Văn học nước ngoài, thì ông Tổng biên tập mà người ta nghĩ tới lại là Tô Hoài.
Một buổi tôi ngồi nói chuyện với Hách, Khuê.
Hách: Mình còn nhớ lần đầu thằng Trần Ninh Hồ nó gặp ông Tô Hoài về, nó bảo ông ấy ghê lắm, hạch đủ thứ.
Khuê: Tôi viết cái truyện gì này này, nói về một nghệ sĩ. Ông ấy bảo đừng có viết về nghệ sĩ. Hãy viết công nông ấy. 
Nhân bàn về thân phận, tôi nói đùa:
- Từ công việc của Tô Hoài đôi khi thấy toát lên cái ý văn nghệ phải được quan niệm như một công việc nhăng nhít, và người làm văn nghệ quá nhiều tay nhảm nhí. Mà người tài nhất trong cái đám nhảm nhí này trước cách mạng có Nguyễn Bính và có Tô Hoài. Nhưng mặt hàng Tô Hoài đa dạng hơn.
Trong bài Chữ và tiếng nói sách Sổ tay viết văn trang 119, bản in 1960, Tô Hoài nói về nghề: Người viết văn như cái cửa hàng bách hoá, càng nhiều mặt hàng càng dễ chạy.
14/4/1991
Vũ Quần Phương kể: Ông ấy khôn lắm, không có cái gì bỏ qua, nhưng không dính vào việc gì cụ thể cả. “Lúc nào cần vắng thì tôi vào viện. Ở tuổi tôi thiếu gì bệnh để nằm viện”. Chính ông ấy nhận như thế. (Bùi Bình Thi có lần nói: Tô Hoài như một con rán, đặc biệt nhạy cảm với mọi tình thế.)
Cơ quan có cô N. làm văn phòng. Ông Tô Hoài dùng nó, nể nó. Đùng một cái, nó xin vào Hội. Anh em thấy chuế, ông Tô Hoài cũng thấy chuế. Cho nó vào thì ra làm sao nữa.
Có người như Bằng Việt nói thẳng, thôi N. ơi chờ chút đã, để bọn này viết cho N. mấy cái truyện hoặc mấy bài thơ rồi ký tên N. đã, N. hãy vào. Nhưng N. nó không chịu.
Đến ngày Ban chấp hành bỏ phiếu thì ông Tô Hoài vắng một cách cố ý.
Ấy, ông cứ sợ một đứa khùng dại như vậy để rồi có lúc ông coi thường cả một đại hội.
Người khác tham lộ mặt. Ông ấy thì lẩn khuất kín đáo. Khi có hai bên tranh nhau thì ông ấy nhường ngay. Chỉ khi nào, ở chỗ nào không ai để ý, ông ấy mới bổ nhào, và người ta phải chịu.
Cái mà tuổi tác mới dạy cho ông ấy chăng? Không, từ trẻ ông đã thế.
Là cái mà văn hoá Việt Nam nó thấm vào ông nữa.
19/7/1991
 Con người trong Tô Hoài
Đọc lại Dế mèn. Đúng là có một tính cách, sự khao khát, ý tưởng hành động. Nhu cầu muốn làm việc lương thiện. Sự sòng phẳng, chấp nhận những lầm lỡ của con người mình.
Tính cách kiểu Dế mèn là tính cách thông thường của con người lập nghiệp, tuy không có cái sắc cạnh, cái quá đáng, cái gần như không thể bộc lộ được. Lại cũng đã bắt đầu thích chức vụ xã hội.
Nhưng ngoài Dế mèn, thì các nhân vật khác đều lặt vặt không có con người nào như Dế mèn. Trong truyện Tô Hoài trước cách mạng, loại con người hiện ra vớ va vớ vẩn đông hơn nhiều.
Trong một phiếm luận, tôi đã từng chứng minh những variant khác nhau mở ra trước nhân vật Tô Hoài trong việc mưu cầu hạnh phúc. Có vẻ như Tô Hoài muốn đưa ra cả loạt, một cụm mà lại không có một phương án nào là rõ rệt.
Tô Hoài không thật yêu một con người nào, một kiểu tính cách nào. Các loại nhân vật chỉ để vẽ phác, và đều nham nhở. Nhân vật không có những khao khát lớn. Nhân vật không có cái đắm đuối như các nhân vật của Nguyên Hồng. Bước đi loạng choạng, ý định thú tội – nhớ có một nhân vật Nguyên Hồng được tả như vậy. Gắn liền với ý thức về tội lỗi, khao khát chuộc tội. Sự thông cảm kỳ diệu với thiên nhiên, thấy ở đó một biểu hiện của Chúa, những cái ấy có ở những trang đặc sắc nhất của Nguyên Hồng.
Cuộc đời trong Tô Hoài thì lẩn mẩn rất nhiều chi tiết mà người bình thường quen thuộc nhưng lại hay bỏ qua. Đọc Tô Hoài người ta có thích thú nhưng không sửng sốt. Nhân vật trong Tô Hoài thiếu hẳn bản sắc riêng, cái thật nổi trội kỳ lạ. Có vẻ như họ sát ngay mặt đất, họ dễ lẫn đi giữa những người khác. 
Nguyễn Kiên:
- Tôi và Tô Hoài cũng là một thứ bạn vong niên. Hồi tôi còn ở chỗ 65 Nguyễn Du, ông Tô Hoài cũng hay đến chơi, thủ thỉ đủ các chuyện vẩn vơ. Gần đây tôi chỉ nghĩ sao mà bố mày liều thế, viết bừa viết phứa, có mỗi cái Hà Nội cũ mà viết mãi thôi. 
Vào những ngày này (10/1991) Tô Hoài đang khoe là có một cuốn hồi ký mang tên Cát bụi chân ai kể lại chuyện Hội Nhà văn 1957-1987
Báo Tiền Phong Chủ Nhật đã trích đăng hai kỳ về Nguyễn Bính, bài viết cho thấy hình ảnh một Nguyễn Bính rạc rài rất đáng thương mà cũng đáng giận.
Lạ thật, một mặt thì Tô Hoài rất tiêu biểu cho lối làm việc của nghệ sĩ Việt Nam, loanh quanh tả cái cây cái lá với những chuyện vặt vãnh. Mặt khác, ông lại là người có lối làm việc của nhà văn hiện đại. Ông sớm viết hồi ký, viết ngay từ hồi 22-23 tuổi – tập Cỏ dại. Hình như ông hoàn toàn hiểu rằng nhà văn còn biết viết về những gì khác ngoài chính mình nữa! 
Bên cạnh cái phần đôn hậu, sự ma mãnh là một thứ bản chất thứ hai Tô Hoài, nó giúp cho ông tồn tại nhưng cũng kéo thấp ông xuống.
- ma mãnh nghĩa là sẵn sàng làm bậy, nói dối, viết ẩu, len lỏi để sống.
- ma mãnh nghĩa là cứ tự nhiên mà thành, mưu mô lặt vặt xoay xở tầm thường cũng là tự nhiên, và không đủ sức vươn lên thành trí thức, vươn lên trong kiến thức, sách vở, phiêu lưu vào những khu vực thiêng liêng của đời sống tinh thần.
1/1/1992
Về quyển hồi ký Cát bụi chân ai
Từ hồi gặp nhau ở Moskva, Tô Hoài đã nói với tôi về ông Tuân, phải viết về ông ấy, viết chứ, nhưng không phải là kính viết mà viết một cách như là vẫn sống với ông ấy vậy. Lại Nguyên Ân thì lại còn được Tô Hoài rót vào tai đại ý là sẽ viết về một thế hệ các ông ấy gặp chủ nghĩa Mác như gặp một cái quán, tiện chân là vào, thế thôi.
Đọc trích đoạn Cát bụi chân ai trên báo Tiền Phong, cứ tưởng Tô Hoài viết theo kiểu Ehrenbourg, viết cho mỗi người một chương. Nhưng không phải. Cả quyển viết về Nguyễn Tuân. Mở đầu bằng câu tôi kém Nguyễn Tuân 10 tuổi. Và đến cuối là đoạn có người đến báo Nguyễn Tuân chết. Theo cách trình bày của Tô Hoài, thấy ông không định viết Nguyễn Tuân cho sang mà kéo Nguyễn Tuân gần với mình, để rồi, cũng vẫn không quên cái điều căn bản, thực ra Nguyễn Tuân là Nguyễn Tuân mà mình vẫn là mình. Cái hiện tượng Nguyễn Tuân với Tô Hoài không gì khác, là chính văn học, là chính đời sống, chúng ta không lựa chọn cuộc đời này, ta sống với nó, vừa hăng hái thiết tha, vừa uể oải chán chường. Chưa bao giờ, chưa ở chỗ nào, tôi thấy Nguyễn Tuân như ở đây, nghe giọng toàn là thứ thiệt cả. Mặc dù luôn luôn nghi ngờ Tô Hoài, cho Tô Hoài là khôn, ranh, giấu mặt, song Nguyễn Tuân vẫn không bỏ được Tô Hoài, vẫn thấy đấy là một phần của cuộc đời mình. Theo cách nhìn của Tô Hoài, ở con người khinh bạc ấy, vẫn có biết bao tha thiết. Nguyễn Tuân hiện ra không như người ta nghĩ – hoặc có ác, thì cũng là ác một cách rất hiền lành, giời sinh ra bởi lẽ cá nhân thì phải làm cách vậy, chứ đâu có vô lương tâm. Khỉ thật, cái việc mà Tô Hoài từ Tây Bắc về Hà Nội, Nguyễn Tuân phải đi tiễn mãi, rồi thư từ cho Tô Hoài nữa, đọc đầy lý thú. Hoặc cảnh họ lang thang ở phố xá Hà Nội. Chiều chiều gặp nhau ở một cái quán, trong chốc lát mà thấy cả đời. Suốt bao năm tháng, ý tứ mà sống với nhau, anh nào lo niêu cơm anh ấy, nhưng cũng nên sống cho người khác một tí nữa. Nhớ chi tiết Nguyễn Tuân cho Tô Hoài uống rượu, rót xong là cất chai đi. Lại nhớ cái cảnh Tô Hoài đến Nguyễn Tuân đi vắng, lúc chủ về, thấy khách ngồi đấy, hỏi một hai câu, tỏ ý khó chịu rồi lăn ra ngủ. Cái tài của Tô Hoài là tả, tả kỹ, khiến cho mình tin một con người như vậy, và nhất là tin rằng cuộc sống chỉ là một cái gì bình bình, xoàng xoàng, không nên cao giọng mà nói, mà quát (gần đây, gặp tôi, nhân nói chuyện về Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử cũng không quên nói rằng ông Mạnh nhiều khi cao giọng đấy, chả vừa đâu). Đoạn cuối, tả Nguyễn Tuân già yếu, bất lực, tiếc đời, lụn bại, đúng với tình thế một người hết thời, nhưng cũng cho thấy một cuộc đời qua đi, chớp mắt một cái, thế là đã xong hết cả. Nhưng mấy hôm nay, người trong giới bảo nhau (tôi nghe Nguyên Ngọc bảo) là sách không in được đâu, trên chưa định thanh toán cái hoá đơn này đâu.
Tô Hoài: Nhưng ở tuổi tôi, tôi phải viết thế chứ còn gì nữa! 
 
Phụ lục     
 
CON MẮT TÔ HOÀI
BÓNG DÁNG NGUYỄN TUÂN
(Đọc Cát bụi chân ai )
 
Khi được mời viết hồi ký, không ít nhà văn ở ta thích trả lời: Khi nào già tôi sẽ viết. Nhưng trong phần lớn trường hợp, họ không giữ được lời hứa. Hoặc giả, theo nghĩa đen, không đủ sức thực hiện ý định. Hoặc giả theo nghĩa rộng, già cả, cũ kỹ đi, chỉ sợ người ta quên, nên khi viết ra sức tô vẽ cho mình. Những thiên tự thuật kiểu đó đánh mất đi gần hết giá trị chúng có thể có.
Về phần mình, Tô Hoài quan niệm hơi khác. Ông viết hồi ký từ khi còn rất trẻ. Cuốn Cỏ dại ra đời năm 1944 khi ông mới 24 tuổi.
Bước sang tuổi năm mươi, ông công bố Tự truyện (in báo từ 1971, in thành sách 1978, từ đó về sau nhiều lần tái bản ). Nay ở tuổi bảy mươi, ông lại có Cát bụi, chân ai. Sống đến đâu, viết đến đó – dường như ông muốn nói vậy. Và các cuốn hồi ký của ông chỉ tự nó trần trần đối diện với bạn đọc, người viết ra nó không cần nhân danh tuổi già, nhân danh năm tháng, kinh nghiệm để… “bắt nạt” ai cả.
Một cách nhìn, một cách viết
Thông thường ở ta hồi ký được hiểu là những cuốn sách người viết tự kể về đời mình. Có nói về những người khác cũng là nhân tiện mà nói, nói tạt ngang cho đậm câu chuyện. Hồi ký của Đặng Thai Mai hay Những năm tháng ấy của Vũ Ngọc Phan. Từ bến sông Thuơng của Anh Thơ hay Bốn mươi năm nói láo của Vũ Bằng v.v đều chung một kiểu viết như vậy. Cho tới Tự truyện Tô Hoài cũng không ra ngoài thông lệ vốn có.
Chỉ tới Cát bụi, chân ai, nhà văn mới tạo cho thể tài một sự xô đẩy nho nhỏ. Khi còn trích in trên báo, người ta tưởng đây là loại hồi ký với nhiều chân dung liên tục xuất hiện, trong đó, mỗi người bạn từng đi lại thân quen với tác giả được ông dành riêng một chương: Nguyễn Bính, Nguyên Hồng, Xuân Diệu. Nhưng đọc cả quyển mới vỡ nhẽ ra Tô Hoài viết về Nguyễn Tuân là chính, chẳng qua học theo A. Malraux (trong Phản hồi ký) ông cũng gặp đâu viết đấy, nên ngòi bút mới đôi khi sa đà viết thêm về những người khác ít trang. Vẫn là hồi ký – chân dung, nhưng Cát bụi chân ai là bức tranh truyền thần khuôn mặt Nguyễn Tuân, như Tô Hoài được biết, một thứ Nguyễn Tuân nhìn gần ở khoảng cách rất gần, không bị tô vẽ, bị thiêng liêng hoá, có điều không vì thế mà mất đi vẻ khả ái và nhất là những nét đáng thông cảm.
Chỗ giống người của “kẻ khác người”
Tuy luôn luôn không quên điểm xuyết đôi nét về con người Nguyễn Tuân giai đoạn tiền chiến, thậm chí đi ngược lại mãi về một thời rất xa, khi Nguyễn Tuân cùng một người bạn định trốn qua Xiêm theo đường Campuchia rồi bị bắt, nhưng trên nét lớn, Cát bụi chân ai là để nói về cuộc đời dấn thân của Nguyễn Tuân như Tô Hoài biết từ sau 1945 tới nay. Đường đời sự nghiệp khác nhau, tâm tính càng không giống nhau, vậy mà giữa hai người đã có chung bao kỷ niệm. Hồi kháng chiến chín năm ở chiến khu sống chung trong một cơ quan đầm ấm, thân mật. Lần theo bộ đội vượt sông đánh đồn. Những năm tháng sau hoà bình 1954, đời sống văn nghệ Hà Nội ngổn ngang bao chuyện. Dăm chuyến đi dài lên các tỉnh miền núi phía bắc những năm chống Mỹ hào hứng, lý thú cũng có, mà giá lạnh đơn độc cũng có. Ai người quen nghĩ Nguyễn Tuân khinh bạc, ích kỷ nghênh ngang tự thị sẽ tìm thấy ở đây, qua những chi tiết rất thật, những giây phút Nguyễn Tuân cũng rất nồng nàn quý trọng tình nghĩa, cũng chi chút trong từng việc nhỏ của đời sống gia đình và của sinh hoạt văn nghệ. Hơn thế nữa, Nguyễn Tuân cũng yếu đuối, cũng làm dáng, điệu bộ, và cũng biết sợ như bất cứ ai. Cái tài của Tô Hoài trong cuốn hồi ký này là ở chỗ phác ra rõ rệt những nét độc đáo trong tính cách Nguyễn Tuân – một câu tiêu biểu “Ô hay, người ta ra người ta thì phải là người ta đã chứ” (tr. 7) – song vẫn cho thấy tác giả Vang bóng một thời thực ra rất gần với chúng ta, với tất cả những phiền luỵ tầm thường, những hy vọng dang dở, những trái khoáy vô lý… của kiếp người. Đã bước trong đời thì hỡi ai kia, chân người rồi cũng lẫn trong cát bụi như mọi chúng sinh mà thôi, nhất định là thế, không thể nào khác, không phải vì thế chúng tôi xa lạ, ngược lại, cát bụi khiến chúng tôi thêm gần gũi với người biết mấy!
Niềm cảm khái cuối cùng
Nhưng dẫu sao, Cát bụi chân ai vẫn là một cuốn hồi ký. Dù bóng dáng của Nguyễn Tuân có trùm lên cả quyển sách, thì cạnh đấy, vẫn hiện lên mồn một cái bóng dáng chính của người viết, một Tô Hoài lịch lãm, ý nhị, bắt vở hết các bậc đàn anh, biết thóp đủ mọi chuyện, khinh bạc, đáo để, song cũng lại biết thiết tha với từng chi tiết trong cuộc sống hàng ngày, lại càng tha thiết trước một chén rượu quý, mấy câu tâm sự bâng quơ, những lá thư cảm động. Công bằng với Nguyễn Tuân cũng tức là Tô Hoài có được công bằng với giới văn nghệ. Dẫu sao, những người này cũng đã có mặt trong suốt cuộc đời tác giả, cùng ông chia sẻ vui buồn, và suy cho cùng, giá mà chẳng tốt hơn, thì họ cũng chẳng xấu hơn những người khác. Với sự chính xác của một thứ bộ nhớ điện tử, đầu óc Tô Hoài thường khi nhớ lại vặt vãnh đủ chuyện. Ngòi bút ông sau những khoáng đạt chơi vơi với những cảnh tượng hùng vĩ ở miền núi, lại thản nhiên, thủng thẳng, mà vẫn không kém sinh động, quay về dựng lại những phút vắng lặng trong câu chuyện mấy bạn tri kỷ, giữa một hàng quán xô bồ của chốn thị thành.
Còn như cảm hứng cuối cùng về cuộc đời? Ở cuối chương Một chặng đường (in trong Tự truyện) Tô Hoài viết: “Trên sóng cát cuộc đời, mình đã từng sống cái kiếp phong trần, vào đâu nên đấy, của con phù du”. Ở cuối Cát bụi chân ai lại vẫn cái giọng mệt mỏi và biết điều ấy “Tôi ngồi lại đây trông vào mịt mùng nhìn thấy xa lắc xa lơ một thời đã qua. Âu cũng là cái nhộn nhạo được khuấy động chốc lát”. Tiếp đó là cái hình ảnh có sức khơi gợi: “Bãi tắm Cát Cò. Hai bên vách đá thẫm đen, không có bóng người. Con kỳ đà đủng đỉnh bò ra giữa đường hầm, bạnh mang, rướn chân nhìn quanh rồi lại nép vào mép những tảng đá… Vết chân người lẫn chân con kỳ đà in vân vân trên cát”. Một chút hư vô bàng bạc ở đây chỉ làm rõ thêm ấn tượng đã toát ra từ cả cuốn sách, ấy là dù hay dù dở thì tác giả cũng đã viết nó bằng sự thành thực và toàn bộ kinh nghiệm sống của mình, nên chi, nó đáng được đối xử một cách trân trọng và cả độ lượng nữa.
Bài in trên TT&VH 1993,
in lại trong Chuyện cũ văn chương 2001
 

Đọc tiếp

Thoát Á Luận ( bài hay/ giá trị/dễ hiểu , nên đọc)

 

Tác giả: FUKUZAWA YUKICHI

(GNA: Tuần này, xin giới thiệu bài Thoát Á Luận của Yukichi đã thay đổi tư duy của cả một dân tộc để xây dựng nước Nhật ngày nay. Khoảng 100 năm sau, nhà tư tưởng Tố Hữu cũng viết những bài thơ gây nhiều hiệu ứng tương tự. Đó là Việt Nam ngày nay.)

Theo Tuần Việt Nam – 15/01/2010

Từ thế kỷ 19, Fukuzawa Yukichi (Nhật Bản) đã viết: “Đường giao thông trên thế giới là phương tiện để làn gió của văn minh phương Tây thổi vào phương Đông. Khắp mọi nơi, không có cỏ cây nào có thể ngăn được làn gió văn minh này”

—————————

Thử nghĩ mà xem, những người phương Tây từ thời cổ kim đến nay đều có cùng dòng dõi giống nhau và họ không khác nhau nhiều lắm. Nếu ngày xưa họ chậm chạp thì ngày nay họ di chuyển hoạt bát và nhanh chóng hơn chính là vì họ lợi dụng được thế mạnh của phương tiện giao thông đó mà thôi. Đối với chúng ta, những người sống ở phương Đông, trừ khi chúng ta có quyết tâm vững chắc muốn chống lại xu thế văn minh phương Tây thì chúng ta mới có thể chống đỡ được, còn nếu không tốt nhất là chúng ta hãy cùng chia sẻ chung số mệnh với nền văn minh ấy.

Nếu chúng ta quan sát kĩ lưỡng tình hình thế giới hiện nay, chúng ta sẽ nhận thấy được rằng chúng ta không thể nào chống lại được sự tấn công dữ dội của nền văn minh ấy. Vậy tại sao chúng ta không cùng nhau bơi nổi trên biển văn minh ấy, cùng nhau tạo ra một làn sóng văn minh ấy, cùng nhau nỗ lực xây dựng và hưởng lạc những thành quả của nền văn minh ấy?

Làn gió văn minh như là sự lan truyền của dịch bệnh sởi. Hiện giờ dịch bệnh sởi khởi phát từ vùng miền tây ở Nagasaki đang lan truyền về phía đông tới vùng Tokyo nhờ tiết trời ấm áp của mùa xuân. Thời điểm này chúng ta sợ sự lan truyền của dịch bệnh này thì phải tìm phương thuốc, nhưng liệu có phương thuốc nào có thể ngăn chặn sự lây lan này không? Tôi có thể chứng minh rằng chúng ta không có một phương thuốc nào ngăn chặn được dịch bệnh cả. Cho dù chúng ta có ngăn chặn được dịch bệnh có thể lây lan này thì hậu quả là con người chúng ta sẽ chỉ có hư hỏng mà thôi.

Trong nền văn minh ấy có cả lợi lẫn hại song song, nhưng lợi luôn nhiều hơn hại, sức mạnh của những điều lợi đó không gì có thể ngăn cản được. Đó chính là điểm mà tôi muốn nói rằng chúng ta không nên tìm cách ngăn cản lại sự lan truyền của nền văn minh ấy. Là những người trí thức, chúng ta hãy góp sức giúp cho sự lan truyền của làn sóng văn minh đó tới toàn dân trong nước để họ thấy được và làm quen với nền văn minh ấy càng sớm càng tốt. Làm được như vậy chính là sự nghiệp của những người trí thức.

Nền văn minh phương Tây đang xâm nhập vào Nhật Bản và có thể tính bắt đầu từ chính sách mở cửa của nước nhà vào thời Gia Vĩnh (Kaei, 1848-1854). Người dân trong nước bắt đầu biết đến những giá trị hữu ích của nền văn minh ấy, và đang dần dần tích cực hướng tới tiếp nhận nền văn minh ấy. Nhưng con đường tiến bộ tiếp cận nền văn minh đang bị cản trở bởi chính phủ già nua lỗi thời. Cho nên đó là vấn đề không thể giải quyết được. Nếu chúng ta duy trì chính phủ hiện nay thì nền văn minh chắc chắn không thể xâm nhập vào được. Đó là vì nền văn minh hiện đại không thể song song tồn tại được cùng với những truyền thống Nhật Bản. Nếu chúng ta tìm cách thoát ra khỏi những truyền thống cũ kĩ đó thì đồng nghĩa với việc phải hủy bỏ chính phủ đương thời đi. Thế thì đương nhiên, nếu chúng ta ngăn cản lại nền văn minh đang xâm nhập vào Nhật Bản thì chúng ta không thể giữ gìn được nền độc lập của chúng ta. Dù thế nào đi chăng nữa thì sự náo động mãnh liệt của nền văn minh thế giới không cho phép vùng Đảo Đông Á cứ tiếp tục ngủ trong sự cô độc nữa.

Trong thời điểm hiện nay, những sĩ phu Nhật Bản chúng ta hãy dựa trên cơ sở đại nghĩa “coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ”, thêm nữa chúng ta có cơ may được dựa trên thánh chỉ tôn nghiêm của Thiên Hoàng, nhất định chúng ta phải từ bỏ chính phủ cũ, thành lập chính phủ mới, không phân biệt quan lại triều đình và thần dân, toàn dân trong nước tiếp thu nền văn minh hiện đại phương Tây. Nếu chúng ta làm được như vậy, chúng ta không những có thể thoát ra khỏi sự trì trệ lạc hậu cũ kĩ của nước Nhật Bản mà còn có thể đặt lại được một trật tự mới trên toàn Châu Á. Chủ trương của tôi chỉ gói gọn trong hai chữ “Thoát Á”.

Nước Nhật Bản chúng ta nằm tại miền cực đông Châu Á, giá như chúng ta có tinh thần dân tộc thoát ra khỏi những thói quen cổ hủ của Châu Á mà tiếp cận tới nền văn minh phương Tây thì chúng ta đã có thể hoà nhập với nền văn minh phương Tây rồi. Tuy nhiên, thật không may cho Nhật Bản chúng ta, bên cạnh nước chúng ta có hai nước láng giềng, một nước gọi là Chi Na (Trung Quốc), một nước gọi là Triều Tiên. Cả hai dân tộc của hai nước này giống như dân tộc Nhật Bản chúng ta đều được nuôi dưỡng theo phong tục tập quán, tinh thần và nền giáo dục chính trị kiểu Châu Á cổ lai hi. Tuy nhiên, có lẽ do nhân chủng khác nhau, hoặc do quá trình di truyền khác nhau, hoặc do nền giáo dục khác nhau nên có sự khác biệt đáng kể giữa ba dân tộc. Dân tộc Trung Quốc và Triều Tiên giống nhau nhiều hơn và không có nhiều điểm giống với dân tộc Nhật Bản. Cả hai dân tộc này đều không biết đường lối phát triển quốc gia tự lập.

Ngày nay, trong thời đại phương tiện giao thông tiện lợi, cả hai dân tộc không thể không nhìn thấy được sự hiện hữu của nền văn minh phương Tây. Nhưng họ lại cho rằng những điều mắt thấy tai nghe về nền văn minh phương Tây như vậy cũng không làm họ động tâm động não. Suốt hàng nghìn năm họ không hề thay đổi và vẫn quyến luyến với những phong tục tập quán cũ kĩ bảo thủ. Giữa thời buổi văn minh mới mẻ và đầy khí thế ngày nay mà khi bàn luận về giáo dục thì họ thường lên tiếng giữ gìn nền giáo dục Nho học (Hán học), bàn về giáo lý của trường học thì họ chỉ trích dẫn những lời giáo huấn “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí”, và chỉ phô trương coi trọng hình thức bên ngoài giả tạo, thực chất họ coi thường chân lí và nguyên tắc, còn đạo đức thì hung hăng tàn bạo và vô liêm xỉ không lời nào tả xiết, đã vậy họ lại còn kiêu căng tự phụ.

Theo đánh giá của tôi, trong tình hình lan truyền mạnh mẽ của nền văn minh phương Tây sang phương Đông như hiện nay, hai nước ấy không thể giữ gìn được nền độc lập. Nếu trong hai nước ấy, xuất hiện những nhân tài kiệt xuất mở đầu bằng công cuộc khai quốc, tiến hành cuộc đại cải cách chính phủ của họ theo quy mô như phong trào Duy Tân (Minh Trị Duy Tân) của chúng ta, rồi cải cách chính trị, đặc biệt là tiến hành các hoạt động đổi mới nhân tâm và cách suy nghĩ thì may ra họ mới giữ vững được nền độc lập, còn nếu không làm được như vậy thì chắc chắn chỉ trong vòng vài năm tới hai nước sẽ mất, đất đai của các hai nước ấy sẽ bị phân chia thành thuộc địa của các nước văn minh khác trên thế giới. Vậy lý do tại sao? Đơn giản thôi, vì tại thời điểm mà sự lan truyền của nền văn minh và phong trào khai sáng (bunmei kaika) giống như sự lan truyền bệnh sởi, hai nước Trung Quốc và Triều Tiên đã chống lại quy luật lan truyền tự nhiên ấy của nền văn minh. Họ quyết liệt tìm cách chống lại sự lan truyền nền văn minh ấy ví như họ tự đóng chặt cửa sống trong phòng khép kín không có không khí lưu thông thì sẽ bị chết ngạt.

Tục ngữ có câu “môi hở răng lạnh”, nghĩa là các nước láng giềng không thể tách rời được nhau và giúp đỡ lẫn nhau, nhưng hai nước Trung Quốc và Triều Tiên trong thời điểm hiện nay không đóng vai trò giúp đỡ một chút nào cho nước Nhật chúng ta cả. Dưới nhãn quan của người phương Tây văn minh, họ nhìn vào những gì có ở hai nước Trung Quốc và Triều Tiên thì sẽ đánh giá nước Nhật chúng ta cũng giống hai nước ấy, có nghĩa là họ đánh giá ba nước Trung – Hàn – Nhật giống nhau vì ba nước cùng chung biên giới. Lấy ví dụ, chính phủ Trung Quốc và Triều Tiên chuyên chế cổ phong và không có hệ thống pháp luật nên người phương Tây cũng nghĩ rằng Nhật Bản chúng ta cũng là một nước chuyên chế và không có luật pháp. Các sĩ phu hai nước Trung Quốc và Triều Tiên mê tín hủ lậu không biết đến khoa học là gì thì học giả phương Tây nghĩ Nhật Bản chúng ta cũng chỉ là một nước âm dương ngũ hành. Nếu người Trung Quốc hèn hạ không biết xấu hổ thì nghĩa hiệp của người Nhật cũng bị hiểu nhầm. Nếu ở Triều Tiên có hình phạt thảm khốc thì người Nhật cũng bị người phương Tây coi là không có lòng nhân ái. Chúng ta có thể nêu ra biết bao nhiêu ví dụ cũng không hết được.

Lấy những ví dụ này, tôi ví trường hợp nước Nhật Bản bên cạnh các nước Trung Quốc và Triều Tiên không khác gì trường hợp trong một làng có một người sống bên cạnh toàn những người ngu đần, vô trật tự, hung bạo và nhẫn tâm thì dù người đó có là người đúng đắn lương thiện đến đâu đi chăng nữa cũng bị nhiều người khác cho rằng là “cá mè một lứa”, cũng chẳng khác gì những người hàng xóm. Khi những vụ việc rắc rối này sinh sôi nảy nở có thể gây ảnh hưởng trở ngại lớn tới con đường ngoại giao của chúng ta. Thực tế này là một đại bất hạnh cho nước Nhật Bản!

Vì vậy, nhằm thực hiện sách lược của chúng ta thì chúng ta không còn thời gian chờ đợi sự khai sáng (enlightenment, bunmei kaika) của các nước láng giềng Châu Á để cùng nhau phát triển được mà tốt hơn hết chúng ta hãy tách ra khỏi hàng ngũ các nước Châu Á, đuổi kịp và đứng vào hàng ngũ các nước văn minh phương Tây. Chúng ta không có tình cảm đối xử đặc biệt gì với hai nước láng giềng Trung Quốc và Triều Tiên cả, chúng ta hãy đối xử với hai nước như thái độ của người phương Tây đối xử. Tục ngữ có câu “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”, nghĩa là nếu chúng ta chơi với những người bạn xấu, thì chúng ta cũng trở thành người xấu. Đơn giản là chúng ta đoạn tuyệt kết giao với những người bạn xấu ở Châu Á!

Hải Âu, Kuriki Seiichi dịch

*****

Về tác giả: Fukuzawa Yukichi (1835-1901, tên phiên âm Hán Việt: Phúc Trạch Dụ Cát) là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu và rộng nhất đến xã hội Nhật Bản cận đại. Ông là một nhà cải cách chính trị xã hội, nhà giáo dục tiên phong, nhà tư tưởng tiêu biểu của Nhật Bản từ cuối thời Edo, đầu thời kỳ Minh Trị – thời kỳ diễn ra những chuyển biến lớn lao trong lịch sử Nhật Bản.

Tư tưởng của ông có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào Khai sáng ở Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tạo tiền đề cho Nhật Bản trở thành một cường quốc trên thế giới. (Nguồn: Wikipedia)

http://www.gocnhinalan.com/nhung-cuon-sach-hay/thoat-a-luan.html

Đọc tiếp

Những hình ảnh qúy giá về Việt Nam 130 năm trước (ST)

Những hình ảnh rất sinh động và về Việt Nam thời thuộc địa dưới đây được giới thiệu trong tạp chí “Thế giới”, xuất bản năm 1889 tại Pháp. Đọc tiếp

PHỞ Hà Nội bàn mãi vẫn còn dư vị ngon ngon

 

(Đến với kỳ Worl Cub,  cần ăn đêm  bằng bài về PHỞ HÀ NỘI mà tôi tâm đắc nhất của tác giả Nguyễn Lưu-một “chuyên gia thẩm định món ăn” của Hà Thành)

Theo những thông tin riêng, món phở du nhập vào Việt Nam sớm hơn nhiều món ăn khác và sức lan tỏa, khả năng “phủ sóng” của phở thì không gì sánh nổi. Mới đây, phở của Việt Nam đã được tôn vinh vào Top10 những món ăn ngon của thế giới và cái món phở nói trên được hiểu là phở Hà Nội, như cam Vinh, hủ tiếu Nam Vang hay bún Huế…và vì thế, ngày xuân ngẫm đến món quốc hồn quốc túy này xem ra cũng thú lý như đi vãn chùa hay xem hội vật, múa lân vậy. Đọc tiếp

Vận mệnh nước Việt cần sự dấn thân của cả dân tộc

Nhà báo Kỳ Duyên trên VNN phân tích khá thấu đáo về sự kiện TQ xâm lấn biển nước ta

Vận mệnh sinh tử nước Việt lúc này không thể chờ sự … bâng khuâng, mà cần sự thay đổi nhận thức và sự dấn thân của cả dân tộc, của chính quyền, của nhân dân.Những ngày này, nhân dân cả nước như “sôi” lên vì một vụ việc thách thức nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

Đó là mới đây, Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn khoan Hải Dương – 981 vào hoạt động trong vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của VN, cách bờ biển VN khoảng 120 hải lý, cách đảo Lý Sơn 119 hải lý (221km) và cách phía nam đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa của VN khoảng 18 hải lý. Tọa độ đặt giàn khoan này đặc biệt quan trọng về vị trí chiến lược an ninh và quốc phòng. Theo các chuyên gia, ở đây có thể quan sát được toàn bộ 3260 km bờ biển VN.

Như vậy, giàn khoan dầu khí chỉ là một “chân sói” trong ngụ ngôn xa xưa….

Lòng tham và ý đồ xâm chiếm chủ quyền nước Việt của TQ, quốc gia vẫn luôn tự nhận là bạn vàng đã đến lúc không thể che giấu.

Vàng hóa ra không cần thử lửa, mà chỉ cần thử bằng… nước Biển Đông, vẫn có thể lộ rõ, vàng hay chỉ là… thau!

Không có gì bất biến

Nhưng bình tĩnh suy xét, ở thời đại này, sẽ thấy không có cái gì là bất biến. Nhà thơ Xuân Quỳnh từng có một câu thơ đắng chát, tưởng chỉ nói về tình yêu trai gái, mà hóa ra nói về cái… tình của quốc gia với quốc gia cùng ý thức hệ tư tưởng: “Hôm nay yêu mai đã lại xa rồi”.

Cái mai ấy, tiếc thay, nó đang là hôm nay một cách nhãn tiền.

Khi cái giàn khoan khổng lồ với chiến thuật “quốc gia di động” đang hàng ngày, hàng giờ, hàng phút diễu võ giương oai, khoan vào nỗi đau rỉ máu của 90 triệu người dân Việt trước chủ quyền lãnh thổ bị xâm phạm trắng trợn.

Câu thơ tình hóa ra, còn là dự báo cho sự xoay vần của thế cuộc các quốc gia ở cái thời đại mà nếu trí tuệ và tỉnh táo, khôn ngoan nhất, sáng suốt nhất, bất di bất dịch nhất, sẽ nhận ra với bất cứ quốc gia nào, cũng chỉ có lợi ích dân tộc là tối thượng. Ngay chính khách nổi tiếng như Thủ tướng Anh Spencer-Churchill, vị Thủ tướng Anh duy nhất nhận giải Nobel Văn học, cũng là người từng có phát ngôn nổi tiếng về cái sự bất biến: Trên thế giới này không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn.

 

Ấn tượng trong tuần, Kỳ Duyên, vận mệnh, nước Việt, Trung Quốc, đục nước thả giàn khoan, một mình một chợ, lòng yêu nước, vì lợi ích dân tộc, bất biến

Tàu Trung Quốc tiếp tục xịt vòi rồng vào tàu kiểm ngư Việt Nam. Ảnh: TTO

Và vì lợi ích dân tộc là trên hết, thì cái sự “tráo trở”, hay phản trắc của lòng người, phải được coi là điều không bị bất ngờ.

Nhất là cái sự tráo trở, phản trắc, tham lam ấy đặt trong một bối cảnh lịch sử hàng nghìn năm Bắc thuộc, xuyên suốt từ quá khứ đến hiện tại. Người dân Việt xưa nay không bao giờ ảo tưởng hay ngộ nhận về lòng tốt mà ngược lại, quá hiểu “bụng dạ” các triều đại phong kiến TQ cho đến tận… hôm nay.

Đặt trong cái số mệnh địa lý- chính trị đặc biệt và khắc nghiệt của nước Việt luôn ở vị trí đầu sóng ngọn gió, đối mặt với nước láng giềng mà cả tiềm lực kinh tế, quân sự lẫn lòng tham, sự thâm hiểm quỷ quái đều mạnh như nhau.

Theo TS.Nguyễn Khắc Thuần, nguyên Viện Trưởng Viện Châu Á , hiện là Trưởng khoa Du Lịch và Việt Nam Học (Trường ĐH Nguyễn Tất Thành), từ thời Tần Thủy Hoàng đến nay, không triều đại nào của TQ lại không đưa quân sang xâm lược nước ta.

Một quốc gia hùng mạnh đánh một quốc gia nhỏ yếu hơn. Hẳn kết cục ra sao ai cũng rõ.

Nhưng sự “bất ngờ” của lịch sử vẫn luôn xảy ra. Đó là “Các triều đại TQ xâm phạm VN đều bại” (Tuần Việt Nam, ngày 13/5).

Vẫn còn đây, bản hùng ca được coi là Tuyên ngôn độc lập đầu tiên và bất hủ của nước Nam, khi Lý Thường Kiệt chống quân Tống năm 1077:Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư/Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Sông núi nước Nam, vua Nam ở/ Rành rành định phận tại sách trời/ Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời).

“Bất ngờ” nhất, là thời nhà Nguyên, châu Âu hoảng sợ, châu Á tan hoang bởi vó ngựa hung hãn của đế quốc Mông Nguyên. Nhưng ba lần tràn sang, cả ba lần quân Mông Nguyên đều bị thất bại nặng nề (1258-1288) (Tuần Việt Nam, ngày 13/5; và theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia) .

Cho dù thế, thì lòng tham của TQ chưa bao giờ có điểm dừng.

“Chủ nghĩa bành trướng Đại Hán” ở họ một lần nữa lại trỗi dậy trong thời hiện đại, thời mà các quốc gia coi trọng đối thoại hơn đối đầu. Sự thâm hiểm và tính toán tinh vi là ở chỗ, TQ rất biết cách chọn thời điểm nước Việt có những bất cập, tụt hậu trước yêu cầu phát triển để đục nước thả… giàn khoan.

Có điều, dù có binh hùng tướng mạnh, có những nước cờ thâm hiểm hơn nước Việt về nhiều phương diện, TQ vẫn là gã khổng lồ đang muốn che dấu “gót chân Asin”, đánh lạc hướng với chính nhân dân TQ.

Khi mà giới cầm quyền TQ cũng đang phải đối diện với một cuộc “khủng hoảng tín nhiệm xã hội” .. để giải quyết những lo lắng đó, TQ hướng sự chú ý trong nước ra bên ngoài, đánh lạc hướng dư luận, tìm đến “giải pháp biển Đông”, nhằm tạo ra một đợt thủy triều dâng cao của chủ nghĩa dân tộc được sử dụng như một chất kết dính xã hội (Tạp chí VHNA, ngày 09/5).

Ấn tượng trong tuần, Kỳ Duyên, vận mệnh, nước Việt, Trung Quốc, đục nước thả giàn khoan, một mình một chợ, lòng yêu nước, vì lợi ích dân tộc, bất biến

Người dân tuần hành tại Hà Nội sáng 11/5 phản đối TQ hạ đặt giàn khoan trái phép. Ảnh: Lê Anh Dũng

Đó là một “bất ngờ” khác. Lấy sự gây tổn thương cho một quốc gia khác, để … hàn gắn những rạn nứt sâu sắc trong quốc gia mình. Rất nhất quán với ba tư tưởng lớn của chiến lược bành trướng tồn tại xuyên suốt lịch sử TQ là: Viễn giao cận công (Xa thì giao hảo còn gần thì đánh), tiền Nam hậu Bắc (giải quyết các vấn đề ở phương Nam trước, giải quyết các vấn đề ở phương Bắc sau) và Tằm thực (Làm theo lối tằm ăn dâu. Bé nhỏ là con tằm mà ăn hết cả vườn dâu lúc nào không hay (Tuần Việt Nam, ngày 13/5)

Không có gì là “bất biến” cũng đang linh ứng ngay với sức mạnh TQ, là vậy!

Cần sự dấn thân của cả dân tộc

Nhưng trong “nguy có cơ”. Ông cha ta đã từng tổng kết một cách sâu sắc về bản lĩnh sống trước mọi thách thức của dân tộc Việt, khi chủ quyền, độc lập dân tộc bị đe dọa.

Ở một vị thế nước nhỏ, yếu hơn, ở cạnh một nước lớn, nham hiểm và quỷ kế, nước Việt từ ngàn đời xưa luôn có tâm thế giữ tình hòa hiếu, ngay cả khi chiến thắng các đoàn quân xâm lược từ phương Bắc. Nhưng lòng yêu nước của dân tộc Việt cũng luôn dâng đầy và cuồn cuộn hơn sóng nước Biển Đông, mỗi khi chủ quyền quốc gia bị xâm lấn. Và sự hòa hiếu mỗi thời cũng mỗi khác.

Đã qua rồi cái thời thế giới hỗn mang, nước Việt chỉ thấy có Trung Hoa phong kiến ngự trị đáng sợ. Thời hiện đại ngày ngay, thế giới phẳng cho thấy còn rất nhiều những giá trị văn minh của nhân loại ngự trị. Thì muốn hòa hiếu với … “dã tâm” để gìn giữ chủ quyền quốc gia, nước Việt phải rất tinh tường, khôn ngoan trong sự chọn lọc các giá trị để không trở nên cô đơn và một mình một chợ.

Không ai có thể quên những tháng năm nóng bỏng này. Hàng ngàn, hàng vạn người dân Việt, già trẻ trai gái ở Hà Nội, t/p HCM, Đà Nẵng nhất tề xuống đường.

Hướng đạo các cuộc biểu tình này, không ai khác, chính là lòng yêu nước.

Ấn tượng trong tuần, Kỳ Duyên, vận mệnh, nước Việt, Trung Quốc, đục nước thả giàn khoan, một mình một chợ, lòng yêu nước, vì lợi ích dân tộc, bất biến
Canh giữ biển đảo quê hương. Ảnh: Kiên Trung

Lòng yêu nước đã hội tụ người Việt lại với nhau đi theo tiếng gọi bảo vệ non sông, bờ cõi, như câu thơ một bạn trẻ đã viết lên bằng cả máu thịt mình: Hồn dân tộc nghìn năm không chịu khuất!

Hàng ngàn bài báo, mạng truyền thông, mạng xã hội đỏ rực màu cờ VN, kịp thời cập nhật thông tin mỗi ngày, mỗi giờ, phân tích, bình luận, phản đối TQ đặt giàn khoan Hải Dương- 981, đề xuất các giải pháp, mong muốn đưa hành vi xâm lấn của TQ ra trước tòa án quốc tế.

Người dân Việt đang “ăn Biển Đông, ngủ Biển Đông”. Tất cả hướng ra Biển Đông lo âu, căm giận…

Cũng là lần đầu tiên, người đứng đầu CP công khai tuyên bố lên án hành động của TQ trước thế giới, nhân Hội nghị Cấp cao ASEAN ở Myanmar: Hành động cực kỳ nguy hiểm này đã và đang đe dọa trực tiếp đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải ở Biển Đông (VietNamNet, ngày 11/5).

Điều bất ngờ trong vụ việc này, sự xâm lấn của TQ làm tổn thương nặng tình hòa hiếu của nhân dân giữa hai quốc gia, nhưng ở khía cạnh khác, nó thức tỉnh nhận thức bảo thủ và “mơ hồ” về những điều xưa nay không có thật. Thức tỉnh nước Việt cần có những động thái thay đổi một cách quyết đoán- vì lợi ích quốc gia- tạo nên nội lực mạnh mẽ, để đứng vững trước giông bão của thời thế.

Điều này vô tình không hẹn mà gặp- những đòi hỏi khẩn thiết của nước Việt những năm tháng này. Trước sự tụt hậu về kinh tế xã hội trên con đường hội nhập. Trước những đòi hỏi xây dựng nền kinh tế thị trường thực chất, đúng nghĩa, trên nền tảng một thể chế quản lý đang rất cần thay đổi, cải cách, chống lại giặc nội xâm- tham nhũng- động lực thúc đẩy để VN có thể tham gia vào Hiệp định đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) với tâm thế bình đẳng.

Trong bài viết mới đây trên Tuần Việt Nam, ngày 13/5, ông Lê Quang Bình, Viện trưởng Viện nghiên cứu Kinh tế, Xã hội và Môi trường (iSEE) đã nhìn nhận thẳng thắn: Rõ ràng VN cần tự thoát khỏi thế kìm kẹp này bằng cách tự đổi mới mình… Việc VN cải tổ theo hướng thúc đẩy nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường tự do, và một xã hội dân sự phát triển  chắc chắn sẽ kết nối VN với các nước Châu Âu, Úc, Hàn, Nhật và Mỹ. Khi đó, sự ủng hộ VN sẽ mạnh hơnnhiều.

Cả đối ngoại- cuộc chiến chống “ngoại xâm”, và đối nội- cuộc chiến chống sự tụt hậu, chống giặc “nội xâm” tham nhũng tàn phá đất nước- đều đang đòi hỏi nước Việt phải thay đổi, đổi mới chính bản thân mình, vượt lên chính mình.

Chợt nhớ câu thơ giữa ngã ba đường mà khi dấn thân theo con đường cách mạng, nhà thơ Tố Hữu đã từng viết: Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước/ Chọn một dòng hay để nước trôi?

Nhưng vận mệnh sinh tử nước Việt lúc này không thể chờ sự … bâng khuâng, mà cần sự thay đổi nhận thức và sự dấn thân của cả dân tộc, của chính quyền, của nhân dân.

Chỉ khi ấy, cả nước Việt, tin chắc, sẽ cùng nhìn về một hướng- vì lợi ích dân tộc, vì sự trường tồn và phát triển của cả quốc gia.

Sự nguy hiểm của thói tham lam, ngang nhiên xâm chiếm vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế VN của TQ, làm nước Việt phẫn uất, nhưng nó cũng tạo ra một cơ hội thúc đẩy nước Việt thay đổi, đổi mới, nắm bắt những giá trị văn minh của nhân loại, tạo ra giá trị bền vững của mình. Mà nhờ đó, nước Việt sẽ trở nên mạnh mẽ, tự tin trước đầu sóng ngọn gió Biển Đông.

Chỉ có lòng yêu nước là bất biến. Chỉ có lợi ích quốc gia trên hết- là bất biến!

Kỳ Duyên

Đọc tiếp

Thơ Nguyễn Trãi gợi trong ngày biểu tình 11 – 5 – 2014

Mời xem link bài ảnh mình đưa tin và bình luận:

https://www.facebook.com/lienminh.dang.1?fref=photo

Lịch sử dân tộc Uyghur / Duy Ngô Nhĩ

Lướt mạng thấy bài này là một khảo cứu công phu và thú vị về dân tộc và nhân chủng học, lưu tư liệu tham khảo. Bạn nào ham mê tìm hiểu thế giới nên đọc cũng đáng thời giờ

Uyghur là một dân tộc Trung Á sống chủ yếu ở khu tự trị Tân Cương, Trung Quốc. Trong lịch sử, tên gọi “Uyghur” được dùng để chỉ các bộ lạc nói tiếng Turk sống tại khu vực dãy núi Altay. Cùng với người Kokturk, người Uyghur là một trong các nhóm gốc Turk lớn nhất và tồn tại lâu nhất tại vùng Trung Á. Đọc tiếp

Vũ Hữu Định(1942-1981), đường đi chưa tới ( bài st)

.

Đỗ Trường

2
Từ độ Nguyễn Bính bị “giam mình“ bởi Trăm Hoa đua nở, để rồi phải chết trong cái tận cùng của sự đói khổ vào một đầu ngày xuân, nơi bè bạn. Cứ tưởng rằng, văn học sử Việt Nam không phải viết tiếp những cái bi thương đó. Nhưng đúng mười lăm năm sau (1981) thi sĩ Vũ Hữu Định ra đi, trong cái khốn cùng ấy, đã lặp lại y chang bóng hình Nguyễn Bính. Tuy không cùng một thế hệ, nhưng Nguyễn Bính và Vũ Hữu Định đều là hai thi sĩ đích thực nhất, lấy thơ, rượu và rong chơi bạn bè, giang hồ làm thú vui của cuộc đời. Nếu như Lỡ Bước Sang Ngang hay đến độ trùm cả lên tên gọi của Nguyễn Bính, thì Còn Một Chút Gì Để Nhớ đã làm nên tên tuổi nghệ sĩ Vũ Hữu Định. Tôi không có ý so sánh, nhưng quả thật, Nguyễn Bính và Vũ Hữu Định có những cá tính, thân phận khá trùng hợp nhau.

Vũ Hữu Định tên thật là Lê Quang Trung, sinh năm 1942 tại Thừa Thiên Huế, trong gia cảnh nghèo túng. Cuộc đời lang bạt nhiều nơi, nhưng Đà Nẵng mới là chốn đi về, cũng là nơi dừng chân cuối cùng của ông.

Vũ Hữu Định bộc lộ năng khiếu văn thơ khá sớm. Những năm đầu thập niên sáu mươi, của thế kỷ trước, ông đã có thơ đăng rải rác trên các báo ở Sài Gòn. Nhưng phải đến chục năm sau,(1970)thơ của ông mới thật sự bước vào độ chín. Dù trước khi dừng bước giang hồ (chết) Vũ Hữu Định chưa có một tập thơ riêng nào, nhưng thơ của ông đã được in một cách trân trọng, sâu đậm nhất, trong lòng bạn bè và người đọc, từ suốt mấy chục năm qua. Tôi nghĩ, Vũ Hữu Định đã chinh phục được nhiều thế hệ người đọc như vậy, bởi sự trong sáng trong thơ, trong tư tưởng, chứ không hẳn chỉ vì tài năng của ông. Thơ Vũ Hữu Định nhẹ nhàng không chỉ trong tình yêu quê hương, tình yêu đôi lứa, tình bằng hữu, mà khi viết về thân phận con người dù trong xã hội, hoàn cảnh bi đát nhất, đắng chát nhất, ta vẫn cảm thấy lời thơ, nỗi buồn ấy, man mác, dìu dịu, dường như thoảng qua thôi. Chứ tuyệt nhiên không thấy nó bùng, hoặc gợn lên một chút hằn học, đắng cay. Nên đọc thơ ông, không gây cảm giác nặng nề, dù người đọc khó và kỹ tính nhất.

Cũng như Nguyễn Bính, cuộc đời Vũ Hữu Định là chuỗi ngày dài khao khát tìm kiếm, trong men say với những bước chân giang hồ. Nhưng nó lại là chiếc vòng luẩn quẩn, Vũ Hữu Định không bao giờ đi tới đích. Cho nên, bốn mươi năm rong chơi, cuộc đời ông chỉ là những áng mây, bồng bềnh trong buổi chiều đông xám ngắt, buồn hay vui cũng chẳng thể giãi bày:
“Chiều dựng mùa đông mây xám ngắt
núi cao trời thấp có ta về
giang hồ đâu có ai phong ấn
mà nghĩ từ quan trở lại quê
——————————-
Ta đi, có những ngày trú quán
lòng mốc tình khô như lá bay
ngồi quán suốt ngày trông thiên hạ
ta có sầu không ta cũng chẳng hay…” (Chẳng Hay)

Thật là kỳ lạ, thoáng đọc qua Vũ Hữu Định, ta cứ ngỡ, trong những lúc bồng bềnh tỉnh say ấy, thi sĩ bất chợt viết ra những câu thơ, làm nao lòng đến như vậy. Nhưng khi bình tâm, đọc ông kỹ hơn, ta mới cảm được, cái lung linh, tinh túy đó, chỉ có thể được chiết, vắt ra từ cái quằn quại trong tâm hồn sâu thẳm, tỉnh táo hơn ai hết của thi sĩ. Biết là thế và rất tĩnh tâm đọc ông, nhưng đôi khi ta vẫn phải giật mình tự hỏi. Thi sĩ vờ? Hay Vũ Hữu Định đang say:

“Anh là một gã giang hồ tới/ Lòng hoang như con lộ không đèn/ Ngồi với hồn sầu ly rượu cạn/ Sao mới vài ly mà đã say?”.

Vâng! Vũ Hữu Định đã vờ say, để vắt ra những câu thơ rất tỉnh. Chỉ một chút hương tinh túy của đất trời, thi sĩ đã chưng cất lên bức tranh Quê Rượu, yên bình tuyệt đẹp. Trước cũng như sau Vũ Hữu Định, có nhiều thi sĩ đã dùng hương, khói bay để diễn tả tâm trạng, hay một nỗi nhớ quê xa…Như câu thơ Huy Cận “ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà“. Huy Cận bảo, không có khói. Thật ra hương khói ấy, đã có thường trực trong lòng thi sĩ, trong lòng người đọc rồi. Nhưng viết lạ như Vũ Hữu Định, có lẽ chúng ta ít gặp. Thi sĩ bảo, dường như đã say men, say rượu, nhưng đâu phải vậy (ông đang đùa đấy). Ông đang say cái đẹp, cái hương đầu mùa trong làn khói hoàng hôn xuống:

“ Tới đây thấy lúa vàng đang chín
Đứng lại nhìn thôn xa khói bay
Không biết nhà ai đâu nấu rượu
Thoảng thoảng hương mùa đã muốn say” (Quê Rượu)

Có lẽ, không thể thơ nào ép nén ngôn từ, ý tưởng của người thi nhân, như thơ tứ tuyệt. Nó chỉ được(nở) bung ra, khi người thưởng ngoạn chạm đúng vào cái van nén đó. Cấu trúc thơ tứ tuyệt nhỏ là thế, nhưng lại dung tải những điều lớn lao khôn cùng. Thông qua hình tượng cụ thể, nhà thơ gửi vào đó cảm xúc, tư tưởng của riêng mình và đôi khi nó còn là của cả một xã hội đương thời hay chế độ xã hội đã qua…(Nói vui, làm thơ tứ tuyệt cứ như công việc của người thợ nén và nổ bỏng ngô vậy).

Vũ Hữu Định cũng thế, ông có nhiều bài thơ tứ tuyệt hay, nhưng hai bài: Màu Trời Cũ, Cảm Mà Viết 3, được viết trước và sau 1975, tôi thích hơn cả. Có một điều kỳ lạ, cả hai bài đều có nội dung tư tưởng trùng lặp nhau. Nó như là khúc hát u hoài, mang mang niềm tiếc nuối. Dường như người thi sĩ cố giấu đi cái xót xa đau đớn đó. Nhưng trong cơn say, cơn mê, sự thật lại trở lại và nỗi đau kia đã vỡ òa trong ông. Đọc hai bài thơ này, ta chợt ngộ ra cái mâu thuẫn ngay trong nội tâm của thi sĩ. Và cả cuộc đời ông luôn phải đi tìm, giải quyết mâu thuẫn ấy:

“Sáng hôm nào ngó lại
Màu xanh trên trời cao
Màu của trăm năm cũ
Mà sao lòng ta đau” (Màu Trời Cũ)

“Khi tỉnh chẳng bao giờ ta khóc
Lúc say mê khúc hát người xưa
Một ý cũ như là trái đất
Ngấm trong ta bật tiếng khóc òa”. (Cảm Mà Viết 3)

Trong hành trình tìm kiếm đó, lúc nào Vũ Hữu Định cũng cảm thấy cô độc, dù xung quanh ông đầy ắp bạn bè. Và ông luôn luôn là người đi ngược lại những con đường. Để rồi khi thành phố về đêm, ông chỉ còn là người lỡ hẹn. Rồi những bước chân vô định ấy, in lên thành phố, một tiếng lặng câm, dù ông đang nghe thấy hàng nghìn tiếng động. Vâng! Đó là những bước chân đã lỗi nhịp. Dù không tiếng vọng, nhưng nó như ngàn nhát búa gõ vào hồn người. Bài “Tạm Trú“ là một bài thơ hay. Tôi nghĩ, có nhiều người chung hoàn cảnh, đau và thấm thía, khi đọc bài thơ này:

“…trong đám đông anh lại càng cô độc
bởi một nơi đâu cũng ăn tạm ở nhờ
sợ cả lời chia vui thành thật
bạn bè thì đông sao anh vẫn bơ vơ
buổi tối xe lam muộn màng ế khách
lại tới một nơi không hẹn không tìm

anh đi ngược lại con đường xe chạy
mỗi bước chân rời mỗi nhịp đau tim
thành phố lặng là khi nghìn tiếng động
không xô tan được khối lòng sầu
chân anh bước, mắt chỉ nhìn phía trước
tai nghe hoài một câu hỏi về đâu…”

Bước chân đã lỗi nhịp, Vũ Hữu Định chơi vơi trong khoảng không rách nát. Sự cô đơn cùng cực trong cái hoang vắng của linh hồn, nhà thơ tìm đâu ra một tri kỷ? Thời chẳng còn những Thi Thánh, Thi Tiên, cùng với rượu thi sĩ tìm về với Thi Qủi Lý Hạ trong cõi u hoài. Đêm Mưa Thiếu Rượu Nhớ Lý Hạ, là một bài thơ như vậy. Vũ Hữu Định đã mượn Lý Hạ, để giãi bày sự cô đơn trong tận cùng nghèo khổ về cả vật chất lẫn tâm hồn của người thi nhân:
“…Cứ tưởng nằm kề bên họ Lý
Gác chân nhau nói chuyện biển dâu
Ma quỷ sợ tâm hồn ướt rượu
Gối chai không mà thương nhớ nhau
Thời đại thánh thần đi mất biệt
Còn lại bơ vơ một giống sầu
Rót mãi, bao nhiêu tình cũng cạn
Nâng ly, nhìn thấy tóc bạc mau…“

Bốn mươi năm trên cõi tạm của Vũ Hữu Định là vòng tròn luẩn quẩn. Cái luẩn quẩn ấy, có ngay từ trong tâm thức nhà thơ. Do vậy, bao khát khao, khi đi cũng như lúc trở về của ông đều mờ mờ, nhạt nhạt. Và con đường cuối của nhà thơ là con đường lang thang về lại cõi ao tù. Tuy hoang mang cay đắng là thế, nhưng ta vẫn thấy lời thơ nhẹ nhàng, như chính con người ông:
“Bờ chiều sắc cỏ sông xanh
Mây bay anh đứng lại nhìn mây bay
Nỗi niềm vui với đắng cay
Theo sông nước chảy theo ngày phù du
Lang thang về cõi ao tù
Lạ quen ai đó nghìn thu nhớ gì!” (Không Đề)

Đọc Luân Hoán và Hoàng Cát, thấy hai ông thi sĩ này, tử vì thơ đã thấy kinh, nhưng khi nghiên cứu Vũ Hữu Định, tôi còn thấy thất kinh hơn. Nói như từ ngữ thời nay, của mấy ông bà nghệ sỹ trẻ: Vũ Hữu Định đã cháy hết mình cho thi ca. Qủa thật, cháy hay đốt thế nào thì chưa biết, nhưng cứ để vợ con nheo nhóc, nhiều bạn bè dù rất thương Vũ Hữu Định, cũng phải phàn nàn về ông.

Nói là như vậy, nhưng từ một khía cạnh nào đấy trong tâm hồn thi sĩ mới hiểu và cảm thông được cho ông. Nói như nhà thơ Đinh Trầm Ca:

“ Tôi không thích những người vô trách nhiệm, thiếu bổn phận…Hai mươi năm nay tôi lại giống anh lúc trước, tôi mới hiểu được và thương anh. Khi tôi hiểu được thì không còn Định nữa để mời một chén rượu cảm thông. Tôi không nghĩ anh là người ham danh, hay nhẹ nhàng hơn, có chút ưu ái hơn các bạn tôi rằng anh là người say đắm thơ, rượu. Tôi biết rằng những tháng năm đen tối đời anh không nhờ thơ, rượu thì không biết con người anh sẽ ra sao? Và cuối cùng thơ rượu đã cứu rỗi anh.“

Cuộc sống Vũ Hữu Định là những chuyến đi dài, ngắn. Trách nhiệm gia đình chắc chắn dồn lên vai người vợ trẻ. Tôi cho rằng, không phải Vũ Hữu Định ít nghĩ đến trách nhiệm gia đình, mà có thể ông còn nghĩ nhiều hơn đã tưởng. Nghiên cứu về Vũ Hữu Định, tôi thấy có nhiều bài thơ, ông viết về vợ con gia đình, đọc cảm thấy rưng rưng. Vâng! Cũng có lẽ, từ những vần thơ đắng chát này, không những bạn bè mà vợ con gia đình cảm thông cho thi sĩ phần nào chăng?

“…Lần nào em sinh nở
ta cũng phải vắng nhà
tháng này em sinh nở
ta lại trên đường xa
…cám ơn người vợ khổ
chiều nay ta khóc thầm
uống những giọt rượu đắng
ngày xa quê long đong…”.

Cũng như nhiều nhà thơ khác, Vũ Hữu Định là người gắn bó, yêu quê hương, đất nước hơn bao giờ hết “ Mùa lúa năm nay đòng đòng đã trổ/ Anh yêu mùa yêu đất yêu quê“. Dường như, bài thơ nào viết về quê hương đất nước, của ông cũng hay. Lời thơ nhẹ nhàng, giầu hình tượng, tưởng như những nốt nhạc rót thẳng vào lòng người. Và có lẽ, chỉ có tình yêu trong sáng, chân thực người nghệ sĩ mới làm rung động lòng người đến như vậy. Có khi chỉ là làn khói bếp bay lên trong chiều hoàng hôn, bên đồng lúa vàng đang vào mùa gặt, hay một tiếng gọi đò trưa cũng làm tâm hồn ông thổn thức bồi hồi. Và có cơn bão về làm cho lòng ông quằn quại, đớn đau:

“cơn bão lớn về bình nguyên giục giã
run theo cây mùa lúa rạp buồn rầu
cát bụi lộn đường bay tản về đâu
khung cảnh dựng mùa nguyên sơ man dã

con sông nước về tràn mọi ngả
thuyền bè đi, đi mất tự bao giờ
những bến chiều tấp nập mộng ban sơ
đã hun hút trong triều lên trắng xoá…”. (Thời Tiết)

Có thể nói bài thơ Còn Một Chút Gì Để Nhớ là chiếc đinh, đã đóng dính tên tuổi Vũ Hữu Định vào trang, thế kỷ hai mươi với những bài thơ hay của văn học đất Việt. Nó cũng giúp cho nhạc sỹ Phạm Duy, để lại cho đời một nhạc phẩm (cùng tên) mãi ru hồn người.

Có người cho đây là bài thơ tình. Tôi nghĩ, không hẳn như vậy. Và câu chuyện bắt đầu, từ người lính chiến trên đồn biên giới, lần đầu làm thân lữ khách. Có phải người lữ khách đó là Vũ Hữu Định, hay thi sĩ đã hóa thân làm anh lính chiến ấy? Trong tâm trạng buồn tênh, trước khoảng trời xanh dường như đang thấp xuống, thi sĩ chợt thấy em đi trong sương khói mông lung huyền ảo, giữa cái lạnh chiều đông. Để rồi, chợt một phút xuất thần và có lẽ giây phút xuất thần đó đến với Vũ Hữu Định chỉ có một lần? Thi sĩ đã kịp vẽ lại. Thật là kỳ lạ, chỉ có bốn khổ thơ ngắn gọn đơn giản, thế mà dáng vóc, thần thái của phố núi hiển hiện lên rất hoang sơ mà lãng mạn. Nó như là bức tranh hai mặt, thành phố đã tạc vào em, hay em đã tan trong thành phố, làm người lữ khách phải ngất ngây. Cho nên, dù quen, hay người lần đầu đến với Pleiku, trong hoàn cảnh, tâm trạng nào, khi đọc(nghe) cũng cảm thấy gần gũi và không khỏi bồi hồi xúc động.

Và tôi tin rằng, chắc chắn mai này, sẽ có một con đường Vũ Hữu Định mờ mờ sương khói, được gắn với với bài thơ này, trên dáng hình em phố núi Pleiku.

Không hiểu do vô tình hay cố ý, ở trong nước, khi viết, đọc và hát, người ta đã đổi từ TRÊN ĐỒN trong câu thơ nguyên bản: Mai xa lắc trên đồn biên giới, là một câu thơ sống, nó sẽ hiển hiện ra sự sống, hình bóng người lữ khách, người lính trên đồn biên cương, bằng từ BÊN ĐỒI, làm cho câu thơ trở thành câu thơ chết, vô nghĩa vô hồn: Mai xa lắc bên đồi biên giới.
Hay câu: Đi dăm phút đã về chốn cũ. Từ Dăm trong câu thơ bị thay bằng con số đếm NĂM (5) làm cho câu thơ bị đóng khung, gò bó. Từ dăm, ba mang tính ước lệ, làm cho câu thơ thoáng đạt và hay hơn rất nhiều.

Thật vậy, trong một bài thơ chỉ bị thay một từ, một câu ý nghĩa của cả bài sẽ khác đi nhiều lắm.

Và thật kỳ lạ, trên bia mộ thi sĩ Vũ Hữu Định cũng thấy khắc câu thơ vô nghĩa “Mai xa lắc bên đồi biên giới“ này? Tôi nghĩ, nếu như vì lý do gì đó, không được sử dụng nguyên bản, nên đổi câu thơ, đoạn thơ khác của thi sĩ. Vũ Hữu Định không thiếu những câu thơ hay. Nghe nói, bia mộ này, do các nhà thơ bạn của thi sĩ cùng với gia đình dựng lên?

Chúng ta hãy đọc(nghe) bài thơ này, để cảm lại tài năng của thi sĩ Vũ Hữu Định nhé: (http://www.youtube.com/watch?v=WPS1MVmvEeU)

“phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương
phố núi cao phố núi trời gần
phố xá không xa nên phố tình thân
đi dăm phút đã về chốn cũ
một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng
em Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trong
xin cảm ơn thành phố có em
xin cảm ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc trên đồn biên giới
còn một chút gì để nhớ để quên”.

Sinh ra và lớn lên, rồi phải sống cùng chiến tranh, nên Vũ Hữu Định nhận ra sự tàn khốc của nó. Đọc bài thơ Trên Đoạn Đường Về Quê của ông, được viết vào năm 1972, làm tôi chợt nhớ đến câu thơ, của Nguyễn Duy “nghĩ cho cùng/mọi cuộc chiến tranh/phe nào thắng thì nhân dân đều bại“ Tôi nghĩ, đây là bài thơ rất hay, viết về chiến tranh trong kho tàng thi ca đất Việt. Nó không những hay về nội dung nghệ thuật, mà còn bộc lộ rõ tư tưởng, cái nhìn khách quan của nhà thơ về chiến tranh. Cuối bài thơ là một câu hỏi, đọc lên ta cảm thấy đau đến xé lòng “Những dòng máu đã thấm tràn mạch đất/Có làm tương lai con cháu huy hoàng?“. Huy hoàng sao được khi con cháu chúng ta cũng là nhân dân. Đã là nhân dân thì sự thất bại là điều không tránh khỏi. Và tương lai, đã thấy những gì từ mấy chục năm qua?

“Lửa đã cháy đường ra quê em
Lửa đạn, lửa trời đốt người nghiệt ngã
Lửa đã cháy trong lòng anh hóa đá
Giữa biển người thành thú bò ngổn ngang

Trong hai lằn đạn giữa đồng hoang
Máu chảy ngập chân lúa gầy cỏ dại
Máu đã đỏ con đường anh đi lại
Của những ngày xưa yêu dấu vô cùng

Ôi con trẻ cũng biết tìm sự sống
Bò giữa hôn người vừa chết nát thân
Đêm ngã xuống vô tình con trăng bạc
Những tiếng gọi gào sao không động từ tâm

Lửa rực đỏ treo trăm đường sinh tử
Trong đêm cay, đêm địa ngục hãi hùng
Mẹ thét tìm con tóc dài điên dại
Xiêu vẹo giữa đường chết đuổi sau lưng

Lửa đã cháy đường ra quê em
Lửa đã cháy một đoạn lòng của mẹ
Ôi cái chết có còn chăng lý lẽ
Có lý lẽ nào đã giết anh em

Ðường ra quê em trăm ngàn cay đắng
Lửa hạ đạn gào trăm tiếng kêu la
Những dòng máu vô tình vô tội
Ðã chảy lên nhau thành suối chan hòa

Lửa Quảng Trị lửa rượt về Mỹ Chánh
Rải những thây người gục giữa đồng khô
Những dòng máu đã thấm tràn mạch đất
Có làm tương lai con cháu huy hoàng?”

Với tôi, một số bài thơ viết về tình bạn, tình yêu đôi lứa, tôi đã đọc, không phải là những bài thơ hay của Vũ Hữu Định. Viết về tình bạn, tình yêu của ông thường nặng tính kể lể, liệt kê. Chứ hoàn toàn không triết lý sâu sắc viết về tâm trạng, thân phận con người như trong thơ tứ tuyệt. Hay trữ tình, giầu hình tượng như viết về quê hương đất nước. Hôm rồi, có một nhà thơ gửi cho tôi tập Thơ Vũ Hữu Định Toàn Tập, do nhóm nhà thơ Trần Hoài Thư sưu tầm, nhà in Thư Ấn Quán, Hoa kỳ. Đây là tập thơ thứ hai của Vũ Hữu Định. Nhưng tôi tin chưa đầy đủ, thơ của thi sĩ vẫn còn luẩn quất đâu đó. Trong tập thơ này, có bài Một Chiếc Gương Soi, rất dở. Lời thơ sên sến, nhạt nhạt. Không biết Vũ Hữu Định viết bài thơ này vào thời gian nào?(có sự nhầm lẫn khi sưu tầm hay không?) Nếu xóa tên tác giả đi, tôi tin, không ai nghĩ, đó là thơ của Vũ Hữu Định:

“Với số tiền còn lại ngày ở Sài Gòn
Em sẽ soi gương mỉm cười rẽ tóc
Em sẽ nhìn để nhớ anh hôn
Mua cho em chiếc gương tròn bỏ bóp
Quà Sài Gòn về tặng người yêu
Buổi trưa nắng trong vườn xanh Đại Nội
Em sẽ vì anh tô lại môi thơm
Để em nhớ hàm răng em có ngọc
Mắt em đa tình, em sẽ soi gương
Để nhớ anh những ngày xa cách
Tập lại duyên cài lại tóc hoa hường
Anh còn lại năm mươi đồng trong túi
Không mua được gì ngoài một chiếc gương
Bởi anh nghĩ xa nhau còn để nhớ
Trong gương soi anh hôn hết nỗi buồn“

Cứ tưởng mới đây thôi, thế mà đã trên ba mươi năm, Vũ Hữu Định từ bỏ hành trình “đi học làm thơ, xin phần rượu tặng“ trong nhân gian, để về đối ẩm, ngâm thơ cùng Thi Qủi Lý Hạ.

Bốn mươi năm cuộc đời là bốn mươi năm thi sĩ Vũ Hữu Định khao khát, mải miết đi tìm. Tuy nó ngắn ngủi và đường đi chưa tới…nhưng hình ảnh ông, thơ văn ông để lại cho đời, vẫn mãi đậm sâu trong lòng bạn bè và người đọc.
Leipzig 10-4-2014
Đỗ Trường

Đọc tiếp

Ai trả chi phí tìm kiếm máy bay MH370?

Pháp luật TPHCM

Thứ Năm, ngày 10/4/2014 – 04:30

Các nước tham gia tìm kiếm chỉ còn trông chờ hãng Boeing và hãng Malaysia Airlines.

Tuần trước, Bộ trưởng Quốc phòng và Giao thông Hishammuddin Hussein của Malaysia từng nói không ai trong 26 nước tham gia tìm kiếm máy bay MH370 đề cập đến chi phí mà chỉ một lòng tìm kiếm máy bay mất tích mà thôi. Đọc tiếp

Chu Vĩnh Khang Sắp bị Khởi Tố với Tội Ác Chống Lại Nhân Loại và Tội Đảo Chính

Theo Đại Kỷ Nguyên
Lời Bà Đầm xòe:
Chu Vĩnh Khang, trùm an ninh mật vụ của Đảng CS Trung Quốc, sau khi bị tịch thu 14, 5 tỷ đô la đang phải đối mặt án tử hình với tội danh chống lại loài người. Chỉ xét ở tội ác xẻ thịt lấy nội tạng của hàng triệu học viên Pháp Luân Công, Khang và quan thầy của nó, đứng đầu là Tổng Bí Thư , Chủ tịch nước Trung Quốc Giang Trạch Dân, một người bạn, người đồng chí kính mến của Đảng CS Việt Nam, cũng sắp đến hồi phải trả giá với tội ác giết người khủng khiếp của bọn chúng. Cuộc đấu đá này, hẳn sẽ là một núi lửa phun trào, ẩn chứa nhiều khả năng làm thay đổi nước Trung Hoa trong thời gian gần đây.
Vì lý do đó, Blog Bà Đầm xòe xin trân trọng post lại bài này theo trang web của Đại Kỷ Nguyên.

Tin tức từ Bắc Kinh cho biết đương Chủ tịch Tập Cận Bình sẽ dùng tội danh chống lại nhân loại và đảo chính để truy tố Chu Vĩnh Khang. (Hình ảnh: Đại Kỷ Nguyên)

PV Kim Tinh báo cáo] Tin tức từ Bắc Kinh cho biết, Chủ tịch Tập Cận Bình đã vạch kế hoạch dùng tội ác chống lại nhân loại và chủ mưu đảo chính để truy tố Chu Vĩnh Khang. Ngày và giờ chính xác vẫn chưa được cập nhật. Các tình tiết trong ván cờ đấu đá của nội bộ ĐCSTQ đang diễn biến hết sức phức tạp với nhiều biến số khó lường.


Sau khi sự kiện Vương Lập Quân, Bạc Hy Lai bị truy tố, một mưu đồ đảo chính bí mật của lực lượng Bạc-Chu-Giang nhắm vào Tập Cận Bình được đưa ra ánh sáng. Nhóm Hồ-Ôn-Tập đã cùng nhau hợp lại, sau khi kéo đổ được Bạc Hy Lai ngay lập tức thực hiện cuộc vây quét thế lực Chu Vĩnh Khang. Bị kéo đổ theo Chu Vĩnh Khang, các quan chức cấp dưới của Chu Vĩnh Khang trong các hệ thống chính trị và pháp Luật cũng dồn dập bị thất thế và sa thải.
Trung Nam Hải [trụ sở của ĐCSTQ và Chính phủ của CHND Trung Hoa, tương tự cách gọi Nhà Trắng, Nhà Xanh] đã nắm chắc được tội ác cốt lõi nhất trong chính sách khủng bố của Giang Trạch Dân, gồm hai tội: bức hại các học viên Pháp Luân Công và tội âm mưu đảo chính. Điều này đã khiến cho bè lũ nợ máu Giang Trạch Dân cảm thấy muôn phần sợ hãi, chỉ lo chính quyền đương cục dùng tội ác mổ cắp nội tạng cùng tội chống lại nhân loại khác. Vì lý do trên, chúng tạo ra một loạt các cuộc tấn công khủng bố, một mặt buộc Chủ tịch Tập Cận Bình đem khai thác vụ án của Chu Vĩnh Khang dưới tội danh tham nhũng, mặt khác, âm mưu đảo chính nhằm hạ bệ Tập Cận Bình. Đến nay, cuộc đọ sức quyết liệt giữa Tập và Giang đang trong tình thế bế tắc.

Trong bối cảnh kể trên, Chủ tịch Tập Cận Bình có ý định dùng tội ác chống lại nhân loại và âm mưu đảo chính để truy tố Chu Vĩnh Khang – điểm trúng tử huyệt của phe Giang mà tạo thành một đòn tấn công mang tính hủy diệt.
Dùng tội tham nhũng để trị tội Chu Vĩnh Khang , căn cơ của Giang phái sẽ chưa bị mất.
Nhóm của Chu Vĩnh Khang tại Tứ Xuyên, nhóm dầu lửa, nhóm thư ký tới tấp bị sa thải. Tội án tham nhũng của gia tộc Chu Vĩnh Khang khiến người ta phải kinh ngạc. Những thông tin trên được một phương tiện truyền thông “chính thống” của Đại lục đưa ra ánh sáng.
Gần đây, một cuốn tiểu sử đã cung cấp số liệu cho thấy sự giàu có “phú khả địch quốc, hùng bá tứ phương” của gia tộc Chu Vĩnh Khang. Rải rác trên khắp Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Đông và các nơi khác, gia tộc Chu sở hữu 326 khu nhà cao cấp sang trọng, 42kg vàng, bạc cùng một số lượng lớn tiền mặt và các bức tranh nổi tiếng. Thậm chí người ta phát hiện ra một “kho vũ khí” với 27 loại súng, hàng vạn viên đạn cộng với tài khoản ngân hàng tồn đọng, chứng khoán, trái phiếu có tổng trị giá ước tính lên đến hàng trăm tỷ nhân dân tệ.
Khi Chu Vĩnh Khang tại vị, vây cánh tin cận trên toàn hệ thống dầu, chính đàn cùng các hệ thống chính trị và pháp lý, là các siêu cơ sở cho các thủ đoạn trục nhuận của gia tộc Chu Vĩnh Khang. Gần đây ba hệ thống quan chức cấp cao nhất bị chính quyền của Chủ tịch Tập Cận Bình công khai truy tố. Song, phía sau mạng lưới quyền lợi và lợi nhuận khổng lồ do cha con Chu Vĩnh Khang thiết lập vẫn là một đường tối.
Được biết, ba đại kim khố của Chu gia đã dần dần nổi lên mặt nước [bị tố giác]. Với sự hỗ trợ đắc lực của Chủ tịch hãng dầu lửa Tưởng Khiết Mẫn, nguyên ủy viên dự khuyết của chính quyền ĐCSTQ, Phó thư ký tỉnh ủy Tứ Xuyên Lý Xuân Thành cùng Phó tỉnh trưởng Quách Vĩnh Tường, Chu gia đã thực sự trở thành gia tộc giàu nhất Trung Quốc. Sự giàu có ấy có thể ví ngang với GDP của một quốc gia.
Trước đó The Epoch Times – Đại Kỷ Nguyên được biết Chu Vĩnh Khang đục khoét ngân quỹ tài chính, bất động sản với tổng giá trị lên đến hàng trăm tỷ nhân dân tệ. Đây được coi là vụ bê bối tham nhũng lớn nhất kể từ khi lập quốc cho đến nay của ĐCSTQ. Thủ đoạn tàn nhẫn của Chu Vĩnh Khang và vị trí của Chu án đã đe dọa sự sống còn của toàn thể ĐCSTQ. Giang Trạch Dân và Tăng Khánh Hồng đều có liên quan đến vụ án Chu Vĩnh Khang. Bọn họ từ trong tổ chức đó mà thay nhau vơ vét lợi nhuận, Chu được hưởng lợi nhiều nhất.
Một số nhà phân tích chỉ ra rằng, hành vi phạm tội tham nhũng hủ bại trong Chu án khiến người ta phải kinh sợ. Chu Vĩnh Khang dĩ nhiên khó mà thoát khỏi án tử hình. Nhưng, Trung Nam Hải lại sử dụng tội tham nhũng để trị tội Chu Vĩnh Khang. Phía sau đối với phe cánh Tập Cận Bình là mối đe dọa càng lớn hơn của Tăng Khánh Hồng và Giang Trạch Dân. Chúng có thể bình yên mà cắt đuôi cầu sinh. Các thế lực tàn dư còn sót lại có thể cắn trả Tập Cận Bình bất cứ lúc nào.
Tội ác nghiêm trọng nhất của Chu Vĩnh Khang chính là mổ cắp nội tạng sống.
Phe cánh Tập Cận Bình và Giang phái đều nhận thức rõ, vụ án Chu Vĩnh Khang ngoài tội án tham nhũng, hành vi phạm tội nghiêm trọng nhất thực sự là mổ cắp nội tạng.
Trong hai phiên họp của Trung Cộng, các phe vì bảo vệ bộ máy chính quyền nên tạm thời thông qua một thỏa hiệp; sau lưng cảnh tàn sát khốc liệt vẫn không ngừng tiếp diễn. Cùng lúc với chuyến thăm châu Âu của Chủ tịch Tập Cận Bình, hàng loạt sự kiện lớn trong nước phát sinh: Sơn Đông, Bình Độ trưng đất mạnh mẽ cuối cùng dẫn đến thảm kịch một nông dân bị thiêu chết khi biểu tình đòi lại đất, chính quyền Kiến Tam Giang của Hắc Long Giang đã bắt cóc bất hợp pháp, tra tấn cực hình đối với luật sư nhân quyền vì lên tiếng tố cáo các trung tâm tẩy não của ĐCSTQ. Trong khi đó, liên tiếp các sự kiện chém người tại nhà ga Côn Minh, đánh bom tại sân bay… khiến toàn xã hội ngập trong sợ hãi và thù địch.
Như đã phân tích, phe Giang Trạch Dân đang nhắm một đòn phản kích mới vào vị lãnh đạo đương sự, với sự tiến triển và mở rộng của vụ án Chu Vĩnh Khang. Song, hành vi phạm tội lớn nhất trong Chu án là đi theo cựu lãnh đạo Đảng CSTQ Giang Trạch Dân bức hại đến chết hàng triệu học viên Pháp Luân Công, thậm chí mổ sống và cướp đi hàng vạn cơ quan nội tạng trong thân thể các học viên Pháp Luân Công. Trong khi Chu Vĩnh Khang còn tại vị trong hệ thống Ủy ban Chính trị và Pháp Luật, ông ta đã tham gia chỉ đạo việc thu hoạch nội tạng. Sau khi các quan chức cấp cao tham gia vào cuộc đảo chính bị sa thải, phe Giang đã gây ra các cuộc thảm sát đẫm máu khủng khiếp hơn, gia tăng áp lực buộc Tập Cận Bình phải hạ đài. Điều này, ngược lại, buộc Tập Cận Bình phải suy nghĩ và xem xét nâng cấp độ của vụ án Chu Vĩnh Khang.
Quan trọng hơn, trong suốt 15 năm từ nước ngoài cho đến trong nước, các học viên Pháp Luân Công không quản an nguy mà truyền rộng rãi chân tướng. Sự thật về cuộc bức hại phi lý đã đi sâu vào lòng người.
Tại Trung Quốc, rất nhiều dân chúng sau khi hiểu cuộc bức hại là vô lý đã làm tam thoái (thoái khỏi tổ chức Đảng-Đoàn-Đội của ĐCSTQ), lương tâm đạo đức được thức tỉnh. Nhiều sĩ quan cảnh sát sau khi hiểu được sự thật không còn tham gia vào cuộc đàn áp, mà còn thu thập chứng cứ để chuộc lại lỗi lầm cho những hành động sai trái trước kia. Vẫn có nhiều luật sư chính nghĩa hơn nữa và dân chúng cùng đứng ra lên tiếng ủng hộ Pháp Luân Công.
Trên quốc tế, Giang Trạch Dân cùng những thủ phạm của cuộc bức hại đã bị truy tố tại hàng chục quốc gia trên thế giới. Liên Hợp Quốc và dân chúng tại các quốc gia châu Á, châu Âu, châu Đại Dương, Bắc Mỹ, Nam Mỹ đều lên tiếng vạch trần hành vi mổ cắp nội tạng sống từ các học viên Pháp Luân Công. Nhiều hội nghị đa quốc gia đã công khai lên án tội ác của ĐCSTQ đã mổ sống và cướp cơ quan nội tạng của các học viên Pháp Luân Công. Một số nước đã ban hành luật cấm công dân của họ tới Trung Quốc để thực hiện cấy ghép các bộ phận, nâng mức độ hình phạt lên cấp hình sự.
Hiện nay, các lực lượng công lý toàn cầu đã gặp nhau, tội ác của ĐCSTQ đang được tập trung. Trong khi đó, phe cánh Tập Cận Bình không dám cũng không muốn vì tập đoàn Giang Trạch Dân mà chịu liên lụy.
Ngoài ra, Chu Vĩnh Khang dưới tình huống tự biết khó tránh khỏi cái chết, rất có khả năng “tố cáo” Tăng Khánh Hồng, tội ác của Giang Trạch Dân, trong tuyệt vọng mà kéo xuống nhiều hơn vài người nữa để chịu tội thay.
Đây thực chất là bản chất hung ác và khốc liệt vốn có của giới chính trị trong đảng.
Tội ác chống lại nhân loại và cuộc đảo chính tất yếu sẽ khiến tội ác của Tăng Khánh Hồng và Giang Trạch Dân phải lộ diện.
Chu Vĩnh Khang từ năm 1999-2002 đảm nhiệm Bí thư tỉnh ủy Tứ Xuyên, từ khi nhậm chức bắt đầu, luôn luôn tích cực thúc đẩy mạnh mẽ và còn tham gia trực tiếp vào cuộc đàn áp các học viên Pháp Luân Công. Trong nhiệm kỳ của Chu Vĩnh Khang, Tứ Xuyên trở thành một trong các tỉnh dẫn đầu toàn quốc trong việc bức hại đến chết các học viên Pháp Luân Công.
Năm 2007, Giang Trạch Dân nỗi lực đưa Chu Vĩnh Khang vào Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị , thay thế La Cán phụ trách quản lý Ủy ban chính trị và pháp Luật, tiếp tục chính sách khủng bố.
Dưới sự kiểm soát của Chu Vĩnh Khang trong Ủy ban Chính trị và Pháp luật khủng bố bức hại, khó mà đếm hết có bao nhiêu học viên Pháp Luân Công bị bắt cóc, đã bị kết án giam giữ, lao động chuyển hóa. Từ năm 1999 đến nay, ước tính đã có mấy trăm vạn học viên Pháp Luân Công bị bức hại đến chết. Ngoài ra, nhiều học viên Pháp Luân Công bị đánh cắp nội tạng ngay khi đang sống. Tử thi của một số học viên khác được sử dụng làm tiêu bản, mua bán và trở thành vật triển lãm trong các triển lãm tử thi. Đáng sợ hơn nữa là những tội ác này vẫn đang tiếp tục diễn ra.
Bởi vì Chu Vĩnh Khang chỉ là kẻ thực thi chính sách diệt chủng chống lại Pháp Luân Công của Giang Trạch Dân, việc truy cứu vụ án toàn bộ hành vi phạm tội giết người của Chu Vĩnh Khang tất yếu sẽ phải đề cập tới trách nhiệm phía sau của Giang Trạch Dân và Tăng Khánh Hồng và La Cán.
Đây cũng chính là yếu điểm của tập đoàn Giang Trạch Dân khi đối mặt với phe Tập Cận Bình. Nhóm Giang Trạch Dân đã bí mật lựa chọn Bạc Hy Lai làm ứng viên tốt nhất thay thế cho Tập Cận Bình trong cuộc đảo chính. Song rốt cuộc, vì Vương Lập Quân và Bạc Hy Lai có xích mích, âm mưu đảo chính bị đưa ra ánh sáng quốc tế.
Để liên hệ với tác giả của bài viết, xin vui lòng gửi email đến: jinjingyongmeng@gmail.com.
(Chịu trách nhiệm biên tập: Tạ Đông Duyên).

Đọc tiếp

Lơ phương Tây, Putin quay sang châu Á ( fr Reuters )

Bài hay trên VNN, đáng tham khảo

Giữa lúc sự kiện Tổng thống Nga Vladimir Putin ký sắc lệnh sáp nhập Crưm khiến phương Tây giận dữ, một trợ tá của ông đến châu Á, nhằm thắt chặt quan hệ với các đồng minh phương Đông.

 

Putin, Trung Quốc, Nga, Crưm, Ukraina, Mỹ
Ảnh: Reuters

Chủ tịch tập đoàn dầu khí Rosneft – Igor Sechin – là một trong những người thân cận nhất của ông Putin. Rất kín tiếng, chẳng mấy khi xuất đầu lộ diện nhưng cựu đặc vụ an ninh Sechin lại gần như đứng đầu trong hệ thống cấp bậc của điện Kremlin từ khi ông Putin đắc cử Tổng thống lần đầu năm 2000.

Trong chuyến đi lần này, Igor Sechin đã tập trung báo chí tại Tokyo để cảnh báo các chính phủ phương Tây rằng, những biện pháp cấm vận mà họ áp dụng với Moscow vì việc sáp nhập bán đảo ở Biển Đen có thể gây phản ứng ngược.

Thông điệp ‘ngầm’ của người đứng đầu tập đoàn dầu khí lớn nhất nước Nga khá rõ ràng: Nếu châu Âu và Mỹ cô lập Nga, Moscow sẽ hướng sang phía Đông cho các dự án, thoả thuận năng lượng, những hợp đồng quân sự và liên minh chính trị mới.

Con át chủ bài cho Moscow là một thoả thuận cung cấp khí tự nhiên với Trung Quốc giờ đây đang dần thành hiện thực sau nhiều năm đàm phán. Nếu nó được ký kết khi ông Putin thăm Trung Quốc vào tháng 5, ông có thể “giơ cao” nó lên mà tuyên bố rằng, quyền lực toàn cầu đã chuyển về phía Đông và ông không cần tới phương Tây.

“Do các mối quan hệ tồi tệ của Nga với phương Tây, nên Moscow sẽ muốn gần gũi hơn với Trung Quốc. Nếu Bắc Kinh ủng hộ, sẽ không ai nói họ bị cô lập”, Vasily Kashin, chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc tại tổ chức Phân tích chiến lược và công nghệ (CAST) cho biết.

Có một số tín hiệu đã khuyến khích Putin khi Trung Quốc bỏ phiếu trắng tại Hội đồng Bảo an về dự thảo nghị quyết lên án cuộc trưng cầu dân ý gia nhập Nga của Crưm.

Mặc dù Bắc Kinh lo lắng rằng, cuộc trưng cầu dân ý có thể tạo ra tiền lệ cho các khu vực của nước khác kiểu như Tây Tạng của Trung Quốc, nhưng họ từ chối chỉ trích Moscow.

Trung Quốc là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an, là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và cũng không hề thích thú với nền dân chủ kiểu phương Tây.

Putin đã cảm ơn Trung Quốc xung quanh vấn đề Ukraina trong bài phát biểu trước khi ký sắc lệnh sáp nhập Crưm. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng đã thể hiện mối quan tâm đặc biệt trong xây dựng quan hệ với Moscow và Putin khi chọn Nga làm điểm công du nước ngoài đầu tiên ở cương vị lãnh đạo mới và tham dự lễ khai mạc Thế vận hội mùa đông Sochi tháng trước.

Nhiều lãnh đạo phương Tây đã không tới tham dự buổi lễ sau khi chỉ trích hồ sơ nhân quyền của Nga. Ngược lại, khi Putin và ông Tập thảo luận về Ukraina qua điện đàm ngày 4/3, Kremlin tuyên bố lập trường của họ khá “gần gũi”.

Một liên minh mạnh mẽ giữa hai nước cũng còn nhằm tạo ra đối trọng với Mỹ.

Ấm áp nhưng không thắm thiết

Bất chấp những dấu hiệu tích cực từ Bắc Kinh, Putin có thể nhận thấy việc gắn kết của Trung Quốc không thực sự quá thắm thiết. Vẫn còn sự thận trọng giữa hai bên bởi những ký ức tranh chấp biên giới những năm 1960.

Tập đoàn khí đốt quốc gia Nga Gazprom hy vọng sẽ bơm 38 tỉ mét khối khí tự nhiên mỗi năm cho Trung Quốc vào năm 2018 thông qua hệ thống ống dẫn đầu tiên giữa một nước sản xuất khí và một nước tiêu dùng lớn nhất thế giới. “Tháng năm nằm trong kế hoạch của chúng tôi”, người phát ngôn Gazprom trả lời khi được hỏi về thời điểm của thoả thuận.

Tuy nhiên, cả hai bên vẫn đang tranh luận về giá cả và mối quan hệ của Nga với phương Tây có thể khiến Trung Quốc cứng rắn trong quan điểm. Theo những nguồn tin công nghiệp Nga, Bắc Kinh hướng đến mục tiêu giá thấp hơn châu Âu – nơi Gazprom có một nửa tổng doanh thu.

Biến động tại tập đoàn Dầu khí quốc gia Trung Quốc (đang ở trung tâm cuộc điều tra tham nhũng) có thể là một nguyên nhân khác gây chậm trễ. Valery Nesterov, nhà phân tích tại Sberbank CIB ở  Moscow cho rằng, Trung Quốc cũng cần thời gian để xem xét chiến lược năng lượng của họ.

“Điểm mấu chốt là đe doạ cấm vận đối với nguồn cung năng lượng từ Nga đã gián tiếp tăng cường vị thế của Trung Quốc trong đàm phán”, Nesterov nói.

Thúc đẩy giao thương

Nga đáp ứng gần 1/3 nhu cầu khí đốt của châu Âu, sản lượng cung cấp cho EU và Thổ Nhĩ Kỳ năm ngoái vượt quá 162 tỉ mét khối – mức cao kỷ lục. Nhưng Trung Quốc đã vượt qua Đức để trở thành nước mua dầu thô lớn nhất của Nga năm nay do Rosneft có thoả thuận thúc đẩy nguồn cung dầu sang phía đông thông qua hệ thống ống dẫn Đông Siberia – Thái Bình Dương và một hệ thống khác qua Kazakhstan.

Nếu bị phương Tây cô lập với những biện pháp trừng phạt mới, Nga có thể tăng cường hợp tác với Trung Quốc trong những lĩnh vực khác ngoài năng lượng.

Nhà phân tích Kashin nói rằng, triển vọng Nga cung cấp máy bay chiến đấu Sukhoi SU-35 cho Trung Quốc vốn bắt đầu thảo luận từ năm 2010 sẽ gia tăng.

Trung Quốc rất hứng thú đầu tư vào cơ sở hạ tầng, năng lượng và hàng hoá ở Nga. Sụt giảm trong giao thương với phương Tây có thể buộc Nga phải từ bỏ sự e dè với đầu tư Trung Quốc trong một số ngành công nghiệp chiến lược. “Với cấm vận phương Tây, không khí có thể thay đổi nhanh chóng có lợi cho Trung Quốc”, Brian Zimbler, giám đốc điều hành hãng luật quốc tế Morgan Lewis có trụ sở ở Moscow nói.

Kim ngạch thương mại Nga – Trung tăng 8,2% trong năm 2013 đạt 8,1 tỉ USD nhưng Nga vẫn chỉ là đối tác xuất khẩu lớn thứ bảy của Trung Quốc, và không có mặt trong top 10 nước nhập khẩu hàng hoá. EU là đối tác thương mại lớn nhất của Nga, chiếm gần một nửa kim ngạch thương mại.

Nhật khó xử, Ấn bắt tay

Sechin tại Tokyo đã thúc giục các nhà đầu tư Nhật hợp tác nhiều hơn để phát triển dầu khí của Nga. Rosneft có một số dự án với công ty của Nhật. Tokyo dưới thời của Thủ tướng Abe cũng rất nỗ lực cải thiện quan hệ với Moscow bất chấp còn tranh chấp lãnh thổ từ thời Thế chiến II.

Tuy nhiên, Nhật bị lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan về vấn đề Crưm vì chịu áp lực áp dụng lệnh trừng phạt với Moscow khi là thành viên nhóm G7. Trong khi đó, quan hệ hai bên được dẫn dắt bởi lợi ích năng lượng chung. Nga có kế hoạch tăng ít nhất là gấp đôi dòng chảy dầu khí tới châu Á trong 20 năm tới, còn Nhật thì nhập khẩu lượng lớn nhiên liệu hoá thạch để thay thế cho năng lượng thiếu hụt từ ngành công nghiệp điện hạt nhân sau thảm hoạ Fukushima 2011.

Nếu Nhật thấy khó xử thì dường như Putin lại không bị mất ngủ. “Tôi không nghĩ Putin lo lắng nhiều về Nhật, ông chỉ nghĩ tới Trung Quốc”, Alexei Vlasov, chuyên gia phân tích chính trị xã hội Nga cho biết.

Dĩ nhiên, Putin cũng dành thời gian để đến gần một nước khác ngoài Trung Quốc – đó là Ấn Độ. Ông cũng cảm ơn họ vì đã hiểu vấn đề Ukraina và Crưm khi nói, Ấn Độ thể hiện “sự kiềm chế và khách quan”.

Ông cũng đã gọi cho Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh để thảo luận về cuộc khủng hoảng. Dù Ấn Độ là thị trường xuất khẩu vũ khí lớn nhất của Mỹ, nhưng Nga vẫn là nhà cung cấp quốc phòng quan trọng và hai bên đã xây dựng được mối quan hệ hữu nghị.

Với Putin, cuộc khủng hoảng Crưm là một trường hợp thử nghiệm các ý tưởng ông đưa ra trong chiến lược đối ngoại từ hai năm trước – khi ông tìm kiếm nhiệm kỳ tổng thống thứ ba.

Khi ấy, ông nói muốn giao thương mạnh mẽ hơn với Trung Quốc để “khiến ngọn gió Trung Quốc thổi vào cánh buồm kinh tế của chúng tôi”. Nhưng ông cũng khẳng định, Nga phải là “một phần của thế giới lớn hơn”.

  • Thái An(theo Reuters)

Đọc tiếp

Quản lý bất động sản & xây dựng ở Hà Nội xưa

 

 

Tạp chí XƯA & NAY

 

Số 444, tháng 2 năm 2014              

 

image001Trước khi người Pháp đến, 15% đất đai thuộc khu buôn bán của thành phố Hà Nội, cùng với 55% đất đai vùng ngoại vi, đều thuộc sự quản lý của tập thể cộng đồng dân cư địa phương. Sau khi thành lập, Hội đồng thị chính tìm cách chiếm đoạt những đất đai đó nhằm thực hiện chính sách đô thị hóa và xây dựng các công trình công cộng. Được nhà cầm quyền bảo hộ chấp thuận năm 1903, tòa thị chính tuyên bố từ nay sẽ là chủ sở hữu duy nhất của những đất công làng xã thuộc thành phố. Đường lối của người Pháp được tiến hành theo ba giai đoạn: trước hết là tịch thu đất công, rồi cộng đồng người Pháp tìm cách mua lại ồ ạt đất tư, cuối cùng tòa thị chính thi hành chính sách cấm xây dựng đối với người bản xứ,bị coi là mất mỹ quan và kém vệ sinh. Đọc tiếp

Kể vài chuyện yêu ở Liên xô xưa ( STT 1)

Năm 1980 moa 25 xuân xanh, sung sức, cao ráo body khá bảnh, có nhãn sv Moscow và đã hơn hai năm mòn gót các ngóc ngách thủ đô Liên Bang nên cũng khá tự tin đi kiếm bạn gái. Lại thêm cái không khí môi trường chốn ‘ thiên đường xã nghĩa”, đặc biệt ” Maxcơva những chiều vắng thanh bình” khi đó nó gợi tâm cảm tìm yêu lắm nên chẳng đặng đừng ( ấy là thời đó nhà nước không khuyến khích/ nếu không nói là cấm cản… du sinh yêu nhau khi đương học)

Va đập vài ba lần nhưng lỡ duyên sao đó nên không kết được nàng VN nào: nàng thì sang ngắn hạn vội vã ( có nhờ moa) chủ yếu quơ hàng hoá về cứu nhà, nàng thì học trường khác vừa mắt nhưng hơi chảnh; hoặc rát, e này kia sứ quán ta không khuyến khích…nên thôi Đọc tiếp

Một góc biên cương ( bài hay của nhà nghiên cứu Hữu Ngọc – online st)

Hữu Ngọc

Năm 2000, tôi có dịp đến tỉnh biên giới Lào Cai để tiếp tục đi Côn Minh bằng xe lửa. Một dịp để tận mắt xem đường xe lửa Lào Cai – Côn Minh, hoàn thành năm 1910, mà thực dân Pháp khoe là một kỳ công kỹ thuật và một thắng cảnh du lịch: Đây là một trong những đường xe lửa ngoạn mục nhất và hiểm trở nhất châu Á. Nó qua những quang cảnh đa dạng, khi thì đi sâu vào rừng nhiệt đới bao la, khi thì trèo những ngọn núi cheo leo, khi thì uốn khúc ở đáy vực thẳm (Sách hướng dẫn du lịch Madrolle, 1932-Paris). Đọc tiếp

Điện ảnh Việt Nam với đề tài chống xâm lăng biên giới phía Bắc

Bài này hôm  qua mình đã đăng trên FB   https://www.facebook.com/lienminh.dang.1. Bây giờ dán ở đây thêm bạn đọc

Thập kỷ 1980 có hàng chục phim truyện và hàng trăm phim tài liệu nói về cuộc chiến đấu chống Trung Quốc xâm lược Việt Nam từ 17 -2 -1979. Điểm lược mấy tác phẩm qua tư liệu bài giảng Lịch sử điện ảnh Việt Nam của moa soạn cho một số lớp ở Đại học SK Đ A và Program Film studies Trường ĐH khoa học xã hội và Nhân văn mấy năm trước Đọc tiếp

50 bức ảnh chứng tỏ rằng Hà Nội 2014 giống hệt như New York năm 1914

image
Bài viết và những bức ảnh này được đem ra so sánh bởi một người nước ngoài đã sống ở ViệtNam 4 năm nay.
 
1.New York 1914 có rất nhiều dây điện trên đường phố, Hà Nội năm 2014 cũng vậy. Đọc tiếp

Chỉ có xã hội hóa và cá nhân hóa mới mang lại sự dân chủ

Quan hệ giữa Đàng Trong thời các chúa Nguyễn với Vương quốc Xiêm


Chủ trang: Tưliệu lịch sử đáng bỏ thời gian tham khảo

Tạp chí XƯA&NAY

Số 443, tháng 1 năm 2014

Lê Bá Vang

ĐỊA BÀN CƯ TRÚ ĐẦU TIÊN CỦA NGƯỜI THÁI LÀ Ở CÁC TỈNH NAM TRUNG HOA THƯỢNG NGUỒN SÔNG MEKONG VÀ SÔNG HỒNG GỒM 6 BỘ LẠC CHÍNH TRONG THƯ TỊCH CỔ TRUNG QUỐC LÀ: MÔNG-TUẤN, VIỆT-TÍCH, LÃNG-KHUNG, ĐẰNG-ĐẠM, LÃNG-PHI VÀ MÔNG-XÁ. NỬA ĐẦU THẾ KỶ VIII, THỦ LĨNH MÔNG-XÁ ĐÃ CHINH PHỤC CÁC NUỚC LÂN CẬN THÀNH LẬP NÊN NUỚC ĐẠI LÝ HAY NƯỚC NAM CHlẾU, THẦN PHỤC ĐẾ CHẾ ĐƯỜNG. NHƯNG TRUNG QUỐC LẠI DIỄN RA CÁC CUỘC NỘI CHIẾN NÊN ĐẠI LÝ NHÂN CƠ HỘI NÀY BÀNH TRƯỚNG RA VÙNG TÂY NAM TRUNG HOA. Đọc tiếp

Bất ổn kinh tế và vấn đề xã hội

Bài đáng xem fr Tuanvietnam

Bất ổn kinh tế và vấn đề xã hội

Lịch sử dạy chúng ta rằng khi kinh tế đi xuống, chỉ cần vài năm để phục hồi, song một nền kinh tế bị mất, lòng người không yên, nhân tâm ly tán thì ngay cả vài thập kỷ cũng không biết có đủ để khôi phục hay không?

2013 là năm thứ năm liên tiếp tăng trưởng kinh tế của Việt Nam rơi vào suy giảm. Mặc dù lạm phát không còn là nổi ám ảnh thường trực như trong giai đoạn 2007- 2008 hay 201, song nền kinh tế trong năm 2013 không chỉ tăng trưởng chậm (ước đạt 5,4%) mà còn tỏ ra thiếu sức sống, thậm chí suy kiệt, thể hiện qua con số trung bình gần 5000 doanh nghiệp dân doanh giải thể hay ngừng hoạt động mỗi tháng. Đọc tiếp

‘Dùng chiến thuật nào, TQ cũng thất bại’

Bài này hay, đáng đọc:

Điều này có nghĩa là dù Trung Quốc theo đuổi chiến thuật nào cũng sẽ không thành công” – một bài viết trên Nationalinterest phân tích.

>>Đông Á chạy đua vũ trang ‘ác liệt’ nhất toàn cầu

>> TQ lại ‘giăng bẫy’ về chủ quyền trên Biển Đông

>> TQ cạnh tranh ngôi ‘cường quốc số 1′ với Mỹ?

Chiến lược tham vọng

Việc Bắc Kinh thiết lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên biển Hoa Đông gần đây và đụng độ tuần dương hạm USS Cowpens của Mỹ trên biểnĐông là hai vấn đề về bản chất liên quan mật thiết với nhau. Đọc tiếp

Năm Ngựa, phi đại sẽ hại tiền

http://imgs.vietnamnet.vn/logo/vef.gif- Không có nhiều lựa chọn, dòng tiền được dự báo sẽ chảy vào các kênh đầu tư truyền thống. Tuy nhiên, kỳ vọng vào một năm ngựa nhanh nhẹn, mã đáo thành công không thực sự lớn bởi tâm lý thận trọng cố hữu.

Giới đầu tư cẩn trọng, ‘ôm khư khư’ túi tiền

Phòng thủ khó khăn: Dân không ăn tiêu, DN không đầu tư

Rũ bỏ đen đủi, đại gia cầu vận đỏ năm mới

Xem bài khác trên Vef.vn

Không a dua, đua sóng

Giao dịch tại các DN buôn bán vàng lớn tại Hà Nội thời gian gần đây tiếp tục trầm lắng. Lâu rồi người đi đường không thấy hình ảnh xếp hàng rồng rắn, tràn ra lòng đường, tranh nhau nhận giấy hẹn mua vàng như đợt sốt các năm trước đó mỗi khi vàng thế giới biến động lên xuống mạnh. Đọc tiếp

Số phận Dương Chí Dũng khiến sếp tập đoàn lo sợ

Năm Quý Tỵ khép lại là một năm buồn của Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước. Lỗ, nợ gia tăng, lương thưởng siết chặt, ầm ĩ đại án tham nhũng… Trong khi đó, tiến trình tái cơ cấu lại ì ạch.

 

 

Sếp lớn: Đại án và đại họa

Cái mác hoành tráng, hào nhoáng về Tập đoàn kinh tế Nhà nước ngày nào giờ đây đang bị tổn thương nghiêm trọng.

Năm 2012 còn chưa nguôi ngoai đại án Vinashin (Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam) thì năm 2013, câu chuyện tập đoàn còn nóng bỏnh  hơn bởi đại án tham nhũng ở Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines). Đọc tiếp

Ai sáng chế ra công nghệ màn hình cảm ứng?

 

Vốn ban đầu chỉ được sử dụng trên máy ATM, các máy bán hàng tự động, một số loại máy móc y tế và công nghiệp khác, màn hình cảm ứng đã trở thành loại giao diện phổ biến nhất trên các thiết bị điện tử tiêu dùng sau khi Apple ra mắt iPhone.

Bạn đã biết màn hình vốn được coi là “rất cao cấp” này đang ngày càng phổ biến, nhưng bạn có biết công nghệ này do ai phát minh ra đầu tiên không? Đọc tiếp

Nhà phong thủy dự đoán năm 2014

Các chuyên gia phong thủy dự đoán năm 2014 Giáp Ngọ sắp tới sẽ hứng chịu ít bão lũ hơn nhưng khi con ngựa dương gặp năm mộc thì thế giới lại phải hứng chịu nhiều hỏa hoạn hơn. Đọc tiếp

Hitler và hành trình từ họa sĩ trở thành một bạo chúa

Theo một số sử gia, sở dĩ Adolf Hitler trở thành kẻ hủy diệt tàn độc nhất trong lịch sử khi tàn sát 6 triệu người Do Thái là do bất đắc chí khi giấc mộng trở thành một danh họa lừng lẫy bị đổ vỡ.

Nhà thờ cổ kính, trang nghiêm, nông thôn bình yên, miền duyên hải thơ mộng, tất cả được họa lại bằng những nét vẽ mềm mại, dịu dàng bằng màu nước, đó là những chủ để chính trong tranh của kẻ hủy diệt tàn độc nhất trong lịch sử – Adolf Hitler. Những bức tranh ấy khiến công chúng liên tưởng tới những họa sĩ yên phận chuyên vẽ tranh để bán cho khách du lịch. Trên thực tế, đó là những bức tranh của trùm Đức Quốc xã, Đọc tiếp

Bí ẩn người đàn ông di chuyển 17.000km chỉ sau một giấc ngủ

Nếu là fan cuồng của các tác phẩm điện ảnh viễn tưởng, bạn sẽ không xa lạ gì với khái niệm dịch chuyển tức thì từ vùng đất này tới vùng đất khác chỉ trong nháy mắt.

Nhưng trong thực tế, liệu điều đó có thể xảy ra? Phần lớn chúng ta tin là không, song câu chuyện về Gil Perez – một người đàn ông sống ở thế kỷ XVI sẽ khiến bạn phải nghĩ lại…

Câu chuyện bí ẩn về người đàn ông từ trên trời rơi xuống… Đọc tiếp

Sóng gió tình trường của 3 mỹ nhân Việt

Vẻ đẹp của Diễm Hương, Việt Trinh và Y Phụng đã khiến trái tim của hàng triệu đấng mày râu đổ gục. Tuy vậy, bản thân họ lại gặp phải không ít những đắng cay trong chuyện tình yêu.

Y Phụng: Ngôi sao phóng khoáng trong tình yêuLà con nhà nòi, Y Phụng bước chân vào nghệ thuật từ khi mới 6 tuổi và đã nhanh chóng gặt hái được những thành công nhất định. Cô cũng nổi tiếng với cách ăn mặc sexy và cách sống phóng khoáng.

Vào những năm 1980, việc một nữ diễn viên mặc áo hở phần trên của đôi gò bồng đảo là một điều hết sức “ghê gớm” nhưng Y Phụng chẳng ngại khoe phần hấp dẫn nhất của người phụ nữ. Với cô, thích ai thì nói chuyện, không thích thì chẳng cần. Đi chơi, biết mình vui là được. Đọc tiếp

Chuyện phố cổ

 

Cám cảnh căn nhà không thể đứng thẳng giữa Hà Nội

Căn phòng siêu nhỏ ấy có chiều rộng 190cm, dài 270cm. Chiều cao của nó là 120cm, người lớn muốn đi lại hay mặc quần áo…chỉ có thể quỳ hoặc nằm ngửa.

Chưa một lần được đứng thẳngCăn phòng ấy của bố con anh Hoàng Văn Xuân nằm ở ngõ số 44 Hàng Buồm, Hà Nội. Đây được coi là căn phòng bé nhất phố cổ, chỉ vẹn vẹn 5m2. Chuyện sinh hoạt theo anh Xuân kể: “Nếu cởi áo hay mặc áo phải quỳ xuống còn thay quần, mặc quần phải nằm ngửa ra sàn. Cũng do ở nhà thấp vậy mà chiều cao của tôi cũng không quá 1,5m, con trai học bài muốn đứng dậy vươn vai cũng khó, không khác nào ở trong khuôn vì thế đang tuổi ăn tuổi lớn mà nó cao chưa đầy 1,4m”.

Anh Xuân dẫn khách đi ghé qua nhà tắm, nhà vệ sinh phải khom lưng chui qua đường hầm cao hơn 1 mét, tối om vào trong nhà.

nhà ở, nhà xã hội, khó khăn, dân cư
Anh Xuân đo lại căn nhà hai bố con đang ở

“Ở đây một hay hai nhà dùng chung một nhà vệ sinh và nhà tắm được xây dựng từ thời bao cấp xuống cấp nhưng cũng đành chịu. Nhưng thế còn may chứ bạn tôi ở các phố khác mấy chục người dùng chung một nhà tắm, mùa hè có khi nửa đêm mới được tắm, khổ nhất là nhà vệ sinh ít mà người đông như thế nếu lúc cấp bách chờ đợi cũng phát ốm”, anh Xuân kể về nỗi khổ cực của người dân phố cổ.

Chuyện ngủ cũng khó khăn vô cùng, anh Xuân chỉ 6 viên gạch là bề ngang của căn nhà nói với giọng buồn buồn: “Mỗi người 2 ô gạch, mỗi ô là 30cm cũng là vừa khít. Nằm xuống là nằm im cấm được động cựa như thể nằm trong vali. Cũng vì nhà quá chật nên nồi cơm điện ngoài nhiệm vụ nấu cơm còn được dùng để luộc rau, nấu canh”.

nhà ở, nhà xã hội, khó khăn, dân cư
Đồ đạc trong nhà

Nhà anh Xuân chỉ có ba vách tường, phía còn lại thông thống nhìn thẳng qua gác xép của nhà em trai. Mọi sinh hoạt riêng tư với nhà bên cạnh ngăn cách bằng mảnh vải mỏng và chiếc tủ quần áo lùn nằm ngang. Buổi trưa, căn phòng của anh ngập đủ thứ tạp âm: tiếng tivi, tiếng băng đĩa các loại, tiếng nói chuyện í ới, cả âm thanh ồn ào của đường phố cũng dội vào…

Mơ ước nhỏ nhoi

Với dáng ngồi khom khom, anh Xuân kể: Năm 1997, vợ chồng anh sinh cháu Hoàng Xuân Thủy. Tuy nhiên, kinh tế khó khăn nên vợ chồng anh chưa nghĩ đến chuyện dựng nhà mới. Hai năm trước, vợ anh Xuân đã bỏ đi để lại anh cảnh “gà trống nuôi con”.

nhà ở, nhà xã hội, khó khăn, dân cư
Anh Xuân buồn khi nói về vợ mình

Không giấu giếm, anh trải lòng với chúng tôi: “Tôi biết tôi không làm tròn bổn phận của một người chồng, một người cha, không thể lo cho gia đình một cuộc sống tốt đẹp vì thế cô ấy mới bỏ tôi theo người khác. Mặc dù ở Hà Nội nhưng 2 năm nay cô ấy chẳng về thăm con”.

Để chăm lo cho con trai ăn học, với chiếc xe máy cũ nát, anh làm nghề chạy xe ôm. Có lần anh ốm nửa tháng trời, 2 cha con lại sống cảnh “nguyên thủy” có gì ăn nấy. Khi thì củ khoai, hôm thì gói mì bẻ đôi ăn cho qua ngày. Nhiều lúc đành nhờ vào tình thương của bà con hàng xóm.

Hơn 5 giờ chiều, cháu Hoàng Xuân Thủy, con trai anh đi học về. Thấy khách lạ, cháu tỏ vẻ rụt rè. Anh Xuân tâm sự: “Từ đợt mẹ nó bỏ đi, thằng bé trở nên ít nói. Lắm lúc bực mình mắng con nhưng đêm nhìn nó ngủ lại bật khóc”.

nhà ở, nhà xã hội, khó khăn, dân cư
Khu bếp của hai bố con anh Xuân

Phải ngồi rất lâu, cháu bé mới bắt chuyện với chúng tôi, Thủy thỏ thẻ: “Cháu muốn ở nhà đi làm phụ giúp bố cháu, nhưng bố không cho”.

Nhìn con, anh Xuân ngắt lời chỉ về tập giấy khen để một góc nhà: “Cháu nó học chăm lắm. Ở lớp bạn bè rất tốt, có hôm các bạn còn rủ cháu về nhà ngủ cùng nữa. Nhưng cháu nó sợ bố buồn nên vẫn đi bộ vài cây số về nhà ngủ với bố. Chỉ mong sao cháu nó được ăn học thành người”.

Ước mơ của người đàn ông bước vào tuổi xế chiều ấy chỉ đơn giản là làm sao cho con trai mình đừng “phát điên” trước không gian sống và trước cú sốc mẹ bỏ đi. Như thế là anh hạnh phúc lắm rồi!

(Theo Trí Thức Trẻ/ Sonha)

Đổi mới thể chế kinh tế: ‘Muốn nhanh thì phải… từ từ’

Bài này xem cũng không phí thời giờ

“Muốn nhanh thì phải từ từ” hay “Hà Nội không vội được đâu”, lối nói vui từ dân gian nay đã đi vào hành lang nghị trường…

Đấy là “đại vấn đề”, nhưng “muốn nhanh thì phải… từ từ”, một vị đại biểu Quốc hội khái quát với VnEconomy về câu chuyện đổi mới thể chế kinh tế.

Câu hỏi được người viết đặt ra với ông và một số vị đại biểu khác có liên quan mật thiết đến một trong các nội dung rất quan trọng tại phiên thảo luận toàn thể của Quốc hội bắt đầu từ sáng 31/10: kết quả thực hiện đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế. Đọc tiếp

Bác sĩ, đàn bà và sự mê dụ tàn nhẫn

Một bài luận trúng tâm điểm của xã hội VN hiện nay của nhà báo Kỳ Duyên – VNN

Xét cho cùng, đồng tiền đâu có lỗi. Lỗi là ở con người, vừa nặng tham- sân- si, vừa trì trệ và xơ cứng tư duy…

I- Giật mình, tại sao số phận con người lại mong manh và trêu ngươi đến vậy? Vừa mới là một người đàn bà trẻ, khát khao làm đẹp. Chỉ vài giờ sau đã là một người của âm gian, trôi nổi trên sông nước, chưa biết phiêu dạt về đâu. Vừa mới là một bác sĩ, thạc sĩ, thậm chí sắp làm tiến sĩ của một bệnh viện lớn có tên tuổi ở Hà Nội- Bệnh viện Bạch Mai, cũng chỉ từng ấy giờ sau, trở thành tên tội phạm, gây “sốc” nặng cho cả xã hội. Đọc tiếp

Hai cái nhìn về kinh tế VN

Chuyên gia nói về báo cáo của Thủ tướng

Kinh tế 2013 đã có những chuyển biến theo hướng tích cực.. Tuy nhiên, vẫn còn những khó khăn lớn, nhất là vấn đề tái cơ cấu nền kinh tế.

Kinh tế còn nhiều nỗi lo

Báo cáo tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII sáng 21/10/2013, về tình hình kinh tế – xã hội năm 2013, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết, trong 15 chỉ tiêu được Quốc hội thông qua, Chính phủ thực hiện ước đạt và vượt kế hoạch 11 chỉ tiêu, hai chỉ tiêu xấp xỉ đạt và hai chỉ tiêu không đạt. Đọc tiếp

LHP Việt Nam 18: Kỳ lạ phim nhảm, mỳ ăn liền áp đảo

 

(VTC News) – Đạt kỷ lục về số tác phẩm tham dự, nhưng Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 18 lại để phim nhảm, mỳ ăn liền chiếm thế thượng phong.

» Nhật Kim Anh ‘hẹn hò’ diễn viên Hải Anh
» LHP Việt Nam 18: Sao Việt toát mồ hôi trên thảm đỏ

Chia đều giải, nhảm lên ngôi
 
Mỗi kỳ Liên hoan phim diễn ra, những người làm công tác quản lý điện ảnh đều đưa ra một ‘khẩu hiệu’ đao to búa lớn, nhằm định hướng con đường và sự phát triển cho nền điện ảnh nước nhà trong một giai đoạn. Đọc tiếp

Phim ” Những người viết huyền thoại” – một “bình mới rượu cũ”

Phim “Những người viết huyền thoại” – bình mới rượu cũ
Hôm qua xem phim “ Những người viết huyền thoại” ( kịch bản Nguyễn Anh Dũng, đạo diễn Bùi Tuấn Dũng ). Có đôi dòng lưu cảm nghĩ Đọc tiếp

Ai có tên trong 195 người Việt siêu giàu

Con số mới công bố về số lượng gần 200 người Việt siêu giàu cùng với khối tài sản lên tới 20 tỷ USD đã khiến nhiều người bất ngờ. Vậy ai là những người có túi tiền trên 30 triệu USD để được đứng trong danh sách này?.
Những người lộ diện trên sàn chứng khoán
Đọc tiếp

Không cải cách DNNN không ai dám chơi (!)

Mặc dù đã là thành viên của một tổ chức thương mại lớn nhất thế giới như WTO, nhưng công cuộc cải cách DNNN của VN vẫn rất chậm chạp, thậm chí mù mờ.

LTS: Yêu cầu cải cách, tái cơ cấu DNNN mà trọng tâm là các Tập đoàn kinh tế nhà nước đang đặt ra hết sức bức thiết với VN. Đặc biệt, theo một số chuyên gia nhận định, đây đang là “bức tường” vô hình nhưng kiên cố gây trở ngại cho VN trước các “cuộc chơi” quốc tế, chẳng hạn như TPP (Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương). Đọc tiếp

Bia ngẫu nhiên

Chiều mát, tình cờ NS Trọng Tạo gọi điện bảo đi làm vài kok. OK. Cuộc bia có thêm các Viện Sỹ chuyên gia thủy sản, kinh tế càng vui và kết thúc lúc 8 h30 PM.
Ảnh qua mobile chưa đẹp nhưng lưu kỷ niệm
Đọc tiếp

Bài học của công ty VSP ( 1 điển hình làm ăn sai lầm thời khủng hoảng)

Ngày 12.8, phóng viên NCĐT tới trụ sở chính của Công ty cổ phần Vận tải biển và Bất động sản Việt Hải (mã chứng khoán: VSP) thì chứng kiến một sự việc bất ngờ. Đập vào mắt chúng tôi là một dãy nhà đóng cửa với một bảng đề rao bán hoặc cho thuê trụ sở nằm cuối con đường Lý Long Tường thuộc Khu Đô thị Mỹ Kim 3, Q.7, TP.HCM. Trước đó, NCĐT đã nhiều lần liên hệ với số điện thoại của VSP đều không được. Đọc tiếp

Một mẩu ” trầm tích” mùa lũ

Nhân tuần qua ( và có thể cả sắp tới ) có lũ to ở quê miềng, sông Hoàng Long nhiều chỗ tràn đê, nhớ lại câu chuyện ngày xưa thập kỷ 60

Ông Th lai pháp, đi lính thợ cho Pháp rồi về làng nên phong cách rất tây, tiếng Pháp như gió, nghèo nhưng luôn giữ nếp trung lưu, hút thuốc nhồi tẩu, ăn nói lớp lang, hát tiếng Pháp nhuần nhuyễn…

Ông ở một mình nơi phố chợ, thị trấn huyện và làm thuê làm mướn ngày nào ăn ngày ấy

Nhưng trào lưu làm ăn tập thể cũng không cho ông làm tư riêng nữa. Ông rời phố vào làng cách đó 1 km, được HTX bố trí coi kho, ở góc đình làng. Đọc tiếp

Lời tạm biệt của Tổng lãnh sự Mỹ tại TP Hồ Chí Minh

“Trở về nơi chôn nhau cắt rốn sau 45 năm, đến một thành phố tôi đã sống trong 10 năm đầu tiên của cuộc đời, để làm công việc của Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại TP HCM, đã là một vinh dự và là một đặc ân to lớn”.

LTS: Ông Lê Thành Ân, Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại TP HCM, đã kết thúc nhiệm kỳ công tác 3 năm tại Việt Nam. Ngày mai (6/8), ông sẽ rời Việt Nam trở lại Hoa Kỳ để nhận nhiệm vụ công tác mới. Đọc tiếp

1 nguyên nhân quan trọng khiến chế độ Xô Viết sụp đổ

Mọi cuộc cách mạng đều tạo ra kinh ngạc. Tuy vậy, cuộc Cách mạng Nga gần đây nhất phải được kể là một trong những kinh ngạc lớn nhất. Trong những năm trước 1991, gần như không một chuyên gia, học giả, viên chức chính quyền, hay chính trị gia phương Tây nào thấy trước được sự sụp đổ sắp xảy ra của Liên Xô, và kéo theo nó một chế độ độc tài độc đảng, một nền kinh tế do nhà nước làm chủ, và cả sự kiểm soát của Điện Cẩm Linh đối với đế quốc Liên Xô và Đông Âu. Với một ngoại lệ duy nhất, tất cả những nhà bất đồng chính kiến Xô viết cũng như chính những nhà cách mạng tương lai — nếu ta xét qua hồi ký của họ – cũng không tiên đoán được sự kiện này. Khi Mikhail Gorbachev trở thành tổng bí thư Đảng Cộng sản vào tháng Ba năm 1985, không một nhân vật đồng thời nào của ông dự kiến một cuộc khủng hoảng có thể dẫn đến cách mạng. Mặc dù người ta không đồng ý nhau về tầm mức nghiêm trọng của những vấn đề nội tại trong chế độ Xô Viết, nhưng không ai coi những vấn đề này là đang đe dọa sinh mệnh của chế độ, chí ít trong tương lai gần. Đọc tiếp

Chuyện vui cuối tuần ( đôi giầy phát và cái thủ lơn

Chuyện du học thời xhcn

Đôi giầy phát và cái thủ lợn:

- Người VN nào được đi là đại phúc và tất nhiên phải là hạng học giỏi thi đạt điểm – điểm thi đại học và sau đó là điểm thi tiếng ngoại ngữ nước đi sau 1 năm dự bị trong nước. Ngoài ra còn một tỷ lệ nhỏ hơn, khoảng vài chục phần trăm là cử tuyển, chính sách như anh hùng, có công, con cháu các cụ… Phải nói chính sách đào tạo ngoài nước ngày ấy có cởi mở do bác Tạ Quang Bửu – Bộ trưởng bộ đại học – định hướng chủ yếu căn cứ vào mấy tiêu chí nói trên, trọng tâm là điểm thi. Ai đi cũng được phát 1 đôi giầy, một bộ comple của Bộ, valy… cho nên có câu ” comple bác Bửu” hay tiêu chuẩn ” Bộ tài chính”

- Giầy đen do VN sản xuất kiểu mõm ngóe, cho khí hậu nhiệt đới cho nên dùng xứ lạnh không hợp, bám tuyết băng kém, rất hay trơn trượt chỉ đi được ít thời gian đầu. Sinh viên nhanh chóng mua thay giầy mới. Cán bộ đi công tác ngắn hạn thì cứ dùng hết đợt cho kinh tế.

- Một ngày, hai bác cán bộ khắc khổ 2 bộ comle, giầy tất cấp phát như nhau bảo nhau đi lùng món lòng lợn nơi lò mổ ngoại ô. Bằng cách nào đó ( cho công nhân Nga chai rượu, lọ cao sao vàng… ) Họ mua được vài cái thủ lợn và mớ lòng phèo,huyết. Mừng vui sẽ có bữa cải thiện thỏa cơn thèm món dân tộc đã lâu cho hàng chục anh em trong đoàn

- Họ tay xách nách mang lế mễ chui vào bến tàu điện ngầm. Hết thang cuộn, cuốn theo dòng người hối hả, 2 bác đi như chạy để kịp vào tầu. Một bác trượt giầy rơi văng 1 thủ lợn xuông ray. Đứng dậy, chạy tiếp. Cả hai chui kịp khi tầu dừng khoảng 1 phút ( không nhớ chính xác). Nhưng chen chúc thế nào một bác khác lúng túng để rơi mẹ cái túi ra ngoài khi kẹt cửa tầu tự động lạch xoạch đóng qua đóng lại. Cái thủ lợn văng khỏi túi lăn lông lốc trên sân ga đá hoa láng bóng. Con tàu đã lao vút đi cả hơn 100 km/giờ vào tunnell thăm thẳm. Hai bác cán bộ trung niên tái xanh hú vía, nhưng còn giữ được mấy cỗ lòng tươi, có cả hộp tiết canh ( may mà nó không rơi )

- Trên sân ga, hành khách trợn mắt, dạt tránh dõi theo cái vật máu me lăn lăn. Viên cảnh sát đi tới tuýt còi và dõng dạc: – tria galova? ( đầu ai đây). Vài khách chờ chuyến tầu sau, biết sự việc, bình thản trả lời: – Viẹt nam skaya ( của VN). Viên cảnh sát nghiêm giọng( tuýt còi cái nữa, rút sổ tay và bút): Pazaluista…davai dva tava risi svidechenli samnoi delat daklad..Ưm ochen vaznưi xud ( nào mời 2 đ/ch nhân chứng cùng tôi làm biên bản, ừm… vụ trọng án )

( Chuyện này lan truyền trong cộng đồng du học Maxcơva thập kỷ 1970 – 1980, vài ba phiên bản khác nhau chút chút Miềng nhớ lại )
By Đặng Minh Liên

Chạm vào Vạn Lý Trường Thành

New York Times

Tác giả: Paul Krugman

Người dịch: Huỳnh Phan

18-7-13

Tất cả các dữ liệu kinh tế quá lắm được xem như là một loại chuyện hư cấu nhàm chán khác thường, nhưng dữ liệu của Trung Quốc thậm chí còn hư cấu nhiều hơn hầu hết dữ liệu nơi khác. Lại có thêm một chính phủ bí mật, một nền báo chí kiểm soát, cùng với kích thước to lớn của đất nước này, nên sẽ khó hình dung ra cái gì đang thực sự xảy ra ở Trung Quốc so với ở bất kỳ nền kinh tế lớn nào khác. Đọc tiếp

Vấn nạn đạo văn ( tệ nạn thì đúng hơn)

Đây là bài của GS Nguyễn Văn Tuấn, tuy nhẹ nhàng lịch sự nhưng là tiếng nói lên án 1 tệ nạn xấu xa của những kẻ ngụy khoa học.

Đây là vấn đề thuộc vào loại “biết rồi, khổ lắm …” (Vũ Trọng Phụng”) . Ấy thế mà tôi vẫn thấy cần thiết lên tiếng. Hôm qua, nhân dịp đọc luận án tiến sĩ (của một bác sĩ gửi tôi đọc và cho ý kiến), tôi thấy vài đoạn văn quen quen, và đọc đến phần cuối thì tôi phát hiện đó là những đoạn văn của tôi. Đó là những đoạn văn trong các bài báo đã đăng trên Thời sự Y học vài năm trước đây. Ngạc nhiên hơn, có những đoạn văn của tôi đăng trên báo phổ thông (như Tuổi trẻ) cũng được đưa vào luận án! Đọc tiếp

NGƯỜI ÚC DẠY CON NHƯ THẾ NÀO?

 

Cần rèn cho trẻ tính tự lập

 

Icon_Symbols_Nations_Úc1

 
 

Có dịp đến tham quan nhà trẻ Úc, bạn có thể sẽ rất ngạc nhiên vì có những bé chưa biết đi và biết nói nhưng đã có thể ngồi ngay ngắn trên ghế và tự… bốc thức ăn cho vào miệng. Xung quanh thức ăn rơi vãi, và miệng trẻ cũng dính đầy thức ăn. Nhưng bạn đừng vội đánh giá rằng các giáo viên mầm non ở đó “lười” chăm sóc bởi đó chính là một phần của kế hoạch giáo dục cách tự lập cho trẻ ngay từ khi còn rất nhỏ.

TỰ LẬP TỪ NHỎ

Khác với quan điểm của phần đông các bậc cha mẹ châu Á, người Úc rất coi trọng tính tự lập của con cái. Vì vậy, ngay từ khi con của họ mới chào đời, họ đã rất ít khi cho ngủ chung. Họ thường đặt đứa trẻ trong một chiếc nôi riêng khi mới được mấy ngày tuổi, đồng thời cũng tránh ôm ấp bé lâu vì điều này có thể khiến cho đứa bé quấn “hơi” mẹ. Có thể vì vậy mà những đứa trẻ Úc rất ít khi nhõng nhẽo, mè nheo hoặc đòi mẹ bế liên tục.

Khi trẻ Úc được một tuổi đã được cha mẹ tập cho cách tự dùng thìa múc thức ăn. Marry, một người mẹ kể: “Ban đầu khi mới tập dùng thìa, bé Ella nhà tôi không ăn được gì vì thức ăn rơi hết ra ngoài nhưng sau đó một thời gian thì bé đã biết cách sử dụng đôi tay khéo léo hơn. Vì vậy, khi gửi bé đi nhà trẻ tôi rất yên tâm vì bé sẽ không bị đói”.

Có dịp đến tham quan nhà trẻ Úc, bạn có thể sẽ rất ngạc nhiên vì có những bé chưa biết đi và biết nói nhưng đã có thể ngồi ngay ngắn trên ghế và tự… bốc thức ăn cho vào miệng. Xung quanh thức ăn rơi vãi, và miệng trẻ cũng dính đầy thức ăn. Nhưng bạn đừng vội đánh giá rằng các giáo viên mầm non ở đó “lười” chăm sóc bởi đó chính là một phần của kế hoạch giáo dục cách tự lập cho trẻ ngay từ khi còn rất nhỏ.

Không những thế, các bé còn được dạy cách tự đi vệ sinh, tự rửa tay (cho dù mới chỉ 3 tuổi), tự mặc và cởi quần áo, giày dép, tự giác lên giường nằm vào giờ ngủ trưa và nếu bé đột nhiên thức dậy trong khi các bạn khác vẫn đang ngủ thì bé phải giữ im lặng hoặc tự rời khỏi giường và đi ra phòng chơi một mình.

Khi lớn lên thêm một chút và có thể chạy, nhảy được thì trẻ phải tự mang vác đồ đạc của riêng mình. Một lần người viết từng được chứng kiến một cậu bé Úc 4 tuổi trên đường đi học về phụng phịu đòi mẹ bế. Thế nhưng, mẹ cậu không hề “mảy may”. Bà chỉ nhẹ nhàng nói với con: “Mẹ có hai chân, con cũng có hai chân, vậy tại sao con lại cứ đòi mẹ bế?” Không những thế, bà còn yêu cầu con tự đeo chiếc ba lô nhỏ của mình thay vì để cho mẹ cầm giúp vì “đó là đồ của con và không có lý do gì khiến con đưa nó cho người khác cầm hộ”.

Sau khi nghe mẹ giải thích, cậu bé đã hiểu ra vấn đề và vui vẻ làm theo.

Các bậc phụ huynh Úc cũng thường để con em họ phát triển một cách tự nhiên, không gò ép. Ví dụ nếu trẻ không muốn ăn thì họ sẽ không ép mà cứ để cho tới khi bé đói sẽ phải tự đi tìm thức ăn.

Marry cho biết: “Trẻ không muốn ăn nghĩa là không đói. Bé Ella nhà tôi cũng nhiều lần bỏ bữa rồi sau đó vài tiếng lại đi tìm tôi xin thức ăn vì đói. Nếu bạn cứ ép bé ăn khi bé không muốn thì điều đó không tốt cho tâm lý của bé”.

HÒA MÌNH CÙNG THIÊN NHIÊN

Ở Úc, các cha mẹ rất hay có thói quen đưa con ra công viên dạo mát, hít thở khí trời hoặc đọc sách. Hồi bé Ella mới được khoảng 9 tháng, bản thân Marry từng gặp phải những ánh mắt ngạc nhiên của một số bà mẹ người Á đông khi họ nhìn thấy cô thản nhiên ngồi đọc sách trong khi bé Ella cứ một mình bò trên thảm cỏ xung quanh mẹ và chân tay thì lấm bẩn.

Nhưng Marry cho biết đó là cách cô để con mình tự khám phá thế giới xung quanh. Ella có thể sờ vào cỏ để biết cỏ mềm mại thế nào hoặc sờ vào đất, lá cây…. để trải nghiệm những cảm giác khác. Những tương tác đó, theo Marry, là rất có lợi cho sự phát triển của trẻ em.

Judie, một bà mẹ Úc khác cũng có cách dạy con tương tự. Những lúc cậu con trai 8 tuổi của chị bị ốm, thay vì đóng kín cửa nhà để tránh gió thì chị lại chủ động mở cửa ra để đón ánh nắng và lưu thông không khí cho căn phòng. Thậm chí, chị còn khuyến khích con ra ngoài sân chơi cho khỏe người bởi “khí hậu trong lành và sự vận động khiến cơ thể nhanh chóng hồi phục”.

Vào cuối tuần, hai vợ chồng Judie thường đưa con đi dã ngoại hoặc đến các trang trại để ngắm các loài thú. “Bé nhà tôi rất thích cho các chú dê con ở trang trại bú bình sữa và thường vuốt ve, nựng nịu chúng. Theo tôi, biết gần gũi, yêu thương loài vật từ nhỏ chính là nền tảng cho sự phát triển lòng nhân ái của trẻ”, Judie tâm sự.

VÀI Ý THỨC VỀ TIỀN BẠC

Judie có một cửa hàng bán đồ ăn nhanh nên hàng tuần con trai chị thường phụ giúp mẹ dán những chiếc hộp giấy đựng đồ ăn và được mẹ trả “lương” sòng phẳng. Cậu bé rất phấn khởi khi nhận được tiền và tiết kiệm để mua đồ chơi.

Tuy nhiên, không phải lần nào giúp mẹ cậu cũng nhận được tiền vì Judie cho biết chị cũng muốn bé hiểu rằng con cái nên giúp đỡ cha mẹ làm việc nhà làm một cách vô tư, không đòi hỏi.

Một người bạn ở Úc kể về cách dạy con của chị dâu cô ấy như sau: hàng tuần người chị dâu ấy trả 10 đô-la cho cậu con trai 9 tuổi để giúp mẹ lau nhà, dọn vườn, kéo thùng rác ra ngoài mỗi khi đến ngày đổ rác. Sau một thời gian làm “thuê” cho mẹ, cậu bé tiết kiệm được 80 đô-la. Một lần, cậu ngỏ lời muốn mua một chiếc xe scooter và chị đồng ý dẫn con đi mua. Thế nhưng chiếc xe cậu bé chọn lại có giá tới 130 đô-la. Hai vợ chồng chị nói với con: “Bố mẹ sẽ cho con vay 50 đô-la còn thiếu rồi sau đó con phải làm không công cho bố mẹ trong vòng 5 tuần. Nếu con đồng ý thì bố mẹ mới lấy chiếc xe này cho con, nếu không thì con phải chọn chiếc ít tiền hơn”. Cậu bé gật đầu và rất chăm chỉ làm việc 5 tuần sau đó để “trả nợ” cho mẹ.

Không những thế, phụ huynh còn dạy con em biết cân nhắc và suy nghĩ đến giá trị của món đồ định mua có phù hợp không. Dù đến siêu thị và bị hấp dẫn bởi nhiều các loại đồ chơi đắt tiền nhưng con trẻ chỉ mua khi chọn một món đồ chơi phù hợp với mức giá bố mẹ đã đưa ra trước đó. Đọc tiếp

Giá vàng ‘điên loạn’, người dân tranh mua ‘trên giấy’

 

Chủ bút: bài st ở dưới, có trên Tienphongnline, càng chứng minh định đề kinh tế: – lấy mình làm trung tâm điều khiển bên ngoài ( trong văn cảnh quản lý vàng vọt tập trung ) là việc làm phí sức. Tập trung 1 mối NHNN đấu thầu, nhưng dù đã bị kìm đà giảm giá, vàng vẫn nhẩy múa theo qui luật khách quan và biến động của thị trường thế giới. Tư duy kinh tế cũng như các loại tư duy khác nếu không tôn trọng qui luật khách quan thì phần được/ nếu có/ và nếu nhiều chăng nữa, cũng chỉ nhất thời và khó mà ra kênh cơ bản ổn định lâu dài…

Người dân đô xô đi mua vàng trên giấy

>Vàng còn 34 triệu, USD tăng mạnh

TPO –Giá vàng liên tục lao dốc, rồi lại tăng điên loạn khiến hàng khan hiếm nhiều người dân phải mua vàng trên giấy (viết giấy hẹn cho khách). Đọc tiếp

Trữ trăm tấn vàng, người Việt thiệt hại ngàn tỷ

  1. Thói quen tích trữ vàng lâu đời đã giúp người Việt tích lũy một lượng vàng đến hàng trăm tấn. Đã từng có những ước tính 400 hay hơn 1.000 tấn vàng trong dân nhưng chưa được kiểm chứng. Mặc dù vậy, với hàng trăm tấn vàng đang nắm giữ, qua đợt giảm giá lần này, dân Việt Nam đã thiệt hại hàng chục ngàn tới hàng trăm ngàn tỷ.
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 112 other followers

%d bloggers like this: