Hiểu về Bắc Âu ( không phải là cnxh mà là thị trường tự do + sự tử tế văn hóa )

Bắc Âu có phải là “thiên đường xã hội”?

Email ThisBlogThis!Share to TwitterShare to FacebookShare to Pinterest

Minh Trí

Mô hình kinh tế – xã hội của các nước Scandinavia tồn tại và có thành tựu lớn. Nhưng mấu chốt thực sự trong sự thành công độc đáo của bán đảo này không phải là ờ vì các chính sách lệch tả, mà đó là văn hoá. Một xã hội gần như đồng nhất, một nền văn hoá coi trọng thành tín và trung thực, các mối liên kết cộng đồng lâu đời không bị ảnh hưởng bởi nền kinh tế toàn cầu và sự hỗn loạn của nhập cư, tinh thần trách nhiệm và sự tin tưởng vào pháp luật, đây là những yếu tố văn hoá bám rễ vào khu vực này trong hàng thập kỷ. Trong một cộng đồng dân cư nhỏ và thuần nhất, ít pha tạp (phần lớn là theo đạo Tin Lành và là dân bản địa), những quy tắc đạo đức này có ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi của người dân. Sự tích luỹ tài sản trong giai đoạn phát triển kinh tế cao, cộng với nền văn hoá hướng đến chuẩn mực cao của con người không phải sinh ra nhờ chính sách cánh tả, nó đã giúp quốc gia này sống sót và thịnh vượng bất chấp những chính sách này.

Tác giả Sanandaji còn đưa ra một quan sát rằng khi những người Bắc Âu rời bỏ quê hương tới Mỹ, họ mang theo cả những giá trị văn hoá tốt dep này đi theo, và nhờ thế thành tựu họ đạt được cũng tốt hơn. Những người Mỹ gốc Scandinavia có thu nhập cao hơn và tỷ lệ nghèo thấp hơn mức trung bình của Hoa Kỳ. Những người Mỹ gốc Đan Mạch có thành tích kinh tế vượt trội hơn so với người Đan Mạch vẫn sống ở Đan Mạch, cũng như người Mỹ gốc Thụy Điển giàu có hơn người Thụy Điển và người Mỹ gốc Phần Lan so với người bản địa tại Phần Lan. Nền văn hoá của bán đảo Scandinavia là một phúc lành đối với những quốc gia này, đồng thời cũng là phúc lành cho những người bà con đang sống bên kia đại dương.

Các nước Scandinavia không hề “phá vỡ quy luật của kinh tế học”, họ đã xác nhận điều đó. Với kinh tế tự do và một nền văn hoá với các giá trị đạo đức cao, hầu như tất cả các xã hội đều thịnh vượng.

Đã từ lâu những người thiên tả viện dẫn sự thành công của các quốc gia Bắc Âu trong việc áp dụng hệ thống phúc lợi hào phóng, trợ cấp, an sinh xã hội cao là bằng chứng cho thấy “thiên đường xã hội” là có thể đạt được. Những cuộc tranh luận về vai trò của chính phủ trong nền kinh tế và xã hội nên là lớn hay nhỏ luôn gay gắt và không có hồi kết khi phe tả chỉ vào Thụy Điển hay Đan Mạch là ví dụ cho cái gọi là “vừa công bằng vừa thịnh vượng” là một điều có thể đạt được. 

Như cả ở Mỹ, trung tâm của thế giới tư bản, một nhân vật cổ suý cho hình thức “chủ nghĩa xã hội dân chủ” đã suýt trở thành người đại diện cho 1 chính đảng tranh cử Tổng thống. Có lời giải lý hợp lý nào cho điều này hay không?

Cuối thế kỷ trước, sự tan rã của khối XHCN mà mở màn là Liên bang Xô Viết đã đánh một đòn nặng vào lý thuyết cánh tả và những người ủng hộ cho tư tưởng tin vào sự phân phối của chính phủ để đạt được xã hội thịnh vượng và công bằng. Với số lượng ít ỏi những nước tuân theo lý thuyết này còn sót lại, có nước phải mở cửa ào ạt đón nhận kinh tế tư bản với thị trường tự do là trung tâm, nước vẫn áp dụng nền kinh tế tập trung thì nghèo nàn què quặt. Tuy nhiên ở những đất nước cổ kính trên bán đảo Scandinavia, một thiên đường xã hội được vẽ ra trước mắt những người dân Mỹ và thế giới: trợ cấp xã hội cao, lương tối thiểu cao, giáo dục miễn phí đến hết đại học và y tế miễn phí nhưng cả xã hội vẫn giàu có và hạnh phúc. Các nhà kinh tế học theo trường phái tư bản tự do có thể lý giải điều này như thế nào?

Năm 2016, ông Bernie Sanders, thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ của bang Vermont của Mỹ, nổi bật lên trong cuộc bầu cử sơ bộ với đường lối “dân chủ xã hội”, cổ suý nước Mỹ hãy học theo Đan Mạch, Thụy Điển để đem đến một cuộc sống sung túc cho người dân lao động. Tuy nhiên người Mỹ cũng nhìn sang những quốc gia xã hội ngay trên châu lục của mình, Venezuela và Brazil và được chứng kiến những xã hội đổ vỡ một cách thảm hoạ sau cuộc thử nghiệm hàng chục năm cái triết lý họ mang về từ tận nước Nga xa xôi.

Tại sao các nước Bắc Âu thì thành công, còn những quốc gia khác thất bại? Câu trả lời là vì các nước Bắc Âu không phải là những nước XHCN.

Các quốc gia trên bán đảo xinh đẹp này, giống như tất cả các quốc gia phát triển khác, đều có một nền kinh tế rất tự do và tôn trọng kinh tế thị trường. Tức là của cải của xã hội là do cá nhân sở hữu chứ không phải nhà nước hay cộng đồng, các nguồn tài nguyên do thị trường phân phối, không phải do chính phủ lập kế hoạch hay quyết định. Các nền kinh tế của họ cũng khuyến khích kinh doanh với ít quy định quan liêu. Chính phủ Đan Mạch không quy định mức lương tối thiểu như nhiều người lầm tưởng, mức lương tối thiếu của họ được thoả thuận hợp lý giữa doanh nghiệp và công đoàn.

Đúng là Đan Mạch, Thụy Điển và Na Uy cung cấp một hệ thống an sinh xã hội hào phóng cũng như y tế, giáo dục miễn phí cho người dân, giống như chính sách hình thức của các quốc gia xã hội chủ nghĩa khác. Nhưng họ làm được điều đó dựa trên 2 yếu tố: “tích luỹ của cải xã hội trong giai đoạn phát triển thịnh vượng và một nền văn hoá đạo đức cao”.

Chúng ta nên nhìn vào những quốc gia như Đan Mạch, như Thụy Điển và Na Uy, và học từ những điều họ đã làm được cho người dân lao động của họ“, ông Sanders nói trong một cuộc tranh luận trên truyền hình năm 2016. Khi người dẫn chương trình quay sang hỏi Hillary Clinton, bà ta cũng đồng ý rằng nước Mỹ phải “cứu chủ nghĩa tư bản khỏi sự thất bại của chính nó”, và đúng “Bán đảo Scandinavia thật tuyệt vời. Tôi yêu Đan Mạch“, bà Clinton trả lời.

Phe tả ở Mỹ có một tình yêu mãnh liệt với Bắc Âu trong hàng thập kỷ qua. “Đó là một quốc gia mà cái tên thôi cũng trở thành từ đồng nghĩa với thiên đường vật chất“, tạp chí Time viết trong một bài xã luận về Thụy Điển năm 1976. “Người dân ở đây được hưởng tiêu chuẩn sống hàng đầu thế giới … không một vấn đề nào như sức khoẻ yếu, thất nghiệp hay tuổi già gây gánh nặng tài chính đối với họ. Hệ thống phúc lợi trọn đời của Thụy Điển là vô song đối với bất kỳ xã hội tự do nào bên ngoài Scandinavia“. Năm 2010, một câu chuyện của Đài phát thanh quốc gia Mỹ ca ngợi cái cách “Đan Mạch phát triển thịnh vượng bất chấp thuế cao“. Đài NPR nói, quốc gia nhỏ bé Bắc Âu này, dường như đã phá vỡ quy luật trong kinh tế học, đã làm được điều mà những nhà kinh tế bảo thủ của Mỹ cho là bất khả thi: giảm tỷ lệ thất nghiệp và nghèo đói trong khi tăng thuế cao chót vót.

Nhưng một điều thú vị là chính những người Thụy Điển lại tách biệt họ hoàn toàn với những gì mà ông Sanders hay bà Clinton cỗ vũ. Vào năm 2015, Thủ tướng Đan Mạch khẳng định rõ ràng rằng nước ông không phải là chủ nghĩa xã hội.

Tôi biết có một số người ở Mỹ coi mô hình kinh tế Bắc Âu tương quan với một loại xã hội chủ nghĩa nào đó. Vì thế tôi muốn làm rõ một điều. Đan Mạch không phải là nền kinh tế tập trung chủ nghĩa. Đan Mạch là một nền kinh tế thị trường“, ông Lars Lokke Rasmussen nói tại trường Harvard.

Học giả Thụy Điển Nima Sanandaji giải thích, sự giàu có của xã hội Bắc Âu mà từ đó các chính sách nhà nước phúc lợi của họ được dựng lên không phải là sản phẩm của CNXH. Trong cuốn sách: “Chủ nghĩa phi biệt lệ Scandinavia“, ông Sanandaji chỉ ra sự thịnh vượng của Thụy Điển “được tạo ra trong thời gian mà các chính sách tôn trọng thị trường tự do thống trị, thuế thấp hoặc trung bình, chính phủ can thiệp ít vào nền kinh tế“.

Chẳng hạn, Thụy Điển là một quốc gia nghèo trong hầu hết thế kỷ 19. Chính vì thế, vào những năm 1800, một làn sóng di cư lớn những người Thụy Điển tới Mỹ để tìm cuộc sống tốt đẹp hơn. Thay đổi bắt đầu từ khoảng năm 1870, khi Stockholm tiến hành cải cách kinh tế thị trường. Chủ nghĩa tư bản năng động thay cho hệ thống nông nghiệp lạc hậu, và nhờ thế nước này đã giàu lên nhanh chóng. “Quyền tư hữu tài sản, thị trường tự do và pháp quyền kết hợp cùng với thế hệ những kỹ sư và doanh nhân được giáo dục tốt“, Sanandaji viết. Kết quả của sự kết hợp này là người dân Thụy Điển đã được chứng kiến “Một giai đoạn phát triển kinh tế nhanh và bền vững chưa từng có”. Trên thực tế, từ giữa năm 1870 đến 1936, Thụy Điển có tỷ lệ phát triển kinh tế cao nhất trong các quốc gia công nghiệp.

Phải đến cuối những năm 1960, chính phủ các quốc gia giàu có này mới quyết định chuyển sang cánh tả, và tới 1970 thì thuế bắt đầu tăng, phúc lợi xã hội hào phóng hơn, nhưng tinh thần khởi nghiệp quốc gia bị suy giảm.

Và xã hội Thụy Điển cũng không phải thiên đường trên mặt đất.

Cùng bài báo năm 1976, tờ Time viết Thụy Điển đang phải vật lộn với những vấn nạn như tội phạm, ma tuý, hiện tượng ỷ lại vào phúc lợi nhà nước và nạn quan liêu trở thành bệnh dịch. Những người Thụy Điển thành công, chẳng hạn Ingmar Bergman (đạo diễn phim nổi tiếng) – đang phải bỏ chạy ra nước ngoài để trốn hệ thống thuế cao chết người.

Những con số cứ gia tăng khiến người ta dằn vặt bởi một câu hỏi quặn lòng lặp đi lặp lại: Liệu thiên đường Thụy Điển đang tụt dốc?“, tờ Time đặt câu hỏi.

Với việc tăng thuế, tỷ lệ phát triển cao nhất thế giới của Thụy Điển giảm nhanh chóng. Năm 1975, Thụy Điển là quốc gia giàu thứ 4 trên trái đất, tính theo GDP trên đầu người. Năm 1993, nước này tụt xuống vị trí 14. Sanandaji gọi cuộc thử nghiệm xã hội chủ nghĩa của Thụy Điển là “một thất bại khổng lồ”.

Tình trạng của Đan Mạch cũng tương tự như thế. Các khoản trợ cấp xa xỉ đang bị thu hồi trong bối cảnh người ta lo ngại về tình trạng lạm dụng phúc lợi xã hội và đạo đức làm việc bị xói mòn. Trong cuộc bầu cử gần đây nhất, chính phủ cánh tả của Đan Mạch đã bị thay thế bằng một chính phủ trung hữu.

Tại Đan Mạch, học Cao đẳng, Đại học không chỉ miễn phí, mà sinh viên còn được nhận 1.000 USD/tháng trợ cấp sinh hoạt từ ngân sách chính phủ. Kết quả là sinh viên ở đây mất trung bình 6,1 năm để hoàn thành chương trình học được thiết kế cho 5 năm. Nước này cũng đánh thuế xe hơi lên đến 180% giá trị của chiếc xe, có lẽ để trả cho chương trình giáo dục tốn kém của mình.

Về tổng thể, mô hình kinh tế – xã hội của các nước Scandinavia tồn tại và có thành tựu lớn. Nhưng mấu chốt thực sự trong sự thành công độc đáo của bán đảo này không phải là nhờ vì các chính sách lệch tả, mà đó là văn hoá. Một xã hội gần như đồng nhất, một nền văn hoá coi trọng thành tín và trung thực, các mối liên kết cộng đồng lâu đời không bị ảnh hưởng bởi nền kinh tế toàn cầu và sự hỗn loạn của nhập cư, tinh thần trách nhiệm và sự tin tưởng vào pháp luật, đây là những yếu tố văn hoá bám rễ vào khu vực này trong hàng thập kỷ. Trong một cộng đồng dân cư nhỏ và thuần nhất, ít pha tạp (phần lớn là theo đạo Tin Lành và là dân bản địa), những quy tắc đạo đức này có ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi của người dân. Sự tích luỹ tài sản trong giai đoạn phát triển kinh tế cao, cộng với nền văn hoá hướng đến chuẩn mực cao của con người không phải sinh ra nhờ chính sách cánh tả, nó đã giúp quốc gia này sống sót và thịnh vượng bất chấp những chính sách này.

Tác giả Sanandaji còn đưa ra một quan sát rằng khi những người Bắc Âu rời bỏ quê hương tới Mỹ, họ mang theo cả những giá trị văn hoá tốt đẹp này đi theo, và nhờ thế thành tựu họ đạt được cũng tốt hơn. Những người Mỹ gốc Scandinavia có thu nhập cao hơn và tỷ lệ nghèo thấp hơn mức trung bình của Hoa Kỳ. Những người Mỹ gốc Đan Mạch có thành tích kinh tế vượt trội hơn so với người Đan Mạch vẫn sống ở Đan Mạch, cũng như người Mỹ gốc Thụy Điển giàu có hơn người Thụy Điển và người Mỹ gốc Phần Lan so với người bản địa tại Phần Lan. Nền văn hoá của bán đảo Scandinavia là một phúc lành đối với những quốc gia này, đồng thời cũng là phúc lành cho những người bà con đang sống bên kia đại dương.

Các nước Scandinavia không hề “phá vỡ quy luật của kinh tế học”, họ đã xác nhận điều đó. Với kinh tế tự do và một nền văn hoá với các giá trị đạo đức cao, hầu như tất cả các xã hội đều thịnh vượng.

Minh Trí

Nguồn: Theo trithucvn.net

Advertisements

Nhàn (and phiếm) đàm về Hậu hiện đaị….

CHIA SẺ VẮN TẮT TƯ DUY LÝ LUẬN NGHỆ THUẬT – CŨ NGƯỜI, MỚI TA!
Hậu hiện đại – postmodernism: nói nôm na nhưng không hề mách qué đại thể nó là thế này:
Chơi kiểu mới, khác so với cái quen thuộc, truyền thống, cổ điển…
Phá bỏ hình thức biểu cảm – diễn ngôn trước đó ( cốt truyện, nhân vật, cấu trúc nhân quả – với văn xuôi và kịch; bỏ cái tôi trữ tình ( như “Bài ca chim Ch’rao” trích giảng từ cấp 3 pt tha thiết bổng trầm với 2 nhân vật Hùng và Rin là tiêu biểu nhớ mãi, câu có vần nhạc điệu ( như cả 1000 nhà thơ vẫn làm lâu nay) thành tự do vô giới hạn; nội dung hơi điên/màn mát chập tới điên trí tuệ, điên diễn ấy mà – với thơ)

Nội dung nhiều khi có tính khiêu khích độc giả vì nó chọc vào ung nhọt cùng cái phi lý nhân sinh và bạn đọc ít kinh nghiệm dễ mắc dẫn tới nổi khùng với tác giả và bình phán chửi làm tác giả tự nhiên nổi hót cồn không mất xiền p/r quảng cáo

Thế giới văn minh chơi các trường phái mới, trong đó có hậu hiện đại từ hơn nửa thế kỷ nay và còn phát minh tiếp tục các trường phái mới liên tục – ví dụ cái 3d tạo hình, cái video art, rồi performance ( Anh Khánh, Trần Lương hay làm), Istallation – sắp đặt ( trưng bầy thơ và rổ rá dần sàng của Nguyễn Duy …), nhạc điện tử ( Vũ Nhật Tân từng khuấy động), nhạc tâm linh ( Ngọc Đại ) – ăn, hợp thì tồn lâu, kém thì thị trường tự đào thải không tuyên bố. Phim ảnh Âu Mỹ cũng có kha khá chiếc hồi thập niên 1960, 1970 (tốn xiền vốn nhưng không ăn khách, và không trở nên chủ lưu rồi thoi thóp vì khó hiểu mệt viu…). Và múa đương đại nữa ( liên hệ có nữ biên đạo Việt Kiều Ea Sora làm rất hay); và tất nhiên cả Pop, Rock, Rap, Hip – hop…
Sơ vậy, lắm lắm!!!

VN giờ mới chặng sơ khai chập chững hội nhập ra biển nhớn, 90% dân chúng mới tập thắt caravate, nhảy van sờ hoặc dítcô ( món này moa cũng may thời du sinh “phe ta cccp” được biết lâu rồi để/ lịch sự đi cưa gái xô viết đầu thập niên 1980)..; nên VN đương nhiên cũng có tập chơi hậu hiện đại ( mà vài cái tên kể trên)

Vài nhời chia sẻ
P/s ngược lại tây sang ta, cũng có thằng quái tập thạo xơi thịt cầy, mắm tôm, rít thuốc lào điếu bát, đội nón, tập hát chèo, cải lương, quan họ… và bảo đó là hậu hiện đại của nó. Nghĩa là cái này cũng khá tương đối ( phục vụ văn hóa giải trí) thôi

Tiện dịp hôm nay lại nhớ bất ưng đoạn đồng dao hậu hiện đại; do moa, làm đã lâu và đã post ở FB

Nay đăng lại có nhuận sắc tý ti, phục vụ đọc giải trí.

Làm quan chỉ có sướng
Làm thầy chỉ có đúng
Thế mới có nạn chạy chức, chạy bục
Đã vậy, tức khí đứa lớp 3 ( mả tổ táng hàm rồng)
nhảy lên hàng zua
Chúng mày chỉ có thua
Quan với thầy thành như con khỉ
Lại và dân còn chưa được con tiều
….Thương đất nước rất là… nhiều
Khì khì…

— Trà nước sáng. Nhớ ra thơ cok cũ của chính mình làm đã lâu, dán lên chơi—

 

 

CHUYỆN VUI VỀ NGÀY ĐÀN ÔNG ( 3 -8)

DÁN LÊN CHUYỆN NGẮN DO MOA VIẾT VUI TỪ NĂM 2013 VÊ NGÀY LIỀN ÔNG 3 -8. CHO CÔNG BĂNG!

Lịch sử ngày 3 – 8 ( chuyện vui cho các VIEWERS nhân 8 – 3 )

Thời ấy, không hiểu do trời đất chuyển vần thế nào, hay do thực phẩm ô nhiễm, hay do trước đấy, cánh đàn ông phải đánh nhau triền miên với các kẻ thù tây, tàu…, phải gánh vác lo toan quá nặng sinh mệt mỏi, buông trôi…toàn bộ nữ giới của nước ấy bỗng trở nên mạnh mẽ lạ thường…

Vì vậy hầu hết các chức năng nữ giới chuyển thành ngược lại

Người ta thấy, từ đấy bỗng dưng:

Tất cả đàn ông trở nên dịu dàng, nhu mì trong lời nói và hành vi hành động.

Vải các loại có chất mềm như lụa, như tơ… đặc biệt là phíp được đàn ông yêu thích mua may quần áo. Còn nữ giới thì đặc biệt thích mặc quần áo bò, hoặc vải thô, ráp đường chỉ gân hầm hố

Mỹ phầm, mỹ viện, hoa tươi… cũng vậy, trở nên dịch vụ ăn khách cho đàn ông

Đi họp tổ dân xóm, dân phố…, nhiều ông đan len nhoay nhoáy, nhiều bà vểnh cằm nhổ râu…

Tặng vật cho các bà ngày 8 – 3 phải là chai rượu, tút thuốc, đĩa phim mát chứ không ai dám tặng hoa như xưa

Hơn nữa:

Nữ giới hăng hái chiếm lĩnh các vị trí lãnh đạo, các vị trí trụ cột. Nhiều vụ tranh giành đánh chác nhau giữa các nữ nhân nhằm giành vị trí cao xảy ra. Dẫn tới nạn cò mồi chạy chức nảy nở và làm ăn phát đạt. Các cơ quan, trường học, công sở nói chung trở nên nữ quyền hóa và được gọi là hệ thống má ma tổng quản. Nơi nào chưa có hệ thống đó coi như vô hiệu và vô duyên. Hội phụ nữ bị lợi ích nhóm ma ma tổng quản chi phối còn nhân danh số đông kiến nghị phải kéo dài tuổi công tác như nam giới tức 60 tuổi nữ mới hưu, nhằm nhiều bà sếp chủ tài khoản ”ăn đủ” ” ăn dầy, ăn tận ” mới ” hạ cánh “…

Ở các gia đình: nữ quyền cũng lên số 1, vợ nói chồng phải nghe, bất biết đúng sai… Vợ ngồi xem tivi, lướt mạng… còn chồng lau nhà rửa bát, ru con…. Đặc biệt nhiều bà hút thuốc lào, thuốc lá, bộ phận không nhỏ các bà có chức quyền tiền bạc rủng rỉnh, thể lực phồn thực, xong việc cơ quan mắt trước mắt sau là ra quán nhậu, nhậu xong đi tăng 2 với các nam chân dài trẻ đẹp

Vì thế: nam chân dài có giá khiến nhiều anh rất chịu khó tập thể thao để tăng độ cao cơ thể. Ngành dịch vụ kéo dài chân cẳng vô cùng đắt khách. Các lớp học cấp tốc làm thế nào để dài chân cho nam giới mọc lên khắp nơi…Nữ chân dài mất giá trầm trọng, các cô các bà chân ngắn lại hay vì đỡ tốn vải…

Tình hình ngược cảnh khiến nhiều người nam giới trí thức chân chính bất bình uất ức. Nhưng đa số, tức bộ phận lớn nam giới thì an phận hoặc cam chịu do sợ hãi. Họ hiểu hơi dẫy dụa một tý là các bà thượng cẳng chân hạ cẳng tay hoặc khủng bố tâm lý: bắt kiểm điểm, xin hứa sau khi buổi tối phải uống ít nhất 3 cốc ca phê đặc… tệ hơn là đuổi ra khỏi nhà…

Tuy nhiên, để gỡ sỹ diện một bộ phận không nhỏ các ông cũng họp nhau và lập ra ngày của đàn ông để khỏi quên gốc giới. Từ đấy bên cạnh ngày phụ nữ 8 – 3 có ngày nam giới 3 – 8

Trong ngày nam giới, các ông được quyền rượu bia nhậu nhẹt, gái gú, nói tục …và mặc quần áo kiểu ngày xưa: bò, ca ki, vét. Còn các bà trong ngày này, buộc trở nên nhu thuận nữ tính như xưa. Các bà cũng bực lắm vì mất 1 ngày không như ý, nhưng rồi bảo nhau: thôi! nhả cho phái nam tý quyền lợi kẻo triệt hết “chó cùng rứt dậu” thì nguy, hoặc thế giới người ta phản đối quá nhỡ cấm vận bỏ mjịa.

Story by chủ bút

Sách mới, hay về điện ảnh

img_0385img_0386img_0384
Sách được tặng giải 3 (tương đương nhì vì không có giải nhất. Trong khi nội dung đáng ra đạt giải 1 – vì tệ lậu đố kỵ tiểu nhân trong ngành…Biết cả mà nên xòa ) trong Lễ trao giải Cánh diều vàng Hội điện ảnh năm 2016 ( diễn ra 9 -4 – 2017 tại TP HCM)

Ký ức không quên một thời (Bao cấp…) – bài st hay

11.049. ĐỔI MỚI

Posted by adminbasam on 16/12/2016

FB Vũ Thành Tự Anh

15-12-2016

Đúng ngày này 30 năm trước – 15/12/1986* – Đại hội Đảng VI chính thức khai mạc, mở ra vận hội đổi mới cho đất nước. Ngẫm lại thời đó, rào cản đổi mới chủ yếu nằm ở nhận thức giáo điều – giáo điều về “con đường đi lên CNXH”, về “làm chủ tập thể”, về “cải tạo công thương nghiệp” v.v. Vì vậy, đổi mới thời đó hay được quy giản thành “đổi mới tư duy”.

Ngày nay, cụm từ “đổi mới” vẫn thường xuyên được nhắc đi nhắc lại. Đến hẹn lại lên, cứ vào các năm chẵn chục, người dân lại nghe mỏi tai về thành tựu “mười năm đổi mới”, “hai mươi năm đổi mới”, “ba mươi năm đổi mới”. Song tinh thần đổi mới thực sự đã đi vào dĩ vãng. Cứ “đổi mới” theo kiểu phong trào và hô khẩu hiệu như hiện nay chỉ càng khiến “đổi mới” trở nên cũ kỹ, thậm chí phản tác dụng.

Cũng cần nói thêm rằng cải cách ở Việt Nam giờ đây rất khó vì nhất định sẽ phải trả giá – có cuộc đại phẫu nào mà lại không khó khăn, đau đớn. Nếu như trước đây khó khăn chủ yếu nằm ở thay đổi tư duy thì ngày nay, khó khăn còn nằm ở sự trỗi dậy càng ngày càng mạnh mẽ của các nhóm lợi ích bất chính hùng hậu, được hưởng đặc quyền và đua nhau tranh giành đặc lợi, với cái giá phải trả của đa số dân chúng và toàn nền kinh tế; và rồi không thể không kể đến những can thiệp và uy hiếp khôn lường của người láng giềng phương Bắc, kiên trì mục tiêu vì một nước Việt Nam nghèo hèn và nhược tiểu.

Cải cách chắc chắn sẽ rất gian truân, song cái giá phải trả cho sự trì hoãn cải cách còn lớn hơn gấp bội. Những tuyên bố cải cách đã có, không những thế còn khá đồ sộ. Vấn đề còn lại là hành động, là cải cách một cách thực chất, chỉ như vậy mới có thể khôi phục niềm tin của xã hội và củng cố tính chính đáng vốn đang bị xói mòn.

*Ghi chú: Đại hội đã họp trù bị từ ngày 5 đến 14/12/1986.

____

Đại Kỷ Nguyên

Có một thời như thế: cái đói thời bao cấp

Hà Phương Linh

7-8-2015

“Có 1 thời như thế” là chuyên mục của Thời Báo Đại Kỷ Nguyên phác họa lại một giai đoạn lịch sử đặc biệt của Việt Nam: thời bao cấp, với mong muốn thế hệ trẻ có cái nhìn sinh động và chân thực về quá khứ của nước nhà và cùng thế hệ trung niên, lão niên ôn lại thời dĩ vãng không thể quên của mình… 

Thời bao cấp với niềm mơ ước sinh tồn “Ăn no mặc ấm” thay vì “Ăn ngon mặc đẹp”

Ở thời nay, ăn mặc “sành điệu”, ăn uống “sành điệu”, chọn nhà hàng nào, thời trang nào… là thứ mà mọi người phải đau đầu suy nghĩ, người đơn giản hơn một chút thì phải là “ăn ngon mặc đẹp”…

Nhưng cách đây 30, 40 năm, vào những năm 70, 80 của thế kỷ 20, các thế hệ người Việt chỉ ước ao đủ ăn đủ mặc. Cái đói trường kỳ gặm nhấm tâm can và dạ dày khiến mọi suy nghĩ của một ngày chỉ xoay quanh vấn đề miếng ăn.

Thế nào là thời bao cấp?

h1                                                            (Ảnh: internet)

Thời bao cấp, với cách gọi nôm na trong người dân là “thời đặt gạch xếp hàng”, diễn ra từ năm 1957 tại miền Bắc, tới sau 4/1975 thì triển khai trên toàn quốc, mãi tới 4/1989 mới thực sự kết thúc. Giai đoạn này nằm trong ký ức không thể quên của thế hệ đầu 8X, 7X, 6X… Đây là một giai đoạn mà hầu hết hoạt động kinh tế diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch hóa do nhà nước kiểm soát, một đặc điểm của nền kinh tế theo chủ nghĩa cộng sản, không chấp nhận kinh doanh tự do.

Câu thơ lảy Kiều thời đó là một mô tả sinh động về thời bao cấp:

Bắt ở trần phải ở trần
Cho may-ô mới được phần may-ô

h1Áo may ô thời bao cấp đây! Mỗi năm được 2 chiếc!

Đối với các bạn trẻ hiện nay, làm sao có thể tưởng tượng được áo may-ô, một loại áo lót dùng cho nam giới, cũng thuộc loại hàng hóa cung cấp cho “nhân dân”. Vì thế mới gọi là… bao cấp.

Từ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê giải thích về định nghĩa “bao cấp”: “Bao cấp là cấp phát phân phối, trả công bằng hiện vật và tiền mà không tính toán hoặc không đòi hỏi hiệu quả kinh tế tương ứng”.

Đối với người dân, định nghĩa này đơn giản là:

Bao cấp là tất cả đều do nhà nước đứng ra bao hết, từ cây kim, sợi chỉ, que diêm cho đến lương thực hằng ngày… Lương hàng tháng của công chức nhà nước chỉ nhận được một phần tiền rất nhỏ, còn lại quy vào hiện vật thông qua chế độ cấp phát tem phiếu và sổ gạo.

Tất cả mọi hình thức kinh doanh đều được quản lý theo ‘mô hình xã hội chủ nghĩa’, hoàn toàn do nhà nước nắm giữ.

Nhà nước phân phối vài chục mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống như gạo, thực phẩm, chất đốt, vải vóc, pin, cho đến các tiêu chuẩn phân phối được mua bổ sung như xà phòng giặt, giấy dầu, xi măng, khung, săm, lốp xe đạp…

Cái đói đến “mờ mắt” thời bao cấp

Vì sao được nhà nước lo cho toàn bộ mà lại đói?

Toàn bộ nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm và nhu thiết yếu cuộc sống là thông qua chế độ tiêu chuẩn tem phiếu có định mức cho từng đối tượng. Điểm đặc biệt là định mức này chỉ đáp ứng một phần cực nhỏ nhu cầu sinh tồn của 1 con người, cho nên mới tạo thành cái đói dai dẳng và trường kỳ tháng này qua năm khác.

Điển hình là một người dân tự do được tiêu chuẩn 1,5 lạng (150gr) thịt/tháng, tương đương với mức tiêu thụ thịt trung bình trong 1 ngày hiện nay của người trưởng thành.

Các cấp bậc cán bộ nhà nước được tiêu chuẩn cao hơn, từ 3-5 lạng/tháng (300gr-500gr), tùy cấp bậc.

Thông thường nếu chọn thịt thì thôi mỡ, vì chỉ được chọn 1 trong 2. Thời đó không có dầu ăn, phải dùng mỡ để xào, nấu nên mỡ rất quý. Các gia đình vì vậy thường hay chọn “mỡ” thay vì “thịt”, như vậy sẽ có tích cóp được 1 hũ mỡ dùng để chiên xào nấu một thời gian dài hơn là 3 lạng thịt tiêu chuẩn trong tháng.

Tuy nhiên, cán bộ cao cấp lại có tiêu chuẩn gấp 40 lần “nhân dân”: 6kg thịt/tháng. Nhiều người cũng thắc mắc vì sự chênh lệch quá lớn này.

Rau có tiêu chuẩn 3-5kg/người/tháng, trong khi nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể cần từ 300gr-500gr/ngày.

Em bé dưới 1 tuổi cũng đói, vì tiêu chuẩn của em tất cả là 4 lon sữa đặc có đường “Ông Thọ” trong 1 tháng. Nên mới có cảnh các em bú “nước đường”, một điều mà thời nay dường như không thể tin nổi. Nếu mẹ của các em có giấy tờ chứng minh mất sữa hoàn toàn, thì em bé có khả năng sẽ nhận được 8 lon.

h14 lon 1 tháng thôi các bé nhé! Mẹ muốn pha sữa cho em sao thì pha…

Thậm chí có tiền vẫn phải chịu đói… vì không ai dám bán để mà mua!

Hàng hóa thời đó không được mua bán tự do trên thị trường như bây giờ, không được phép vận chuyển tự do hàng hoá từ địa phương này sang địa phương khác.

Trao đổi bằng tiền mặt bị hạn chế, nên có người thậm chí có tiền vẫn đói, vì không ai được phép “kinh doanh”. Không có những cái tên mỹ miều như bây giờ là “doanh nhân”, “hộ kinh doanh”, mà chỉ là “phe phẩy” hay “tư thương”, “chợ đen” … những từ mang hàm nghĩa rất tiêu cực và khinh miệt, nếu bị phát hiện sẽ bị công an bắt và tịch thu toàn bộ hàng hóa. “Siêu thị” hay “chợ” là những khái niệm gần như không tồn tại.

Câu nói “Có tiền mua tiên cũng được” ít nhất cũng không thể đúng ở thời bao cấp. Thời này, sổ gạo mới là thứ quan trọng nhất.

Từ sau 30/4/1975 – khi nền kinh tế đặc thù này áp dụng trên toàn quốc, những ai sống ở khu vực phía nam vốn quen với nền kinh tế tự do, chưa quen với cái “đói” trường kỳ của nền kinh tế bao cấp như ngoài bắc, bỗng đột ngột chịu “đói” đến hoảng hốt!

Sự thiếu thốn đi kèm chất lượng “thê thảm”

Sự thiếu thốn cũng đi kèm chất lượng “thê thảm”: gạo mốc xanh đen, gạo hẩm, bột mỳ mốc, rau vàng héo, thịt “bèo nhèo” (phần thịt “ngon” đã được chia chác cho mậu dịch viên và những “mối quan hệ” quen thân của mậu dịch viên).

Gạo thiếu, gạo mốc đen nên cơm thường xuyên là những bữa cơm độn mỳ sợi mốc, bột mì tồn kho (viện trợ từ Liên Xô), sắn khô xắt lát, ngô (bắp), bo bo (hạt lúa mì) hay gạo vỡ (gạo tấm)

Thịt quá ít, có cũng như không, nên thường đổi thành mỡ, để có cái xào nấu rau ăn dần. (Thời đó không có dầu ăn như bây giờ, thi thoảng cũng chỉ có chút dầu lạc (dầu đậu phộng) hôi khét).

Những câu vè thời đó nói lên giá trị của những mặt hàng trong thời bao cấp:

Nhất gạo nhì rau
Tam dầu tứ muối
Thịt thì đuôi đuối
Cá biển mất mùa
Đậu phụ chua chua
Nước chấm nhạt thếch
Mì chính có “đếch”
Vải sợi chưa về
Săm lốp thiếu ghê
Cái gì cũng thiếu…

Thảm họa “mất sổ gạo”

Tuy “phàn nàn” thiếu thốn như vậy, nhưng thời đó nếu để mất tem phiếu sẽ là thảm họa, so thảm họa này với cảnh thiếu thốn thường nhật thì thiếu thốn vẫn còn là “thiên đường”. Các thế hệ thời đó sẽ đứng trước nguy cơ nhịn đói cả tháng, đi xin, đi vay mượn lương thực, hoặc mua chui lại của “phe tem phiếu” (người tích trữ đầu cơ trái phép tem phiếu).

Vì vậy thành ngữ “Mặt như mất sổ gạo” trở nên vô cùng nổi tiếng thời bấy giờ, dùng để mô tả một  khuôn mặt ủ ê não nề không thể đau khổ hơn. Bởi vì thời đó, mất sổ gạo là cầm chắc nhịn đói! Nhịn đói không phải là một ngày hay một tháng mà có khi đến vài ba tháng. Bởi hành trình, thủ tục xin cấp lại cuốn “bảo bối quý giá” này khổ sở vô cùng. Suốt những ngày còn lại sẽ chạy vạy, vay mượn khắp nơi để sống sót qua ngày đoạn tháng.

Nạn ăn cắp diễn ra phổ biến và rất tinh vi, cũng khiến việc mất tem phiếu, mất sổ gạo diễn ra lại càng thường xuyên hơn.

Cảnh xếp hàng như chơi trò rồng rắn lên mây….

Muốn mua được lương thực thực phẩm, các thế hệ thời đó cần đi xếp hàng 3, 4 giờ sáng để giữ chỗ, phòng khi cửa hàng bán nửa chừng hết lương thực, thực phẩm. Người ta dùng những cục gạch, chiếc dép, mảnh gỗ để ‘xí chỗ’ khi cửa hàng chưa mở cửa và người thật sẽ đứng vào hàng khi mở cửa.

Thậm chí nếu xếp hàng đầu, nhưng cũng không bảo đảm là sẽ được mua trước, bởi vì nếu có những sổ thuộc dạng ‘ưu tiên’ hoặc ‘chen ngang’ do có móc ngoặc với nhân viên thương nghiệp, hoặc đơn giản là xếp hàng tới nơi mới biết đã bị ăn cắp tem phiếu hay sổ rồi.

Rất nhiều khi, mỏi mệt rã rời vì xếp hàng cả đêm, nhưng tới gần lượt, thì cánh cửa hàng mậu dịch sẽ sập xuống phũ phàng trước mặt cùng với câu nói lạnh băng của cô mậu dịch viên “HẾT HÀNG”… Vậy là lê bước về nhà để hôm sau đi xếp hàng tiếp…

Sáng kiến vĩ đại thời bao cấp: nuôi lợn trong nhà tắm hoặc 1 góc bếp căn hộ tập thể 20m2. (Ảnh: danchimviet.info)
Sáng kiến vĩ đại thời bao cấp: nuôi lợn trong nhà tắm hoặc 1 góc bếp căn hộ tập thể 20m2.
h1Mậu dịch viên thời bao cấp- nghề đáng mơ ước nhất thời bấy giờ, vì đảm bảo có đủ miếng ngon cho nhu cầu sinh tồn của gia đình, và có thể mang “quyền lực” phân phát này để làm mưa làm gió….
Phiếu mua thịt năm 1981.
Phiếu mua thịt năm 1981.

Bụng đói cật rét: Không những đói mà còn rét, bụng càng đói thì lại càng rét

Không những đói, các thế hệ thời đó còn chịu rét, vì một năm tiêu chuẩn của một người được 5-7m vải để may quần áo, tương đương với định mức 2-3 bộ quần áo/năm. Nên cảnh mặc quần áo vá chằng vá đụp là điều hết sức thông thường.

h1                                        Hạnh phúc chờ đợi để được phân phát vải…

Đây được coi như một giai đoạn thất bại, yếu kém và tù đọng nhất của nền kinh tế Việt Nam trong thế kỷ 20

h1                                  Chiếc xe đạp Favorit – niềm tự hào thời bao cấp.
h1                                                Bà mẹ và em bé thời bao cấp.
                            h1Bám thành tàu điện thời bao cấp, khỏi mất tiền mua vé.

“Cái nghèo” sinh ra “cái hèn”: Cái đói gặm nhấm mất lương tri và những điểm sáng sót lại của tình người thời nghèo đói..

Thế hệ trẻ thời nay sẽ không thể tưởng tượng nổi cảnh thìa nhôm ở cửa hàng mậu dịch ngày xưa của ông cha mình phải bị đục lỗ, và đĩa nhôm ở cửa hàng cũng phải bắt vít chết xuống bàn chứ không thể để tự do. Vì sao vậy?

Ở thời đó, người ta đã phải chấp nhận một nghịch cảnh của xã hội là: Cái đói dai dẳng, thật tàn nhẫn, đã gặm nhấm mất lương tri của nhiều người. Nạn ăn cắp vặt trở nên phổ biến toàn dân, nên các cửa hàng mậu dịch chỉ còn cách đó để tránh bị mất mát đồ đạc.

Ăn cắp thời đó đã trở nên rất tinh vi, tới nỗi hình thành nên một khái niệm là “nghệ thuật móc túi siêu đẳng”… Rất nhiều kẻ cắp lão luyện thường xuyên trà trộn vào các dãy xếp hàng rồng rắn lên mây, vờ như xô đẩy người khác hay bị xô đẩy, để rồi lợi dụng lúc xô đẩy đó mà áp sát đối tượng để “móc túi” một cách “nghệ thuật”.  Có quá nhiều người thời đó xếp hàng, mặc dù rất cẩn thận giữ chặt phiếu rồi, mà tới khi đến lượt mua hàng thì phiếu đã không cánh mà bay… Khuôn  mặt đầy nước mắt của họ vào thời khắc đó khốn khổ đáng thương hơn bất cứ điều gì… nhịn đói rồi…

Căn bệnh ganh tỵ và kèn cựa cũng trở nên trầm kha hơn ở các cơ quan đoàn thể vì sống theo chế độ tập thể khiến ai cũng coi sự công bằng tuyệt đối là một chân lý, họ bị méo mó tính cách vì tin vào điều đó.

Nhưng một điểm sáng của thời đó so với thời nay mà người ta vẫn nhận thấy đó là tình người, tuy có ganh tỵ và kèn cựa nhau vì miếng cơm manh áo, nhưng người với người cũng vẫn thường hay đối xử tốt bụng, nâng đỡ nhau, sẵn lòng giúp đỡ nhau và “coi việc của bạn như việc của mình…” Nhờ giữ chỗ xếp hàng, nhờ đặt gạch, nhờ bơm xe vá xe đạp, nhờ trông hộ nhà, nhờ trông con nhỏ …vv, nhiều cái nhờ vả thời bao cấp mà không còn tồn tại ở thời nay trong cuộc sống hiện đại mà ai cũng quay cuồng với các vấn đề riêng của cá nhân….

h1

Cặp lồng cơm- vật bất ly thân phổ biến của các công chức khi đi làm.

Những câu chuyện không thể tin nhưng có thật thời bao cấp về cái đói: Xin lỗi lợn!

Các câu chuyện bi hài có thực 100% về cái đói thời bao cấp do bác Trần Thị Thúy Nga ở Hà Nội kể lại cho phóng viên Đại Kỷ Nguyên:

Ở một đơn vị quân đội, giống như mọi đơn vị khác, có tình trạng nuôi lợn để tăng gia thời bao cấp. Thời đó chưa có cám công nghiệp, toàn bộ thức ăn cho lợn phải dựa vào nguồn cơm thừa canh cặn của bếp ăn tập thể. Thông lệ là phần “cơm cháy” ở đáy nồi cơm của bếp ăn tập thể là để dành cho lợn. (Thời đó không có nồi cơm điện chống dính, nên nồi cơm luôn có cháy)

Nhiều lần nhà bếp bỗng thấy cháy nồi cơm cứ bị “biến mất”, nên đã quyết định “điều tra”, “rình” để bắt kẻ tội phạm.

Cuối cùng kẻ tội phạm là một anh lính trẻ đã bị bắt. Vì quá đói trường kỳ, nên anh đã làm liều, đi ăn vụng cháy dành cho lợn hết lần này đến lần khác.

Hình thức kỷ luật áp dụng cho anh là: Tới chuồng lợn và xin lỗi lợn nhiều lần..

1 con vịt cỏ 7 lạng cho 200 người ăn và phương châm “Sống cùng sống, chết cùng chết” thời bao cấp

Đó là câu chuyện thời sinh viên của bác Nga. Bếp ăn tập thể sinh viên thời đó lâu lâu có bữa gọi là “cải thiện”, tức là có “thịt” chứ không chỉ rau và muối như thường lệ. Các sinh viên năng động phải tham gia vào công tác hậu trường nhà bếp. Lần ấy bài toán nhà trường đưa ra quá khó khăn cho bác. Món cải thiện cho bếp ăn của trường là một chú vịt cỏ bảy lạng gồm cả xương sau khi bỏ lông. Bài toán là số thịt này nhất định phải được chia đều cho các suất ăn của 200 sinh viên. Làm thế nào đây để đạt được sự công bằng? Các phương án luộc, xào, nấu… đều không thể khả thi.

Vắt óc mãi không thể tìm ra phương án phân chia công bằng, cuối cùng 1 tia sáng cũng phải lóe lên: băm (bằm) toàn bộ con vịt cỏ nhỏ bé đó, bằm cả xương, tới mức li ti như vụn bột, sau đó cho vào nấu canh toàn bộ. Cuối cùng các sinh viên không thể nào nhận ra một dấu tích gì của món “Thịt vịt cải thiện” của nhà trường trong suất ăn tập thể, vì đã bị bằm quá li ti và tan biến mất trong một nồi canh quá lớn cho 200 người ăn… Các sinh viên không phải tranh giành hay kèn cựa, kiện cáo nhau nữa…

Mời độc giả cùng Đại Kỷ Nguyên ôn lại những kỷ niệm khó quên thời bao cấp, bằng cách chia sẻ với chúng tôi những câu chuyện bi hài của mình qua hòm thư: contact@daikynguyenvn.com

Loạt ảnh về cửa hàng và tem phiếu thời bao cấp

Xếp hàng gửi xe trước khi vào mua hàng.
Cảnh mua bán tại  một quầy hàng mậu dịch Nhà nước.
Các mậu dịch viên chuẩn bị hàng hóa, giá cả trước khi phục vụ người dân.
Mua đồ gia dụng.
Quầy bán vải.
Khu vực bán dép, guốc nhựa.

Tiền mặt hạn chế sử dụng ở thời kỳ này, thay vào đó là hình thức tem phiếu.
Đài phát thanh là một thứ hàng xa xỉ ngày đó.
Phiếu mua thịt.
Phiếu mua vải. Mức mua giới hạn nhiều nhất là 1 mét, và tối thiểu là 10 cm.
Tem lương thực có thể đổi lấy các loại lương thực như: gạo, sắn, ngô, khoai tây, hạt lúa mỳ… với trọng lượng tương đương ghi trên tem.

 

Có thể mua các phụ tùng xe đạp bằng tấm phiếu này.
Tem lương thực trị giá mua cho 25 gram lương thực.

  

Phiếu mua chất đốt và tem đường. Với phiếu mua chất đốt thì có thể sử dụng để mua: dầu hỏa, củi, than… Mỗi lần sử dụng, mậu dịch viên sẽ cắt bỏ một ô trên tờ phiếu tương ứng với số lượng mua.
Sổ mua lương thực hay còn gọi là sổ gạo, thời kỳ này viên chức Nhà nước chỉ được mua 13,5kg/1 tháng. Thuật ngữ ‘buồn như mất sổ gạo’ xuất hiện từ đây: Mất sổ gạo còn quan trọng hơn cả việc mất tiền vì có tiền cũng không mua được gạo, dù là gạo đỏ, đầy thóc và sạn!

 

Quy định của Nhà nước trong việc dùng tem phiếu.
Một bài báo về chỉ dẫn mua hàng tết bằng tem phiếu.

Cái đói thời bao cấp:

Chuyện kể của một phi công phụ trách đội cảm tử ( Tư liệu st hay)

Chuyện kể của một phi công cảm tử Nhật Bản

Print Friendly

kamikaze-1

Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành

Tạp chí Aeroplane (Anh) số tháng 10/2003 có đăng bài “Tinh thần Nhật Bản” của Nick Stroud thuật lại cuộc phỏng vấn Muraoka Hideo, nguyên thiếu tá, sĩ quan chỉ huy một phi đội đặc công Kamikaze đánh bom tự sát từng chiến đấu trong Thế chiến II hiện còn sống. Dưới đây là tóm tắt nội dung câu chuyện của Muraoka.

Cũng như mọi thiếu niên Nhật khác, từ nhỏ Muraoka Hideo đã được gia đình giáo dục theo tinh thần Võ Sĩ Đạo cực kỳ khắc nghiệt nhằm rèn được ý chí ngoan cường và tinh thần bất khuất. Năm 14 tuổi, Muraoka vào học trong một trường lục quân. Năm 1939, khi tốt nghiệp anh lại được trường hàng không Topu tuyển vào học, đào tạo nghề lái máy bay. Muraoka kể: “Tôi trở thành ngưới lái máy bay hoàn toàn chỉ vì tôi không muốn lăn lê bò toài trên đất bùn như lính bộ binh. Tôi thích bay trên bầu trời. Nhưng về sau, khi hiểu được nhiệm vụ nặng nề của một phi công chiến đấu, tôi đã ân hận vì sự lựa chọn của mình.”

Tốt nghiệp trường hàng không, Muraoka được điều sang Đài Loan [hồi đó bị Nhật chiếm] phục vụ trong trung đội máy bay số 4 thuộc lục quân, với quân hàm thượng úy. Thời gian đó, cuộc chiến tranh Thái Bình Dương do phát xít Nhật gây ra đang diễn ra ác liệt. Năm 1943, quân đội Mỹ tấn công chiếm đảo Guadalcanal và sau đó bắt đầu phản công trên khắp các mặt trận. Quân đội Nhật co về phòng ngự.

Ngày 23/3/1943, Muraoka được điều về Nhật, chỉ huy tiểu đội không quân số 3 thuộc trung đội 224 đóng ở gần thủ đô Tokyo. Thời gian ấy, anh chủ yếu làm nhiệm vụ đào tạo phi công mới, đồng thời trực chiến bảo vệ Tokyo. Sau này, khi được hỏi về công việc đó, Muraoka nói: “Ông Eisenhower từng nói, thành tích chiến đấu lớn nhất của một chiến binh là bảo vệ được tính mạng của đồng đội mình. Tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm đó. Trong việc đào tạo phi công, tôi chủ yếu dạy họ biết cách tự bảo vệ mình và yểm hộ đồng đội. Phải thừa nhận là tôi vô cùng nghiêm khắc trong công tác huấn luyện, nhưng yêu cầu càng nghiêm thì tôi càng cứu được tính mạng của họ trong các cuộc chiến đấu sau này. Thực tế chứng tỏ cố gắng của tôi là rất có hiệu quả. Các phi công từ trung đội 224 sau khi đưa về các đơn vị khác đều trở thành những phi công cừ nhất. Về sau, trong các trận không chiến đánh máy bay ném bom B-29 của Mỹ, họ đã thể hiện rất xuất sắc.”

Ngày 18/10/1943, Muraoka sang Đài Loan làm sĩ quan chỉ huy trung đội máy bay số 20 đóng ở Đài Bắc. Tại đây, Muraoka được lái loại máy bay anh ưng ý nhất trong đời mình – máy bay chiến đấu Chim Cắt Nakajima-1, không quân Mỹ thường gọi là “Oscar”. Loại máy bay này ngày ấy đã có chút lỗi thời, song nó cực kỳ gọn nhẹ, tính năng thao tác cực tốt. Cho tới nay, Muraoka vẫn cho rằng trong các trận không chiến, tính năng thao tác tốt, cơ động là điều quan trọng nhất. Phóng viên hỏi đùa Muraoka là anh có thích trang bị máy bay kiểu Zero[1] cho trung đội mình không, thì Muraoka kiên quyết trả lời “Không bao giờ ! Chim Cắt là máy bay tốt nhất. Zero được thiết kế riêng để cất cánh và hạ cánh trên tàu sân bay, do đó nó phải có thêm một số trang bị khiến nó nặng hơn Chim Cắt.

50 năm sau ngày chấm dứt chiến tranh, Muraoka chịu khó đi xa 5.500 km đến tận Viện Bảo tàng máy bay chiến đấu Wanaca tại New Zealand để dự cuộc họp mặt của các cựu phi công Thế chiến II. Khi thấy trong Viện Bảo tàng có cả một chiếc Chim Cắt thân yêu, Muraoka đã rưng rưng nước mắt rất lâu.

Ngày 23/10/1943, tức ngày đầu tiên nổ ra hải chiến ở vịnh Leyte, Muraoka cùng trung đội 20 nhận lệnh khẩn cấp di chuyển sang Philippines. Trận Leyte [17/10/1944] được coi là trận quyết định chiến tranh Thái Bình Dương. Tình hình lúc ấy đã rất rõ ràng là Nhật sẽ mất Philippines. Toàn trung đội vô cùng tuyệt vọng.

Muraoka nhớ lại: “Khi tôi chuyển sang trung đội 20, chất lượng các phi công Nhật bấy giờ đã rất kém, trong số 50 phi công trung đội tôi chỉ có 15 người thích hợp với không chiến. Trung đội tôi có 30 máy bay, trong đó chỉ có 2/3 dùng được. Tôi thật sự không thể diễn tả được sự tuyệt vọng của mình. Trong lúc đó máy bay của Mỹ nhiều gấp 10 lần chúng tôi. Một lần bay trinh sát, tôi đếm số tàu chiến hai bên đang giao chiến trên vùng biển, phía Nhật có 10 tàu, còn phía Mỹ thì sao? Tôi đếm đến 300 thì ớn quá, quyết định không đếm nữa.”

Trong tình hình tuyệt vọng như vậy, Bộ Thống soái Nhật quyết định dùng cách đánh tự sát. Họ tuyển mộ các phi công sẵn sàng chiến đấu theo kiểu lao máy bay vào mục tiêu của địch. Người ta thành lập các phi đội Kamikaze, tức Thần Phong.[2] Trận ra quân đầu tiên của các phi công Kamikaze là ngày 25/10/1944. Từ đảo Saipan, 6 chiếc máy bay kiểu Zero của hải quân Nhật cất cánh mang đầy bom lao vào các tàu sân bay Mỹ. Từ đó cho đến hết chiến tranh, hơn 2.200 phi công Kamikaze Nhật đã cất cánh mà không bao giờ trở về.[3]

Trung đội 20 của Muraoka cũng được chọn làm đội đặc công Kamikaze. Muraoka kể: “Mới đầu người ta chọn các đội viên Kamikaze từ trong nước, sau đó mới đưa sang Philippines chiến đấu. Về sau, do tình hình ngày một xấu, Bộ Thống soái quyết định trực tiếp chọn ngay từ các trung đội không quân ngoài mặt trận. Là chỉ huy trung đội 20, tôi có nhiệm vụ chọn các phi công đặc công Kamikaze trong trung đội mình và hộ tống họ lao vào các tàu sân bay Mỹ.”

Với tâm trạng vô cùng nặng nề, Muraoka nhớ lại việc lựa chọn đó: “Trước tiên, tất cả các đội viên trong trung đội đều phải điền vào một biểu bảng in sẵn, trong đó chỉ có 3 sự lựa chọn – “Tôi hoàn toàn đồng ý”; “Nếu là bất đắc dĩ, tôi đồng ý”; “Tôi không muốn tham gia”. Là sĩ quan chỉ huy, tôi không phải điền vào bảng này, nhưng tôi biết mình có nhiệm vụ quyết định cuối cùng chọn ai thi hành nhiệm vụ đánh bom tự sát. Hầu như tất cả các phi công đều điền “Tôi hoàn toàn đồng ý”. Tôi thừa biết, trước đó toàn bộ số phi công “tự nguyện” này đều đã được tẩy não bằng tinh thần Bushido (Võ Sĩ Đạo).[4] Phi công lái máy bay Zero nổi tiếng nhất nước Nhật là Sakai cho rằng việc chọn đội viên đặc công Kamikaze là một hình phạt tàn khốc đối với các phi công. Tôi thì cho rằng đấy là sự lãng phí phi công.”

Khi phóng viên hỏi Muraoka sự việc nào để lại ấn tượng sâu sắc nhất thời ấy, thì Muraoka nói: “Đối với tôi, việc khó khăn nhất là lựa chọn ai làm đội viên đặc công Kamikaze. Nên nhớ rằng tất cả họ đều là những chàng trai tuổi đôi mươi; tôi lúc ấy cũng mới có 25 tuổi, còn quá trẻ mà đã phải đảm đương một trách nhiệm lớn lao như vậy. Khi tôi đọc tên các đội viên được chọn làm đội viên đặc công Kamikaze, các chàng trai ấy đều tỏ ra vô cùng bình tĩnh, rất khó có thể thấy nét đau khổ xuất hiện trên mặt họ, lại càng không có ai kháng lệnh. Có điều, họ càng bình thản như thế thì tôi lại càng đau lòng.”

Nhằm để các bạn trẻ thời nay hiểu được quãng lịch sử rất khó chịu khi phải nhớ lại ấy, năm 1982 Muraoka viết cuốn hồi ký Đội Chim Cắt đặc nhiệm. Rất tiếc là sách này chưa dịch ra tiếng Anh, và vừa in ra đã bán hết ngay không thể tìm đâu ra.

Sau đấy, chúng tôi trò chuyện về việc chiến đấu bảo vệ vùng trời nước Nhật. Muraoka nói: “Hồi ấy tôi rất thích lái chiếc Chim Cắt bay một mình, vì lúc ấy ai cũng chỉ lo cho bản thân. Sau các lần giao chiến với máy bay Mỹ, tôi rút ra được một số kinh nghiệm: phi công Mỹ thường thích tập kích các máy bay Nhật bay một mình. Trong hầu hết các lần giao chiến, tôi đều chỉ gặp loại máy bay Tia Chớp kiểu P-38 và Mèo Địa Ngục kiểu F6F. Vì Chim Cắt hỏa lực yếu nên khi gặp các máy bay Mỹ mạnh hơn, nói chung các phi công Nhật không có lựa chọn nào khác là chuồn. Nhưng tôi thì thường tích cực chống trả, bao giờ cũng chặn đầu địch và quần nhau với chúng. Thực ra tại Myanmar tôi thích chọi nhau với các phi công Anh Quốc hơn, vì họ giỏi hơn phi công Mỹ.

Hiện nay Muraoka vẫn chưa thể nhớ chính xác con số máy bay địch mình đã bắn hạ, nhưng nhớ rõ là trong số đó có 2 chiếc F6F và 1 chiếc P-38.

“Ngày 15/8/1945, khi đang ở Đài Loan, tôi nghe Thiên Hoàng Hirohito tuyên bố tin Nhật đầu hàng. Khi ấy tôi không lấy làm ngạc nhiên lắm mà chỉ đờ người ra , vì từ lâu tôi đã biết Nhật đầu hàng chỉ là chuyện thời gian mà thôi. Với tôi, mọi chuyện bây giờ đã chấm dứt.” Muraoka kết thúc câu chuyện. ■

Nguyễn Hải Hoành biên dịch qua bản tiếng Trung và ghi chú.

——————

[1] Máy bay Zero do hãng Mitsubishi chế tạo, tiếng Nhật là 零式艦上戦闘機, Rei shiki Kanjo sentoki tức máy bay chiến đấu trên tàu sân bay đời 0. Máy bay Chim cắt, tiếng Nhật , Hayabusa, máy bay của Lục quân, do hãng Nakajima chế tạo. Đây là 2 loại máy bay chiến đấu tốt nhất thế giới hồi đó, đã chế tạo lần lượt là 11.000 và 5.919 chiếc.

[2] Kami là Thần, Kaze là gió. Thần Phong, chữ Nhật 神風,là tên gọi cơn bão đã đánh chìm hạm đội Mông Cổ trên đường vượt biển sang tấn công Nhật năm 1281, ngẫu nhiên giúp Nhật thoát khỏi tai họa bị Mông Cổ chiếm. Ngoài Kamikaze, Nhật còn có các đội tấn công liều chết như tàu ngầm Kairyu, thủy lôi sống Kaiten, xuồng cao tốc Shinyo.

[3] Trong tổng số 1.900 lần xuất kích, các Kamikaze đã đánh chìm khoảng 30 tàu chiến Mỹ, làm thiệt hại gần 300 chiếc khác và làm chết 4.907 lính Mỹ. Đổi lại, 2.525 phi công Kamikaze của Hải quân Nhật thiệt mạng.

[4] Số phi công tình nguyện vào phi đội Kamikaze nhiều gấp 10 lần số máy bay Nhật có hồi ấy

– See more at: http://nghiencuuquocte.org/2016/12/06/chuyen-ke-cua-mot-phi-cong-cam-tu-nhat-ban/#sthash.owBoEkOE.dpuf

Xét xử tập đoàn tội ác phát xit tại Nuremberg năm 1945 ( tư liệu hay)

Tội phạm phát-xít đã bị xét xử như thế nào?

Không có phiên tòa nào có thể cho thấy bản chất và nguyên nhân dẫn tới cái ác rõ ràng hơn những phiên tòa Nuremberg, được diễn ra từ năm 1945 đến năm 1949. Những ai đến với Nuremberg với ý định sẽ được nhìn thấy những con quỷ bạo tàn đội lốt người trước vành móng ngựa thường ra về trong thất vọng.

Điều gây sốc về phiên tòa nổi tiếng này là sự bình thường đến không thể đến không thể tin được của các bị can: một người đàn ông vẫn luôn là một người cha tốt, tử tế với động vật, thậm chí khiêm tốn – nhưng đồng thời cũng có thể phạm tội ác kinh người. Nhiều năm sau đó, báo cáo về phiên tòa xử Adolf Eichmann, Hannah Arendt đã viết “Sự tầm thường của cái ác”. Giống như Eichmann, các bị cáo của chuỗi phiên tòa khét tiếng nhất nhì lịch sử thế giới hiện đại chưa bao giờ mong muốn hay nghĩ rằng mình là kẻ thủ ác. Thay vào đó, họ gắn kết một cách cực đoan danh tính của bản thân với một ý thức hệ, một ý thức hệ vốn tự thân nó khiếm khuyết trí tưởng tượng, sự cởi mở và đồng cảm. Điều này đã làm họ trở nên mù quáng, họ không thể đánh giá đầy đủ những hệ quả nhân tính từ các quyết định trong sự nghiệp chính trị của mình.

Mười hai phiên tòa, với hơn 100 bị cáo tại nhiều tòa án khác nhau đã diễn ra ở Nuremberg từ năm 1945 đến năm 1949. Không bất ngờ, cho đến ngày nay, tâm điểm chú ý vẫn luôn là phiên Nuremberg đầu tiên về 21 trọng tội chiến tranh. Tuy nhiên, nhiều trong số 11 phiên Nuremberg sau đó cũng có những vấn đề và đáng suy nghĩ không kém Phiên xử Trọng tội chiến tranh đầu tiên.

nuremberg_defendants

Các lãnh đạo sừng sỏ của Đức Quốc xã trong một phiên toàn Nuremberg. Ảnh: jewishvirtuallibrary

Ví dụ, Phiên tòa Tư pháp (The Justice Trial) xử 16 thẩm phán và quan chức của chính phủ Đức Quốc Xã. Đây là phiên xét xử xem xét trách nhiệm hình sự của các thẩm phán đã chấp nhận thực thi những đạo luật vô đạo đức. Phiên tòa Tư pháp đã trở thành nguồn cảm hứng cho một bộ phim Hollywood nổi tiếng với tựa đề “Phán quyết tại Nuremberg” (Judgment at Nuremberg). Những phiên tòa khác tiếp theo đó như Phiên xử Bác sĩ (ND: Doctors Trial – xét xử các Các bác sĩ y khoa của Đức Quốc xã bị cáo buộc can dự vào những thí nghiệm trên người sống) hay Phiên xử các đội đặc nhiệm (ND: Einsatzgruppen Trial – xét xử các đội đặc nhiệm dưới thời Đức Quốc xã bị cáo buộc sát hại người Do Thái và chính ủy Liên Xô, các dân tộc Slav… ở Đông Âu) đặc biệt thuyết phục bởi những sự kiện khủng khiếp được miêu tả qua lời kể của nhân chứng.

Đối thoại phe Đồng Minh

Năm 1944, khi chiến thắng cuối cùng có vẻ nghiêng về phe Đồng Minh, Tổng thống Franklin Roosevelt đã yêu cầu Cục Chiến tranh Hoa Kỳ (sau này đã được sát nhập với Cục Binh chủng Không quân và Cục Hải quân để hình thành Bộ Quốc Phòng hiện nay – ND) lập một kế hoạch nhằm đem tội phạm chiến tranh ra công lý.

Tuy nhiên, trước khi Cục Chiến tranh có thể đưa ra một kế hoạch cụ thể, Bộ trưởng Tài chính Henry Morgenthau đã gửi ý tưởng của riêng ông về vấn đề này tới Tổng thống. Đề xuất “ăn miếng trả miếng” của Morgenthau gợi ý về việc bắn bỏ tại chỗ nhiều lãnh đạo chủ chốt của Quốc xã ngay tại thời điểm bắt được và trục xuất những người khác đến những vùng đất xa xôi trên thế giới. Theo kế hoạch Morgenthau, tù binh chiến tranh Đức sẽ bị buộc tái xây dựng châu Âu. Vị Bộ trưởng Tài chính thậm chí hướng đến hủy diệt nền móng công nghiệp mạnh mẽ của Đức và biến nước này thành một quốc gia yếu kém, nông nghiệp.

Bộ trưởng Chiến tranh Henry Stimson nhìn nhận sự việc khác hẳn so với Morgenthau. Một đề xuất phản biện mà Stimson ủng hộ, được hoàn thiện bởi Đại tá Murray Berays của Nhánh Dự án Đặc biệt, có nội dung trái ngược với ý tưởng của Bộ Tài chính. Theo đó, phe Đồng Minh sẽ đưa những lãnh đạo Quốc xã có trách nhiệm ra tòa. Kế hoạch của Bộ Chiến tranh là coi những hành động tàn bạo và việc phát động một cuộc chiến tranh xâm lược là tội phạm chiến tranh. Cụ thể hơn, kế hoạch này kiến nghị xử lý chế độ Đức Quốc xã như một vụ án hình sự.

Tổng thống Roosevelt cuối cùng đã chọn ủng hộ kế hoạch từ Bộ Chiến tranh. Tuy nhiên, những lãnh đạo đồng minh khác cũng có chính kiến của riêng mình. Churchill nói với Stalin rằng ông ủng hộ việc hành hình những thủ lĩnh Đức Quốc xã bị bắt. Stalin đã trả lời: “Ở Liên Xô, chúng tôi không bao giờ hành quyết ai mà không thông qua xét xử”. Churchill đồng ý: “Tất nhiên, tất nhiên. Chúng ta nên xét xử họ trước tiên”. Cả ba nhà lãnh đạo đã ban hành một tuyên bố tại Yalta vào tháng 2/1945 với một số thủ tục pháp lý dành cho những lãnh đạo phe Trục bị bắt.

Từ chiến tranh đến tòa án

Vào tháng 4/1945, hai tuần sau cái chết đột ngột của Tổng thống Mỹ Roosevelt, Thẩm phán Tối cao Pháp viện Robert Jackson tiếp Samuel Rosenman tại nhà riêng. Rosenman đã thay mặt cho Tổng thống Truman yêu cầu Jackson trở thành công tố viên trưởng của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ tại phiên tòa chiến tranh được diễn ra sau khi chiến tranh kết thúc. Truman muốn một gương mặt đáng kính, một người liêm chính không thể gây tranh cãi, và một nhà hùng biện hạng nhất để đại diện cho Hoa Kỳ. Và Roseman đã khẳng định đó chính là Thẩm phán Jackson. Ba ngày sau đó, Jackson đồng ý. Vào ngày 2/5, Harry Truman đã bổ nhiệm Jackson làm công tố viên trưởng. Nhưng công tố viên của ai, dưới cơ chế nào? Nhiều câu hỏi vẫn chưa được giải đáp.

robert-jackson-in-his-official-supreme-court-robes

Ông Robert Houghwout Jackson là người duy nhất cho đến nay từng nắm giữ cả ba chức vụ quan trọng trong ngành tư pháp Hoa Kỳ bao gồm Tổng Biện lý sự vụ Hoa Kỳ (United States Solicitor General), Tổng Chưởng lý Hoa Kỳ (United States Attorney General) và Thẩm phán thành viên Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Ảnh: RobertJackson.org

Một số lãnh đạo Đức Quốc xã đã thoát khỏi phiên tòa và sự trừng phạt. Hai ngày trước khi Jackson được bổ nhiệm, trong một boongke dày 20 feet (khoảng 7 mét) dưới hệ thống thoát nước của Berlin, Adolf Hitler tự sát. Không lâu sau đó, Heinrich Himmler, có thể là gương mặt đáng sợ nhất nhì của chế độ Phát xít Đức, đã uống tinh thể Xyanua trong khi được kiểm tra bởi một bác sĩ người Anh. Ông này chết sau đó chỉ sau đó vài phút. Không có mặt tại phiên tòa còn có Joseph Goebbels (đã chết) và Martin Bormann (không tìm thấy).

Tuy vậy, nhiều thủ lĩnh phe Trục đã rơi vào tay quân Đồng minh, thông qua đầu hàng hoặc bị bắt. “Phó tướng” của Hitler là Rudolph Hess bị bắt từ năm 1941 khi đang nhảy dù xuống bầu trời nước Anh trong một nỗ lực cá nhân nhằm thuyết phục lãnh đạo Anh quốc giảng hòa với chính quyền Đức quốc xã.

Reischsmarschall Hermann Goering đầu hàng quân Mỹ vào ngày 6/5/1945. Ông đã uống rượu và hát hò với các sỹ quan người Mỹ trong đêm đầu tiên bị bắt. Những sỹ quan này sau đó đã bị Tướng Eisenhower khiển trách vì những đãi ngộ đặc biệt với địch nêu trên.

Hans Frank, “Tay đồ tể người Do Thái ở Cracow”, thì không nhận được mấy sự thân thiện từ binh sỹ Mỹ ở Bavaria. Họ đã bắt hắn phải chạy qua đoạn đường 70 foot (khoảng 22 m) bao quanh bởi lính Mỹ, và bị đấm đá trên suốt quãng đường đó.

Những nghi can tội phạm chiến tranh khác bị quân lực Anh vây bắt vào ngày 23/5 ở Flensburg, vị trí cuối cùng còn tồn tại chính quyền thuộc Quốc Xã. Nhóm bị bắt tại Flensburg bao gồm Karl Doenitz (người kế thừa vai trò Quốc trưởng của Hitler), Field Marshall Wilhelm Keitel, nhà triết học của Đảng Quốc xã Alfred Rosenberg, Tướng Alfred Jodl, và Bộ trưởng Vũ trang Albert Speer. Cuối cùng, 22 trong số những kẻ tai to mặt lớn Nazi bị bắt giữ đã được mang ra truy tố.

Áp dụng phương pháp tranh tụng của hệ thống luật Anh – Mỹ

Vào ngày 26 tháng 7, Robert Jackson bay đến London gặp các đại biểu từ ba thế lực Đồng minh để thảo luận về những gì sẽ làm đối với các lãnh tụ Đức Quốc xã bắt được. Mỗi quốc gia có luật hình sự của riêng mình và quan điểm khác nhau về việc tổ chức phiên tòa.

Jackson dành ra một khoản thời gian đáng kể để giải thích tại sao pháp luật hình sự liên quan đến chiến tranh xâm lược và tội phạm chống lại loài người mà ông đề xuất soạn thảo sẽ không có hiệu lực hồi tố. Jackson đã đàm phán với những quốc gia khác: “Những gì chúng ta đề xuất là để trừng phạt những hành vi được coi là tội phạm kể từ thời Cain và điều này đã được ghi nhận trong bất kỳ bộ luật văn minh hiện đại nào khác”. Các đại biểu cũng tranh luận liệu có nên sử dụng hình thức tố tụng tranh tụng (adversarial system) theo hệ thống Anh-Mỹ – tập trung vào vai trò của luật sư biện hộ cho bị cáo và bên công tố, hay là hình thức tố tụng thẩm vấn (inquisitive system) tập trung vào vai trò của thẩm phán thường được áp dụng ở Pháp và Liên xô.

Sau mười ngày tranh luận, quy trình đã được định hình ngày một rõ ràng. Tòa được gọi là Tòa án Quân sự Quốc tế, và sẽ bao gồm một chánh thẩm và một thẩm phán luân phiên đến từ mỗi nước. Quy trình tố tụng tranh tụng của Anh-Mỹ sẽ được áp dụng. Các cáo trạng chống lại các bị can cấm những lời biện hộ dựa trên mệnh lệnh cấp cao, cũng như ngụy biện “anh cũng vậy” (tu quote). Các đại biểu có quyết tâm sẽ không để cho các bị can và luật sư người Đức của họ biến phiên tòa thành nơi có thể phơi bày những hành vi gây chiến đáng tranh cãi của lực lượng Đồng minh.

jackson-tough-prosecutor-img_assist_custom-628x434

Robert Jackson trong vai trò công tố viên đại diện cho Hoa Kỳ tại một phiên tòa Nuremberg. Ảnh: carolynyeager

Jackson tin rằng các phiên tòa xử tội phạm chiến tranh nên được tổ chức ở Đức. Vào năm 1945, ở vài thành phố ở Đức đã có một tòa án mà ở đó các phiên xét xử lớn đã diễn ra. Một trong số ít các thành phố đó là Nuremberg, nơi có quảng trường Zeppelin và các cuộc biểu tình ngoạn mục nhất ủng hộ Đức Quốc xã của Hitler. Cũng ở Nuremberg này vị thủ lĩnh Đức quốc xã đã ban hành Đạo luật Nuremberg khét tiếng, tước quyền công dân của người Do Thái, cũng như tài sản và các quyền cơ bản khác của họ.

Jackson thích sự liên kết này. Thành phố đã bị phá hủy 91%, nhưng bên cạnh Cung điện Công lý, khách sạn tốt nhất của thành phố là Grand Hotel cũng được bảo toàn một cách thần kỳ và có thể sử dụng làm cơ sở điều hành cho các quan chức tòa án và báo chí thế giới. Trước sự phản đối của Liên xô (vốn ưa chuộng Berlin hơn), các đại diện Đồng minh vẫn quyết định tiến hành phiên tòa ở Nuremberg.

Vào ngày 6/8, các đại biểu đã ký kết Hiến chương Tòa án Quân sự Quốc tế (Charter of the International Military Tribunal), thiết lập hành lang pháp lý và quy trình tố tụng cho các phiên tòa Nuremberg. Sáu ngày sau đó, một máy bay chở hàng vận chuyển hầu hết các bị can phạm trọng tội chiến tranh đã đáp cánh xuống Nuremberg. Nhân viên Quân đội Đồng minh đã đưa các tù nhân vào xe cứu thương và chở họ đến một nhà giam bền chắc ở Cung điện Công lý, nơi họ sẽ ở đó trong 14 tháng tiếp theo.

Các thẩm phán của Tòa án Quân sự Quốc tế gặp nhau lần đầu vào ngày 13/10. Thẩm phán người Mỹ là Francis Biddle, được Harry Truman chỉ định. Robert Jackson đã ngăn cản Biddle, người liều lĩnh muốn vị trí chánh thẩm, để ủng hộ cho vị thẩm phán người Anh là Sir Geoffrey Lawrence.

Jackson nghĩ việc chọn một người Anh đứng đầu Tòa án Quân sự Quốc tế sẽ giảm bớt những chỉ trích rằng người Mỹ đang đóng vai trò quá lớn ở các phiên tòa Nuremberg. Các phiếu từ Mỹ, Anh và Pháp đã bầu Lawrence làm chánh thẩm.

Càng gần đến ngày mở phiên xét xử 20/11, càng có nhiều khách đến Nuremberg. Đội ngũ hơn 600 nhân viên công tố của Mỹ cộng thêm hàng trăm người từ ba cường quốc còn lại đã tập hợp lại, bắt đầu thẩm vấn những nhân chứng có tiềm năng và xác định tài liệu trong số hơn 100.000 người bị bắt để phục vụ cho các trường hợp bị truy tố. Các luật sư Đức, một số trong đó từng là người của Đức Quốc xã, đến và phỏng vấn khách hàng của mình và bắt đầu chuẩn bị cho phiên xét xử. Báo chí thế giới đổ về Grand Hotel và bất kỳ góc nào họ có thể tìm được, bắt đầu viết về những đặc trưng cơ bản của phiên tòa sắp tới. Gần một nghìn công nhân vội vã hoàn thành công trình phục hồi Cung điện Công lý.

Các phiên tòa ở Nuremberg còn tiếp tục kéo dài hơn hai năm sau đó. Tuy nhiên Tòa án Quân sự Quốc tế đã hoàn thành nhiệm vụ của nó. Tất cả thẩm phán của các phiên Nuremberg tiếp theo đều được lấy từ cơ quan tư pháp Hoa Kỳ. Những phiên tòa Nuremberg tiếp tục dấy lên các cuộc tranh luận. Nghi vấn được đặt ra đối với cả tính hợp pháp của tòa án và tính thích đáng của các bản án cá nhân được tuyên.

Quan trọng hơn, có thể là câu hỏi liệu “Phiên tòa Nuremberg” có ý nghĩa quan trọng nào hay không. Không ai có thể phủ nhận rằng phiên tòa này đã cung cấp hồ sơ thấu đáo về tội ác của phát xít Đức. Trong hơn một nửa thế kỷ, những hình ảnh và lời khai đi ra từ Nuremberg không hề mất đi tính kinh hoàng của nó.

Các phiên tòa cũng giúp bắt các bị cáo phải đối mặt và nhìn nhận những tội ác khủng khiếp mà mình gây ra, từ chối cơ hội “tử vì đạo” chính nghĩa của họ trong mắt công chúng Đức. Không có bức tượng tưởng niệm anh hùng chiến tranh nào dành cho Đức quốc xã. Những tiết lộ của Nuremberg cũng đã góp phần xây dựng nền dân chủ ở Đức.

Tuy nhiên, những phiên tòa Nuremberg không hoàn thành được giấc mơ vĩ đại của những người mong muốn lập ra nó. Họ đã không thành công trong việc chấm dứt chiến tranh xâm lược. Họ đã không thể đặt dấu chấm hết cho nạn diệt chủng. Tội ác chống lại loài người vẫn còn hiện hữu bên cạnh chúng ta./.

Góp bàn về Hệ giá trị văn hóa Việt Nam ( tham luận khoa học)

Đôi lời góp bàn…

 Chủ bút: Ngày 29 – 5 – 2013, Bộ VHTTDL cùng tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật tiến hành Hội Thảo bàn về: Hệ giá trị văn hóa Việt Nam trong đổi mới, hội nhập. Khách mời có trên 50 nhà nghiên cứu, chuyên gia, nhà hoạt động văn hóa nghệ thuật, nhà báo. Tôi đăng lên đây bài tham luận của mình được mời đọc trong hội thảo.

  • ĐÔI LỜI GÓP BÀN về: Hệ giá trị văn hóa Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập

Nghĩ rằng, tư duy về vấn đề này, trước tiên cần dựa theo nguyên lý phức hợp chứ không nên cố tìm cho đủ, tách – lọc riêng giá trị tốt, rồi bảo đó là Hệ giá trị văn hóa Việt Nam (Hgtvhvn) tựa như gom kho báu. Trừ các hiện tượng cụ thể, còn lại nhiều khi các yếu tố, các mặt nó hòa vào nhau… và làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam.Tuy nhiên, cũng có những dáng nét rõ, như: bản tính chịu khó, chịu khổ cao, tiểu nông, láu vặt, khôn ranh, giỏi biến cải, bắt chước… và nhiều nét còn nhạt nhòa – bảo là của mình cũng đúng mà như các dân tộc khác cũng không sai: thông minh, yêu nước, anh hùng, trọng lễ nghĩa, danh dự, nhưng cũng sỹ diện, ham vật chất danh vọng…. Mặt khác,Việt Nam là nước không hề có truyền thống lý thuyết, lý luận; nhiều khái niệm nhập ngoại, ít có ai hiểu cho thật đúng… càng không có triết thuyết riêng, tới mức – có người nói vui: là khối tự phát vĩ đại (!). Cho nên các hiện tượng đời sống tồn tại tự nó trong tính phức thể chứ không, chưa hoặc ít có hệ hình nhận dạng. Nói cách khác, Hgtvhvn là rất tương đối, là thế mà không hẳn vậy. Nhìn nhận về nó cần có góc nhìn động và linh hoạt, theo trường hợp cụ thể… Nhất là trong thời đại toàn cầu hóa và thế giới phẳng, nếu đi tìm cái thật riêng, tĩnh, nổi bật, thường khó (!). Quá nửa đời với đời sống Việt Nam và tri thức các loại, tôi mới dường như nhận ra rằng, Hgtvhvn là một phức tính đa dạng, lung linh, đa sắc mầu; cảm – nhận thì có phần dễ hơn là khái quát hóa về nó

Nhận thức về mình, về đất nước mình là việc lớn. Ngay cả bộ môn Việt Nam học cũng còn bàn nát nước. Vì vậy, tôi hoan nghênh Hội thảo này và có mấy lời góp bàn, gợi mở theo mạch nghĩ tự do chứ chưa dám kết luận

  • Một số quan niệm về Hgtvhvn:

Trên bình diện tổng thể, bao gồm: văn hóa gia đình, văn hóa giao tiếp – ứng xử, văn hóa tâm linh  – đa tôn giáo, văn hóa pháp lý, văn hóa lãnh đạo, văn hóa công cộng – làng xã và đô thị  ; văn hóa khoa học và giáo dục đào tạo, văn hóa nghệ thuật cổ truyền và hiện đại…Văn hóa vật thể và phi vật thể…

Do cơ cấu Việt Nam là nước truyền thống nông nghiệp, mãi gần đây tỷ lệ dân số nông thôn, nông nghiệp còn tới khoảng trên 70%; vì thế tinh thần, tình cảm tư duy của người Việt nói chung, bên cạnh những ưu điểm, vẫn hầu như nặng căn tính tiểu nông, cục bộ làng xã, tự do, tản mạn, tự phát và yếu lý tính logic. Chỉ khi chống ngoại xâm mới có tâm lý đoàn kết và kỷ luật cao. Đây chính là mặt hạn chế cản trở khi bước vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vốn đòi hỏi tư duy ý thức- lý tính cao

 

Chúng ta đã biết: Văn hóa phương Tây căn bản duy lý, Văn hóa phương Đông duy tình, đặc biệt Việt Nam càng duy cảm, duy tình – như câu thành ngữ: một trăm cái lý không bằng một tý cái tình… Hgtvhvn dường như thường có tính lợi hại lưỡng phân và hay bị vận dụng theo tình huống: “phép vua thua lệ làng”, tâm lý đám đông, vị lợi gia đình dòng họ… Tâm lý ham địa vị: “miếng giữa đình”…, hay kèn cựa so bì vô lý, thích dàn đều mà tiến: “hòa cả làng, chết một đống hơn sống một người, giỏi giầu nó ghét, ngu nghèo nó khinh, chỉ bình bình nó thích”. Hoặc đám đông như hình tượng bầy cua trong giỏ kéo nhau xuống, không cho con nào ngoi lên … Tính dân chủ thấp, bắt nguồn từ văn hóa phong kiến – gia trưởng và cơ chế trì trệ. Nhiều năm, tính tập thể cao hơn tính cá nhân… Cho nên trong thời mở cửa phải biết tiếp thu các giá trị tiên tiến của văn hóa nước ngoài, của phương Tây, đặc biệt là lý tính và dân chủ tính, cá nhân tính… Cá nhân tính và tự do bản thân chính đáng là những yếu tố mới đang được người Việt Nam áp dụng một cách tự phát. Nó cần được cân bằng với cái cộng đồng, tránh sa vào chủ nghĩa vị kỷ và hưởng lạc, chà đạp người khác…Mặt khác: lý tính thích hợp cho khoa học và luật pháp cũng như quản lý xã hội, nhưng cần phòng tránh tác hại cho nhân tính, nhân văn khi nó bị máy móc hóa cực đoan… Do đặc thù lịch sử: chưa qua thời kỳ tư bản và công nghiệp hóa cho nên văn hóa văn minh công nghiệp đô thị cũng còn ở mức thấp: giờ giấc cao su; làm việc ít theo qui trình chặt chẽ; coi nhẹ khế ước, luật tới mức ngay cả người công vụ cũng có khi lạm dụng hoặc vi phạm, không tôn trọng luật giao thông và trật tự đô thị, môi trường…Như các câu: “đường ta ta cứ đi, nhà ta ta cứ xây…, hồn nhiên xả rác, phạt cho tồn tại, cảnh sát giao thông là anh hùng Núp”….Số đông chữ tín chưa cao – thậm chí tới mức: “mất hút con mẹ hàng lươn, đợi chờ dài cổ”…  Và hiện nay thì đáng buồn thay: “dân gian quan tham, suy thoái trong bộ phận không nhỏ” đã trở nên thành ngữ mới. Tính lưỡng phân lợi hại trong trường hợp xấu, sai thường được không ít người vận dụng thủ lợi riêng, cho nên “ cờ tay ai người ấy phất, tư duy nhiệm kỳ” gây tác hại tiêu cực, lãng phí cho đường hướng chung. Cái cực đoan, cực tả… tuy không thuộc tư chất số đông – cũng vậy; khi vì cái tốt, đúng thì rất hữu ích – như lúc chống ngoại xâm, nhưng khi dùng cho cái sai, hỏng, đời thường thì lại vô cùng phá hoại (!). Những nét tiêu cực tính đó, hẳn phải qua một thời gian quá độ/ công nghiệp hóa hiện đại hóa/ mới rời bỏ con người Việt Nam. Vấn đề là quá độ bao lâu? Càng lâu, càng có hại!

Vài chục năm nay, khi bước vào cơ chế thị trường, đã có những lời cảnh báo vang lên về sự” lệch chuẩn”các giá trị, có ngụ ý so với các chuẩn thời chiến tranh, cách mạng, thời bao cấp mà ở đó, nói chung tính lý tưởng tập thể – cộng đồng – sự nghiệp… cao và bao trùm khắp nơi. Cảnh báo đó là đúng  nhưng cũng chưa hoàn toàn, vì tất yếu một số các chuẩn cũ chỉ có thời, qua thời thì thôi. Các chuẩn mới phù hợp sẽ được thời gian xác lập, sàng lọc, điều chỉnh. Trong khi chưa ổn định, nó chao đảo như con lắc và rồi sẽ về vị trí. Vì thế, nếu tìm chuẩn, định chuẩn cho mọi thời thì có lẽ các giá trị muôn đời có tính nhân loại phổ quát: trí, chân, thiện, mỹ, đức, tín, nhân, lý, tình…dễ được chấp nhận hơn. Cho nên hội nhập chính là thời đại của những giá trị phổ quát cần theo hơn là những cái quá bản sắc riêng. Bản sắc rất quí nhưng cần gắn với những tiêu chí nhân loại – quốc tế mới có giá trị cao (!). Ví một cách tương đối, Hgtvhvn cần phải phấn đấu đạt giá trị qui đổi quốc tế  (!). Và những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Việt Nam đã được quốc tế công nhận là những giá trị cao nhất. Tuy nhiên, di sản là cái của quá khứ và thường mang ý nghĩa bảo vật. Cái phục vụ cho hiện tại và tương lai khó có thể sao chép dập khuôn mà chỉ có thể học tập, phát huy tinh thần truyền thống. Đơn cử : Việt Nam có truyền thống hiếu học,  tôn vinh sự học và trong hàng trăm năm đã từng tạo ra tầng lớp nho học đạt chuẩn châu Á. Nhưng hiện nay, nhiều bằng cấp của nước ta thế giới chưa công nhận; chưa có trường đại học nào lọt top 500 của thế giới; nhiều giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ, nhưng quá ít nhà khoa học đầu ngành tầm thế giới, quá ít phát minh, phát kiến khoa học… là ví dụ rõ nhất về chất lượng trí thức và giáo dục đào tạo Việt Nam còn phải phấn đấu nỗ lực rất nhiều nữa. Nói tới quốc tế là một yêu cầu cao, nhưng cần cấp thiết đặt ra vì trên nhiều mặt cơ bản nước ta đã bị chậm, nguy cơ tụt hậu ngày càng lũy tiến và bị lân bang bỏ xa. Viết tới đây, tôi chợt nghĩ, quốc tế – những nước phát triển đáng học tập, thực ra có nhiều giá trị giản dị, kinh phí, qui mô vừa và nhỏ, nhưng rồi họ biết xây đắp, tu tạo, tôn nổi và làm cho trở nên giá trị cao như quốc bảo và khiến thế giới cũng phải chiêm ngưỡng. Ví dụ Hoa Anh Đào hoặc món Susi ở Nhật Bản, bức tượng nàng Tiên Cá ở Copenhagen Đan Mạch, bức tường Tưởng Niệm ở Washington Mỹ…Vì vậy, nhìn ra, cũng không hẳn quá sức, quá cao, nếu nói tới các tiêu chí quốc tế, mà quan trọng là chất lượng và ý nghĩa văn hóa của hiện tượng. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã từng gợi ý: ẩm thực Việt Nam có thể phát huy thành giá trị thu hút quốc tế (!), món Phở và bia hơi Hà Nội là chứng nghiệm, ai cũng thích…

Dù thế nào thì trong phức hợp thực tế phong phú có hay có dở…, vẫn cần lọc ra những cái tinh túy ổn định nhất tựa như di sản phi vật thể, đặng biết mà  phát huy không để mai một; ví dụ đức tính chịu đựng, khả năng vượt qua khó khăn gian khổ… Ở nhiều vùng sâu, địa phương xa hiện nay, nét đẹp này vẫn vậy, như trường hợp: có cháu đi xe đạp 300 km đến thành phố trọ, dự thi  đại học; riêng đức hy sinh lớn lao thì có lẽ khó mà kể hết. Nhưng cũng đừng vì thấy giỏi chịu đựng, chịu khổ, nhẫn nhịn, hy sinh… mà khen, mà khích người ta cứ mãi thế. Cái cần là, khi có thể phải cải thiện hoàn cảnh, giúp họ thoát khổ…Nhưng ưu tính khác: đa số đều trọng sự học, trọng thầy, trọng tình cảm thân thuộc… “ nửa chữ cũng là thầy, muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy; anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương…”. Cũng biết trọng những cái sang giầu thẩm mỹ đích thực: “ tốt gỗ hơn tốt nước sơn, cái áo không làm nên thầy tu, y phục phải xứng kỳ đức, nghề chơi cũng lắm công phu, đàn gẩy tai trâu, ba năm ở với thuyền chài, chẳng bằng một phút ngồi bên thuyền rồng, thà một phút huy hoàng rồi chợt tối còn hơn buồn le lói suốt trăm năm…”. Các phẩm tính như vậy khá ổn định qua hàng trăm năm, kể cả chiến tranh, hậu chiến đói rét…Nên phát huy lắm chứ!

Những cái hay tạm kể như trên cũng cần được nhìn trong tương quan với cái hay của các nước xung quanh và thế giới để không rơi vào tự tôn thái quá. Ví dụ người Lào, người Thái nhìn chung họ nhẫn nhịn ôn hòa hơn người Việt. Hay phẩm tính yêu nước, dũng cảm, anh hùng, thông minh, nhân ái… khó mà nói người Việt là hạng nhất (!). Có nét hay nhưng không nên tự phụ, tự thị, có mặt dở nhưng đừng tự ty; miễn là cần nhận ra, sửa bỏ. Vì suy cho cùng, chưa dân tộc nào, nước nào hoàn hảo cả!

Mẫu tính, nữ tính cũng là nét khá rõ trong văn hóa Việt Nam: tục thờ mẫu, hình tượng mẹ, nhân vật nữ trở nên như biểu tượng – nữ và người mẹ trong ca dao tục ngữ – chỗ ướt mẹ nằm chỗ ráo cho con; trong truyện kể dân gian: Tấm Cám, Quan Âm Thị Kính, và cả trong văn học nghệ thuật hiện đại – các nữ nhân vật tiêu biểu dường như nổi hơn nam nhân vật. Trong đời sống cũng vậy, có tới hai ngày kỷ niệm cho phụ nữ và danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng, nhưng nam giới hoàn toàn không có. Ngoài đời thì trẻ thơ đi đâu xa nhà cũng nói nhớ mẹ chứ không nói nhớ bố. Mặc dù ca dao vẫn có câu: “gần cha con ăn cơm cá, gần mẹ gặm lá gặm xương”. Có lẽ do bố thương con kiểu khác, hay đe nẹt và có khi dữ đòn

 

  • Điện ảnh với tư cách là một nghệ thuật đại chúng hiện đại, sáng tạo hình tượng tổng thể, tổng hợp, phản ánh hiện thực, con người Việt Nam, đã đóng vai trò gì vào Hgtvhvn?

Thực ra về mặt lý luận sáng tác, các nhà làm phim hầu như chưa có ý thức về vấn đề này; nó cũng chưa từng được bàn thảo như vấn đề hiện thực hay lịch sử hoặc bản sắc dân tộc. Tuy nhiên trong tính biện chứng, thì nó xuất hiện từ tâm cảm tự nhiên của nghệ sỹ và liên quan các hệ luận  nói trên. Cho nên, tất yếu mấy chục năm qua, hẳn có nhiều bộ phim đã nói về Hgtvhvn với những chủ điểm chính như phần trên đã nêu

– Trong những năm đầu đổi mới, hàng chục phim :  Cô gái trên sông, Hà Nội trong mắt ai, Chuyện tử tế, Tướng về hưu, Người rừng, Anh và em, Thị trấn yên tĩnh, Thằng Bờm, Gánh xiếc rong,…của các đạo diễn như Đặng Nhật Minh, Trần văn Thủy, Nguyễn Khắc Lợi, Nguyễn Văn Thông, Trần Vũ, Việt Linh, Lê Đức Tiến, …  đều phê phán mạnh mẽ những nét tiêu cực của lối sống con người Việt Nam; qua đó như một phản đề nêu bật cái hay cái tốt. Xu hướng này đã được người xem hưởng ứng, vì nó đáp ứng mong muốn nhìn nhận lại các giá trị, sau nhiều năm khá đồng giọng, đồng ca khẳng định, minh họa. Điều đó cũng như bên lĩnh vực văn học có truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, sân khấu có các vở kịch của Lưu Quang Vũ đã tạo nên hiện tượng sôi động…

– Tiếp theo cho tới nay, mạch phim nhìn lại, phê phán, chính luận có phần rải rác thưa thớt, nhưng có phần đằm sâu hơn, cả trong khẳng định, phủ định và đi vào nhân tính. Có thể kể tới các phim như: Cỏ lau, Đời cát, Bến không chồng, Mùa ổi, Người đàn bà mộng du, Bụi hồng, Thời xa vắng,Vào nam ra bắc, Đừng đốt, Mùi cỏ cháy

Về phẩm chất chịu đựng gian khó, đức hy sinh lớn lao của người Việt Nam trong hàng chục năm chiến tranh và hậu chiến, có lẽ là chủ điểm bao hàm trong hàng trăm phim mà ta khó kể hết. Và đó chính là đóng góp khá rõ của phim Việt Nam vào việc biểu đạt những nét tích cực của Hgtvhvn!

Tuy nhiên, phim cũng như các loại hình nghệ thuật khác, cũng chỉ có thể làm được chức năng của nó là thể hiện khát vọng, ánh xạ và tiếng dội của thời gian, thời đại chứ không thể tạo nên nền tảng quyết định cho các giá trị văn hóa phát triển. Truyện Kiều dù là kiệt tác cũng không thay đổi được xã hội vua quan xung quanh mục rã suy tàn, mà chỉ như tiếng kêu thét, thở dài, than đau…

  • Để xây dựng Hgtvhvn tiên tiến, dân tộc và hiện đại, đáp ứng yêu cầu đổi mới – hội nhập, vấn đề quyết định là ở môi trường thể chế xã hội!

Mong muốn một hệ Gtvhvn khả thi, hiển nhiên là:

– Dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, phát triển bền vững!- Khẩu hiệu mà ai cũng thuộc.

Nhưng đó là mục đích và ước mơ. Nước nào cũng phải hướng đến, nước ta không ngoại lệ. Nếu không đạt các mục tiêu đó, thì Hgtvhvn cũng khó tồn tại phát triển, nếu không nói là tàn hủy (!)

Cần đến bằng phương tiện gì, ra sao (how?) mới là điều phải bàn!

Hãy! dù muộn, học tập kinh nghiệm nước Nhật: bảo vệ được tinh hoa văn hóa dân tộc nhưng cũng phát triển canh tân hiện đại hóa để giầu có rất thành công. Trước hết, họ “ thoát Á”, mở cửa hội nhập với văn minh công nghiệp duy lý phương Tây. Các quốc gia khác: Hàn Quốc, Singapore… với cách đi tương tự Nhật Bản và cũng đã vươn lên thành nước giầu mạnh cả kinh tế và văn hóa. Mặc dù các nước đó đều ảnh hưởng nặng Khổng giáo song họ vận dụng cái hay, cái thích hợp của Khổng giáo vào cuộc sống hiện đại: tính kỷ luật, trật tự, bổn phận, trách nhiệm, tính thực chất cùng các tư chất trí, nhân, dũng, tín… Đạo phật ở Hàn Quốc cũng có truyền thống lâu đời nhưng đã góp phần tích cực vào đời sống thời công nghiệp hóa: là nơi tu dưỡng tâm linh và du lịch văn hóa song không bị rơi vào lễ bái mê tín dị đoan ( mà ở ta đang có nguy cơ).

Như vậy, phải hiểu “ thoát Á” không phải là rời bỏ truyền thống Á đông mà là thoát cái hạn chế trói buộc của hệ hình cũ, tàn tích cũ; không bị rơi vào lưỡng phân khi lựa chọn: đâu là tinh hoa truyền thống, hay; và đâu là dở, bất cập. Vấn đề này tiếp tục đòi hỏi các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử… phân tích

Sự nghiệp đổi mới mà đảng ta khởi xướng chính là nhằm mục đích canh tân toàn diện đất nước trong đó có văn hóa, với mục tiêu cao cả: tạo nên nền văn hóa Việt Nam tiên tiến giầu bản sắc dân tộc. Bản sắc dân tộc cần phát huy chính là những giá trị văn hóa tinh túy và tốt đẹp, vì vậy cần sàng lọc thoát bỏ những cái tiêu cực, những phản giá trị, như: tiểu nông, cục bộ, ích kỷ, đố kỵ nhỏ nhen, vị lợi ích nhóm, sỹ diện hão, bệnh hình thức, bệnh khuyến sùng địa vị chức vụ, coi nhẹ chuyên môn – chuyên gia, bệnh thành tích, và nhiều bệnh khác trong căn não người Việt

Và cũng rất cần nhìn lại quá trình hội nhập – tiếp biến văn hóa, chính trị, kinh tế trước đây – có lúc mang tính cưỡng ép và tình thế lịch sử: với Trung Hoa thời phong kiến, thời thuộc Pháp, thời cách mạng giành độc lập, thời bao cấp – nước ta đã được gì, mất gì, cái gì nên giữ, cái gì nên bỏ… Để mà tránh sai lầm (!). Mô hình kinh tế thị trường khởi ra từ 1986 giúp Việt Nam nhanh chóng thoát thiếu thốn đói nghèo và vươn lên chẳng phải là minh chứng tốt cho sự thoát bỏ cái sai  của lề lối kinh tế chỉ huy tập trung – tập thể quan liêu được du nhập từ Liên Xô cũ hay sao (!). Trong khi Cu Ba, Triều Tiên vốn đồng dạng mô hình, vẫn cơ bản là loay hoay, thiếu ăn…. vì chậm hoặc chưa chịu gỡ bỏ cơ chế cũ

Như vậy: thể chế – mô hình điều hành xã hội với vai trò quyết định, cần tiếp tục đổi mới toàn diện và hội nhập mạnh mẽ! Cần cải cách thể chế theo hướng thị trường – pháp trị – dân chủ, xã hội ( hóa !) thích ứng với yêu cầu phát triển và khát vọng của dân tộc với xu thế thời đại. Cần tiếp tục mở rộng tiếp thu, phổ biến và mạnh dạn, chọn lọc, áp dụng tri thức, lý luận, khái niệm mới, tiên tiến của thế giới vào thực tiễn nước ta. Từ đó tạo ra môi trường mầu mỡ cho các Hgtvhvn nảy nở tốt tươi ./.

Chân tâm cảm ơn Ban tổ chức Hội thảo và chúc các đại biểu mạnh khỏe!

ĐML! ( Bài  của mình năm 2013 nhưng bất chợt vào Bolog đọc lại thấy hiện thời chưa có gì khác tức nguyên giá trị và đáng chia sẻ thêm bạn đọc )

Tiếp tục đọc

Tưởng nhớ Dr. Rupert Neudeck ( đã cứu hơn 10 ngàn thuyền nhân VN)

Tưởng nhớ Dr. Rupert Neudeck, người đã cứu 11.300 người Việt Nam trên biển Đông hồi thập niên 1980

Posted by adminbasam on 10/08/2016

“Dr. Rupert Neudeck ra đi với nhiều ước mơ chưa trọn vẹn. Ông ước mơ một thế giới an bình không chết chóc chiến tranh. Ông ước mơ tiếp tục cứu giúp người tỵ nạn trên thế giới. Ông ước mơ ngày nào đó sẽ chạy Marathon trên suốt giải Gaza tại Palestine. Ông ước mơ đi trên chuyến xe lửa xuyên hết đất nước Sudan. Ông ước mơ học tiếng Việt và tiếng Ả Rập và ông ước mơ mình sẽ sống tại Phi Châu trong những tháng năm cuối đời… Cho dù bây giờ ông có thể sống tại Phi Châu hay Palestine, hay trên bất cứ đất nước nào như trong mơ ước của ông, nhưng có một điều chắc chắn rằng, ông vẫn còn sống mãi trong lòng những người tỵ nạn VN chúng tôi và tất cả mọi người trên thế giới”.

_____

Nguyễn Hữu Huấn

9-8-2016

Dr. Rupert Neudeck: Sống thanh đạm, hoạt động cao cả

Rất nhiều người đã cho rằng: Chúa Giêsu và triết gia người Pháp Albert Camus (1913-1960) là hai thần tượng của Dr. Rupert Neudeck, xuyên qua dụ ngôn “Người Samirita nhân hậu” trong Kinh Thánh và “huyền thoại Sisyphos” của Albert Camus, người đoạt giải Nobel văn học qua các sáng tác của ông đã đưa ra ánh sáng những vấn đề phải đặt ra cho lương tâm loài người trong thời đại này. 77 năm trên dương thế của Dr. Neudeck đều được tóm gọn trong niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa với lòng nhân hậu cứu độ tha nhân, bất chấp bất cứ chống đối nghịch cảnh nào, không khác gì một Sisyphos nhỏ bé phải lăn một tảng đá tròn khổng lồ lên đỉnh một ngọn núi dốc cao chót vót. Suốt cuộc đời hành sự nhân đạo cứu người của ông đều được phát xuất từ tinh thần bác ái Thiên Chúa Giáo, cộng với ý tưởng nhân bản qua lời của Albert Camus: “Con người không phải xấu hổ khi mình đang được hưởng hạnh phúc, nhưng họ sẽ phải xấu hổ khi chỉ biết giữ lấy hạnh phúc đó cho riêng mình.

H1

Tôi may mắn – có thể nói là một diễm phúc – lần đầu tiên được hội ngộ với Dr. Rupert Neudeck vào tháng 4 năm 1980, khi ông dẫn đầu phái đoàn của Ủy Ban Cap Anamur có ông Hans Voss (chủ tàu Cap Anamur – người đã hiến tặng tàu này để vớt thuyền nhân VN trong 3 năm mà không nhận tiền thuê mướn) và bà bác sĩ Bärbel Krumme, đến trại tỵ nạn Singapore thăm các thuyền nhân tỵ nạn VN được tàu Cap Anamur cứu vớt. Ông linh hoạt, nhanh nhẹn, áo chemise trắng, quần jean, vai đeo lủng lẳng túi xách màu xám lòng thòng dây nhợ từ cái máy thu băng và tươi cười hỏi thăm từng thuyền nhân ông gặp.

Cái tên “Rupert Neudeck” thật rất lạ và chẳng có ý nghĩa gì cho lắm đối với một thuyền nhân tỵ nạn vô danh vừa được tàu Cap Anamur cứu sống trước đó chì một tháng. Không thể ngờ rằng, từ hôm đó cho đến ngày ông lìa đời, tôi được theo chân ông và cùng với ủy ban Cap Anamur và Hội Mũ Xanh (cả hai đều do ông sáng lập), đã có những liên hệ mật thiết, từ các công tác thiện nguyện cứu người đến những sinh hoạt bình thường cá nhân, từ những chuyến công tác xa xôi đến những sợi dây vô hình gắn bó giữa hai gia đình thành một đại gia đình. 34 năm làm việc với gia đình ông, tôi đã học được rất nhiều điều cần phải học; 34 năm cùng chung niềm vui mỗi khi công tác hoàn thành như ý; 34 năm được ông hướng dẫn để vượt qua những khó khăn trong nhiều dự án… và 34 năm cũng là thời gian đủ để hiểu rõ con người ông, cá tính của ông và cả những ước vọng của ông.

Sống nhân đức, khổ hạnh, tự nghiêm khắc với mình, rất giản dị, hiền hoà và có đầu óc  khôi hài dí dỏm, nhưng lại có những suy nghĩ táo bạo khác người, bướng bỉnh, nhiều khi độc đoán, thẳng thắn chỉ trích chống đối, lì lợm và liều mạng, dám nói dám làm những gì mà người khác chưa nghĩ đến hoặc không dám nghĩ đến: đó là 2 con người đối nghịch trong cùng một con người mang tên Rupert Neudeck, nhưng ông lại thành công trong hầu hết những công việc nhân đạo mà ông muốn thực hiện, khiến những kẻ chống đối đả kích ông trước đây, sau này đều phải cảm phục kính trọng ông.

Trong suốt quá trình cứu vớt thuyền nhân tỵ nạn VN từ năm 1979 đến năm 1988, Dr. Rupert Neudeck là người đứng mũi chịu sào trước những chống đối mãnh liệt của hầu hết các chính trị gia trong chính quyền Đức thời đó. Bây giờ, 37 năm đã trôi qua và Dr. Rupert Neudeck cũng không còn nữa, tôi xin kể vài câu chuyện rất ít người biết sau hơn 34 năm học hỏi theo gót chân ông, để tưởng nhớ đến ông và cũng để chúng ta thấy được con người của ông với những táo bạo liều lĩnh và tấm lòng nhân hậu của ông đối với các thuyền nhân tỵ nạn VN cũng như người tỵ nạn trên thế giới nói chung.

H2Dr. Neudeck và tác giả trên Cap Anamur II năm 1986

Thuở ban đầu, ít ai biết chuyện có nhiều phần tử cực đoan quá khích người Đức đã ném từng gói phân vào nhà ông như một hành động chống đối việc ông đang kêu gọi cứu vớt thuyền nhân VN. Ông không nản lòng và bà thì chỉ thấy tội nghệp cho họ, vì khi họ phải tự gói đóng  những thứ này thì chính họ đã phải ngửi trước mùi vị của nó. Nhiều người gọi ông là “tên quái gở” hay là “kẻ buôn người”.

Ông chỉ trích thẳng thừng chế độ quan liêu cứng ngắc của chính quyền Đức và sự thờ ơ của các chính trị gia Đức thời đó. Mặc dù là người tu xuất theo Dòng Tên (Jesuits), một tín đồ Công Giáo thuần thành, sau này ông vẫn phê bình cả Giáo Hội Công Giáo Đức là quá hoang phí tiền của để sửa sang nhà thờ, trưng bày hoa nến một cách xa hoa, hay chỉ biết ngày đêm cầu nguyện trong phòng kin mà không thực sự bằng hành động cứu giúp tha nhân đang khốn cùng chết chóc, nghèo đói vì chiến tranh hay thiên tai. Ông kêu gọi phải chấm dứt việc này vì theo ý ông, đó chính là Giáo Hội Công Giáo của ngày mai. Ông cũng không tán thành việc thu thuế nhà thờ từ các tín đồ Thiên Chúa Giáo mà ông cho rằng đó là một trong những nguyên nhân giới trẻ Đức bỏ đạo. Bù lại, ông vui mừng và hãnh diện là thuyền nhân tỵ nạn VN đã đóng góp cho Giáo Hội Công Giáo Đức hơn 10 vị Linh Mục và nhiều tu sĩ nam nữ, thí dụ chỉ trong một ghe tỵ nạn được cứu vớt vào đầu năm 1982 đã có đến 3 vị Linh Mục, 2 hiện ở Đức và 1 ở Úc. Ông còn can đảm công khai chỉ trích và lên án chính sách chà đạp nhân quyền của chính phủ Do Thái đối với người Palestine, một việc mà giới truyền thông Đức không bao giờ dám làm mà chỉ đưa tin và không bao giờ dám phê bình chỉ trích.

Hai lần con tàu Cap Anamur bắt buộc phải chấm dứt trở về cảng Hamburg là hai lần đã cứu vớt đủ số lượng thuyền nhân tỵ nạn VN đã được chính quyền Đức phê chuẩn chấp nhận vào định cư tại Đức. Ông đã liều mạng bất chấp luật lệ và hậu quả, ra lệnh cho chúng tôi mỗi lần trước khi trở về phải kéo dài thêm thời gian tìm cứu người vượt biển và cố gắng vớt thêm được càng nhiều càng tốt. Chính vì thế mà lần thứ nhất, tháng 5 năm 1982, chuyến cuối cùng của tàu Cap Anamur I đã mang theo 178 thuyền nhân tỵ nạn cập cảng Hamburg, trong khi con số được chấp thuận chỉ còn vỏn vẹn vài chục. Rồi đến tàu Cap Anamur II sau hơn 3 tháng hoạt động đã phải trở về Hamburg vào tháng 6 năm 1986 với 357 thuyền nhân, trong khi chỉ còn hơn 100 được chấp thuận trước đó. Ông đã mạo hiểm cố tình đẩy chính quyền Đức lúc bấy giờ vào thế tiến thoái lưỡng nan, bắt buộc phải nhận thêm số người thặng dư này vì cả hai con tàu đều mang quốc tịch Đức và cảng mẹ cũng tại Đức (theo luật tỵ nạn LHQ lúc bấy giờ). Cũng trong thời gian này, chính quyền Đức đã hai lần trao tặng ông Huân Chương Danh Dự (Bundesverdienstkreuz), loại huân chương cao quý nhất của Đức; Hai lần ông đều từ chối và sẵn sàng đổi 2 huy chương đó lấy 2 chuyến tàu tiếp tục đi vớt thuyền nhân tỵ nạn VN.

H3Dr. Neudeck sinh hoạt văn nghệ với thuyền nhân trên tàu

Năm 1987, nước Đức cương quyết không nhận thêm thuyền nhân VN nữa, ông hợp tác ngay với hội Y Sĩ Thế Giới của Pháp (Médecins du Monde) cho ra con tàu Cap Anamur III, mang quốc tịch Pháp, nước Pháp nhận hết thuyền nhân (905 người) và ủy ban Cap Anamur chịu tất cả mọi phí tổn. Khi các trại tỵ nạn đóng cửa không tiếp nhận thuyền nhân

Cùng với chương trình thanh lọc và cưỡng bức hồi hương, thì năm 1989 ông lại âm thầm cho ra khơi liên tiếp 2 con tàu (tháng 6 Cap Anamur IV và tháng 10 Cap Anamur V) với hai mục đích là đánh đuổi bọn hải tặc Thái Lan và giúp đỡ hướng dẫn thuyền nhân VN cập đảo. Đây là một hành động đi ngược lại luật lệ, ngược lại chính sách của Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ và các chính quyền đang có trại tỵ nạn tại Đông Nam Á thời bấy giờ. Mỗi khi phát hiện được ghe vượt biển, chúng tôi đưa họ lên tàu, câu luôn cả chiếc ghe. Các thủy thủ có nhiệm vụ kiểm soát an toàn cho chiếc ghe hoặc sửa chữa máy nếu bị hư hại. Các nhân viên y tế khám sức khỏe, phát thuốc và chúng tôi phân phát lương thực cho mọi người. Tất cả đều được đựng trong những túi nylon hoặc chai bằng nhựa, không nhãn hiệu, không xuất xứ để tránh có thể bị phát hiện sau này. Thuyền trưởng có nhiệm vụ chọn ngày giờ tối đen nhất, không trăng sao, tắt tất cả đèn tàu trên boong, lái tàu tiến vào chỗ gần bờ nhất, rồi câu ghe xuống. Chúng tôi dùng đèn pin đưa từng người xuống ghe, giao tận tay anh tài công 1 búa tạ lớn và 1 súng bắn hỏa pháo, dặn dò khi vào đến bờ phải đập tan nát ghe và máy ghe, rồi bắn hỏa pháo để chúng tôi biết được họ đã an toàn cập bờ. Vừa nhìn thấy hỏa pháo, thuyền trưởng tức khắc cho tàu chạy ra xa, chờ khi trời vừa sáng lại tiến vào chạy ngay bờ quan sát. Không cần ống nhòm chúng tôi cũng thấy được chiếc ghe đen đậm màu vỡ nát trên bờ cát trắng với tiếng reo hò của những thuyền nhân trong trại thức sớm. Cứ thế, hơn một chục chiếc ghe cập bờ với hàng trăm thuyền nhân được bình an do quyết định âm thầm đầy táo bạo và liều lĩnh của Dr.Rupert Neudeck! Chúng tôi âm thầm ra đi và yên lặng trở về, giới báo chí truyền thông cũng chẳng hay biết gì.

Phải nói rằng, nơi nào trên thế giới chiến tranh khốc liệt nhất, người dân bị đầy đọa khốn cùng nhất, nơi nào không ai dám đến nhưng cần phải được cứu giúp thì đều có mặt Dr. Rupert Neudeck, bất chấp hiểm nguy, bất chấp luật lệ. Vào cuối thập niên 80, Nga Sô xua quân xâm chiếm Afghanistan và tàn sát dã man, khiến hàng trăm ngàn người dân vô tội tỵ nạn phải trốn chạy vào các hang hóc trong những dẫy núi hiểm trở tránh bom đạn, không nước uống, không thực phẩm, không thuốc men….

Năm 1986, ông đơn thân độc mã với bộ râu hàm, quấn khăn phủ đầu, cưỡi con lừa tả tơi không khác một tín đồ Hồi Giáo đi vào vùng kháng chiến quân Afghanistan (Mudschaheddin) chống quân xâm lăng Nga Sô gần biên giới Pakistan để quan sát và giúp đỡ thực phẩm thuốc men cho họ. Lần đó, đoàn của ông bị trực thăng Nga Sô phát hiện và bắn đuổi bằng súng máy và hỏa tiễn Ông phải trốn chạy hơn 30 tiếng đồng hồ mới thoát qua được biên giới Pakistan. Hai người trúng đạn và 1 con lừa bị đạn. Sau này ông kể lúc đó ông nghĩ mình sẽ không thoát khỏi cái chết nát thây, nhưng ông vững tin vào Thiên Chúa, nhớ về ba người con còn nhỏ dại và như một phép lạ, ông đã thoát chết trở về bình an.

H4Dr. Neudeck với kháng chiến quân Afghanistan năm 1986

Năm 1987 tại Uganda, nhà độc tài quân phiệt Milton Obote tàn sát tập thể dân chúng khiến họ phải chạy trốn đến biên giới Süd-Sudan, ông cũng có mặt tại đây và bị bọn lính chĩa súng bắt phải uống rượu trước khi chúng thả ông.

H5Dr.Neudeck in Syrien năm 2011

Năm 1988 khi đang cứu trợ dân tỵ nạn Eritrea thì hàng loạt máy bay Migs của quân đội Äthiopie thả bom xối xả. Ông theo đoàn tỵ nạn phải trốn lánh trong hầm sâu hàng giờ và ông thoát chết.

Năm 2001, khi nước Đức và nhiều quốc gia Âu Châu đang khủng hoảng vì bệnh dịch thịt bò (BSE), dân chúng sợ hãi căn bệnh chết người không dám ăn và hàng trăm ngàn con bò bị thiêu hủy không cần biết chúng có bị nhiễm hay không, trong khi người dân CS Bắc Hàn đang chết đói hàng loạt vì thiếu lương thực. Ông mướn ngay tàu chở theo hàng trăm con bò

chưa/ không nhiễm bệnh từ Âu Châu cứu đói người dân CS Bắc Hàn. Cho đến nay, tôi cũng không biết làm cách nào ông được phép mua lại những con bò ấy, tại sao chính quyền Đức cấp giấy phép cho ông và lý do gì một quốc gia CS khắc nghiệt Bắc Hàn lại đồng ý cho một con tàu viện trợ từ một quốc gia Âu Châu cập cảng. Ông chỉ cười và nói rằng, đây là căn bệnh cố hữu của tư bản nhà giàu, họ luôn… sợ chết, mà dân Bắc Hàn có ai chết vì thịt bò ông cứu trợ đâu?

Tháng 5 năm 2013 trong khi cứu trợ người tỵ nạn tại Syrien, 3 thành viên người Đức của ông trong tổ chức “Hội Mũ Xanh” bị phiến quân bắt cóc. Ông không sợ hãi hay nản lòng, không yêu cầu chính phủ can thiệp, không thông tin với báo chí mà tự giải quyết với năng lực và sự khôn khéo của mình. Cuối cùng cả 3 thành viên đã tự giải thoát trở về sau gần 3 tháng bị cầm tù.

Những câu chuyện trên cho người ta thấy rõ được con người nhân đạo quyết liệt của Dr. Rupert Neudeck: cứu sống sinh mạng con người phải cấp tốc tức khắc, không chần chừ do dự, không sợ hãi, không ràng buộc luât lệ, không tính toán hơn thiệt, không câu nệ phương thức, không phân biệt màu da, không phân biệt chính kiến… vì theo ông, tất cả đều là con người, và mỗi người đều có trách nhiệm hỗ trợ và cứu giúp lẫn nhau để cùng chung sống an bình.

Người ta vẫn không giải thích được, từ đâu và tại sao, một con người mang tên Dr. Rupert Neudeck, với đôi mắt luôn luôn suy tư, mũi to sần sùi với bộ râu trắng phau quanh hàm, một con người làm việc không ngừng nghỉ bất chấp thời gian và không gian, một con người lặn lội khắp nơi, bất chấp khó khăn hiểm nghèo… lại là một con người có một cuộc sống khổ hạnh, gầy còm, da bọc xương nặng chưa đầy 50 ký, ăn mặc giản dị, luôn luôn với cái túi xách lòng thòng trên vai, nhưng lại làm được những việc mà ít ai có thể làm được. Nhiều người phỏng vấn ông, ông trả lời: “Nói thật lòng, đây là một câu hỏi duy nhất mà tôi không có câu trả lời”. Nhiều nhà báo đã mô tả ông là “một cụ già trên 70 nhưng mang một thân xác của chàng thanh niên 18… gầy còm ốm đói”.

H6Dr. Neudeck thăm bệnh xá Tân Mỹ do Hội Mũ Xanh xây dựng

Tôi không tài nào quên được lần tháp tùng ông về Việt Nam sửa soạn cho hai dự án xây dựng nhân đạo tại Đồng Tháp Mười và U Minh (2006 và 2007) qua đóng góp tài chánh của cựu thuyền nhân VN tại Đức. Ông chọn hãng máy bay thật rẻ, giờ giấc bất tiện và phải chờ đổi chuyến bay rất lâu. Hành trình Frankfurt-Saigon kéo dài đến hai ngày trời vì phải chờ đổi chuyến bay tại xứ CS Bắc Hàn (Pjöngjang-Bình nhưỡng) 10 tiếng đồng hồ, cộng thêm 3 tiếng vì thời tiết xấu. Ông an ủi tôi rằng ít nhất ông có thì giờ yên tĩnh để đọc và viết sách. Ông với tôi gật gù trên hàng ghế vắng tanh, thay phiên nhau canh chừng mấy túi xách tay trước những cặp mắt cú vọ của bọn an ninh Bắc Hàn làm tôi lo sợ không ít.

Tôi mua cho ông 1 miếng bánh mì kẹp nhỏ hơn bàn tay và 1 ly cola khoảng 20 ml. Họ đòi 12 US cho miếng bánh mì kẹp và 8 US cho ly coca. Tôi hết hồn! Ông vứt trả lại hết, miệng lẩm bẩm “Die Kommunisten! Unglaublich!” (Bọn Cộng Sản! Không thể tưởng tượng nổi!). Ông bỏ đi trước tiếng la hét chửi bới đòi tiền của tên đàn ông bán hàng. Ông mở túi khoe hai ổ bánh mì kẹp của vợ ông gói cho ông đi đường rồi ăn ngon lành. Chúng tôi đến Saigon khoảng 2 giờ sáng, phi trường vắng tanh.

Chúng tôi về nhà của một cựu thuyền nhân Cap Anamur tên M., hiện đang làm thương mại tại đây và cũng là đại diện Hội Mũ Xanh tại VN. Bảy giờ sáng ông đã thức giấc đòi chở lên vùng cao nguyên lúc bấy giờ rất sôi động vì giáo dân Tin Lành nổi dậy chống đối sự đàn áp tôn giáo của chính quyền CS. Anh M. sửa soạn ăn sáng, nhưng ông nhất định lôi chiếc bánh mì kẹp còn lại trong túi xách ra ăn. Khi vừa mở bánh mì ra, tôi thấy có mấy … con gì đó lúc nhúc bên trong vì ông quên vẫn để trong túi xách hầm hơi nóng đã hơn 2 ngày. Ông bình thản nhặt từng con ra, rồi nói với chúng tôi rằng, nhiều người trên thế giới đang đói khát không có mà ăn, mình vứt ra rồi ăn có sao đâu, đừng hoang phí; hơn nữa đây là bánh mì mà bà Christel (vợ ông) đã làm cho ông.

Suốt quãng đường Saigon-Kontum-Gia Lai-Saigon ông không ăn, không uống, mà chỉ xem xét, hỏi han và ghi chép, đến nỗi anh tài xế vừa mệt vừa đói không muốn lái xe nữa. Tôi năn nỉ ông cho dừng lại một quán bên đường, ông vẫn ghi chép rồi chau mày hỏi tôi “Cậu cũng phải ăn hay sao?”. Tất cả chúng tôi mệt lả người và đói khát trong khi ông vẫn… tỉnh bơ, âm thầm ghi chép làm việc. Chỉ 5 ngày ở VN, ông đi từ vùng cao nguyên xuống tận U Minh qua Rạch Giá, Vũng Tàu và đến cả Tòa Thánh Cao Đài, Tây Ninh. Ông muốn nhìn tật mắt những nơi thuyền nhân VN đóng ghe vượt biển năm xưa như Bến Đá, Rạch Dừa, bến Ninh Kiều Cần Thơ, Rạch Giá… Tiếc thay những nơi này không còn như xưa. Tôi chở ông bằng xe gắn máy đi thăm nhà thờ Đức Bà, Chùa Vĩnh Nghiêm… rồi  ngồi ghế đẩu uống nước quán vỉa hè rất thoải mái. Đêm cuối cùng trước khi về lại Đức, anh M. có nhã ý mời ông dùng cơm tối trên một chuyến tàu lớn chạy vòng quanh trên sông Saigon. Ông đi với vẻ miễn cưỡng. Sau chuyến đi anh M. hỏi ông nghĩ sao, ông trả lời không nhân nhượng: “Uổng phí 3 tiếng đồng hồ làm việc, dùng số tiền ấy đi giúp người nghèo đói có phải tốt hơn không!”.

Năm 1986, gia đình ông nhận một chú bé thuyền nhân VN không cha mẹ thân nhân làm con nuôi. Ba năm sau thì được tin người cha ruột của chú bé này vừa được định cư tại Hoa Kỳ và có ý muốn nhận lại con. Ông muốn chính mình đưa chú bé giao tận tay cho gia đình (cha nuôi gặp cha ruột – như ông nói). Tôi liên lạc và thu xếp để ông đi. Người Việt tỵ nạn bên Hoa Kỳ muốn tiếp đón ông như một đại ân nhân thật trang trọng. Cả một phái đoàn người Việt áo quần chỉnh tề với bó hoa thật đẹp. Máy bay đáp xuống, hành khách lần lượt bước ra gần hết nhưng vẫn không ai thấy ông đâu và ai cũng lo sợ nhầm chuyến bay hoặc khả dĩ liệu ông đổi ý vào giờ chót chăng. Bỗng có người thấy một ông già với bộ râu xồm xoàm, gầy đét, quần jean áo bỏ ngoài đang ngồi trong một góc vắng cười đùa nói chuyện với một chú bé VN. Có người đến hỏi ông, ông mỉm cười tự giới thiệu. Lúc đó cả phái đoàn giật mình, đồng loạt cởi bỏ áo vét và cravattes, ngượng ngùng trao ông bó hoa. Ông từ chối mọi phỏng vấn, từ chối mọi tiếp đón để trao tận tay cậu bé cho người cha ruột. Ông từ chối đến khách sạn đòi nghỉ đêm tại nhà cha ruột của cậu bé và trở về lại Đức ngay sáng hôm sau.

H7Dr.Neudeck in Somalia/Phi Châu

Năm 1987 sau khi con tàu Cap Anamur III về Pháp, nhiều đoàn thể tổ chức người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ (sau này là Úc và Canada), đã nhiều lần mời Dr. Rupert Neudeck và một số vị ân nhân khác của thuyền nhân tỵ nạn VN sang Hoa Kỳ để vinh danh, đồng thời quyên góp cho những công tác cứu người vượt biển của ủy ban Cap Anamur và tổ chức Medicins du Monde của Pháp do ông Bernard Kouchner và Alain Deloche lãnh đạo. Dr. Rupert Neudeck luôn luôn từ chối không tham dự mặc dù tôi cố gắng đốc thúc. Ông suy nghĩ khác, vì theo ông, vinh danh là thừa thãi vô ích, ông không thích được vinh danh và ông muốn tôi nói với người Việt bên Hoa Kỳ rằng, nước Mỹ phải có trách nhiệm với thuyền nhân VN và người Mỹ gốc Việt có dư thừa điều kiện và khả năng sao không vận động cho ra một con tàu như ông để tự cứu chính dân tộc mình !!!

H8Dr. Neudeck tại khu vực người tỵ nạn Kurden

Dr. Rupert Neudeck được rất nhiều đài truyền hình, đài phát thanh hay các tổ chức người Đức mời phỏng vấn hoặc diễn thuyết. Ông yêu cầu chuyển tất cả mọi thù lao vào trương mục của Cap Anamur hay Hội Mũ Xanh. Ông từ chối không nghỉ trong khách sạn 5 sao và cũng yêu cầu chuyển chi phí khách sạn cho hai tổ chức của ông. Bất cứ đi đâu trong nước Đức ông đều đi xe lửa và có vẻ thích thú khoe với tôi rằng ông có vé xe lửa bớt 50% nên rẻ lắm. Mỗi lần có việc lên Hamburg hay vùng Bắc Đức ông đều nghỉ đêm trong nhà tôi. Ngại ông không hợp thức ăn VN, tôi mời ông đến nhà hàng. Không những ông từ chối mà còn không cho vợ tôi nấu nướng gì rồi tự xuống bếp, khi thì chọn hộp xúp gà với nui, khi thì ăn miếng bánh mì lát chấm với súp thịt hộp Gulasch và một ly nước suối, nói chuyện dăm câu rồi đi ngủ. Lần nào ông cũng thức giấc rất sớm, uống vội tách cà phê không đường, đem theo một chai nước suối nhỏ, ít lát bánh mì và một trái táo, đủ làm hành trang cho một ngày của ông.

Tôi chở ông đến trạm xe lửa, khi thì đi Bá Linh, khi thì Stuttgart, München hoặc nơi nào đó vì ông liên tiếp có những cuộc hẹn quan trọng. Nhiều lần vào mùa đông, buổi sáng giá rét, ông mượn tôi chiếc áo len để mặc vì vội đi nên quên. Có lần trước khi chở ông đến đài truyền hình ARD, tôi chợt thấy ông choàng chiếc khăn quấn cổ màu xanh của hội đá banh FC Schalke 04. Ông giật mình cởi ra ngay rồi hỏi mượn tôi chiếc khăn khác. Ông bảo có một thanh niên Đức gần nhà ông biết ông là Fan của hội này nên mang đến tặng ông và khi đi ông vơ đại chiếc khăn đó choàng vào cổ. Tôi nghĩ đá banh là sở thích của ông, nhưng ông lại bảo, ông chưa từng đi xem đá banh, kể cả trên truyền hình. Tôi nghĩ sở thích của ông là… “làm việc nhân đạo, cứu giúp người tỵ nạn”.

Một lần khi sửa soạn tổ chức đại hội Cap Anamur tại Troisdorf, ông bảo tôi và một số anh em trong ban tổ chức ghé nhà ông nghỉ đêm. Vì mang sẵn túi ngủ nên chúng tôi xin ngủ trên sàn nhà trong phòng khách. Ông bà và con cái ngủ hết trên lầu. Đang đêm khuya có ai bật đèn, chúng tôi choàng dậy thấy ông mặc quần áo lót trắng cụt ngủn, tay ôm chiếc gối vuông, lum kum lần mò trong ánh sáng ngọn đèn mờ. Ông bảo ông đang tìm chỗ ngủ và nói chúng tôi xích gọn lại cho ông nằm chung, vì tối hôm ấy bà Neudeck cũng rủ một người bạn gái bác sĩ trong Cap Anamur về nhà. Ông bảo ông không thể nằm chung một phòng với cả hai người đàn bà. Trong khi chúng tôi thì thầm với nhau vừa buồn cười vừa thấy kính mến vô vàn một con người nổi tiếng được cả thế giới biết đến, lại bình thường giản dị đến thế… thì ông đã ngáy khò khò ngủ say bên cạnh từ lúc nào. Chắc các anh em này vẫn không thể quên được đêm hôm ấy.

Cũng có lần tôi hướng dẫn một số anh chị em đến nhà ông để bàn họp. Vợ tôi vì đã quen nhà ông nên rủ vài chị đi pha cà phê và nước trà. Gia đình ông vẫn sử dụng bình pha cà phê thời thập niên 80, cái máy cũ rích kêu rồn rột như vòi nước bị nghẹt. Cả một ngăn tủ ly tách hiệu Ikea thì đủ màu, đủ kiểu, đủ cỡ không có cái nào giống cái nào, cứ như ngoài chợ trời. Một chị khệ nệ bưng khay cà phê vừa đi vừa nói tiếng Việt: “Quý vị coi chừng nhé, uống cà phê phải để ý coi chừng bị rách môi đó” vì chị thấy nhiều ly tách bị mẻ miệng.

Tuy thế, ông rất vui tính và dí dỏm.

Một nhà báo Đức hỏi ông tại sao mỗi lần ông xuất hiện thì có hàng trăm người VN xếp hàng nối đuôi nhau muốn chụp ảnh với ông, ông trả lời: “Bạn không biết sao? Tôi là người được chụp ảnh nhiều nhất nước Đức đến nỗi các ông bà chính trị gia phải phát ghen lên đấy!”

Ông kể cho tôi rằng thuở ban đầu, ông có 2 người bạn chính trị gia kiên quyết ủng hộ ông, đó là ông Dr. Ernst Albrecht (thủ hiến tiểu bang Niedersachsen) và ông Johannes Rau (thủ hiến tiểu bang Nordrhein-Westfalen, sau này là tổng thống Đức) và hai chính trị gia chống đối ông mãnh liệt nhất là ông Franz Josef Strauß (thủ hiến tiểu bang Bayern) và ông Holger Börner (thủ hiến tiểu bang Hessen). Ông dí dỏm đại ý rằng, cứ để 2 phe cấu xé nhau đi, mình ở giữa, làm… ngư ông hưởng lợi. Và “cái lợi” đó chính là 11.300 thuyền nhân VN tỵ nạn đã được cứu sống – ông nói.

Khoảng 15 năm trước, trong một lần ghé thăm gia đình ông, bà Christel Neudeck bới trong đống cây cỏ héo ngoài góc vườn nhỏ chỉ cho chúng tôi một đầu người được đúc bằng đồng rất nặng. Một điêu khắc gia nổi tiếng tại Đức vì cảm phục và quý mến ông nên đã khắc và đúc tượng đầu của Dr. Rupert Neudeck và chính tay mang đến tặng gia đình ông bà và bà miễn cưỡng phải nhận. Bức tượng rất đẹp và rất giống ông. Bà Neudeck cũng… dị đoan, thắc mắc nói với chúng tôi rằng, chồng bà vẫn còn sống, sao lại có người mang đến tặng như thế, nên bà đem ra giấu ở góc vườn dưới đám lá khô. Bà bảo chúng tôi mang về nhà và phải hứa khi hữu sự thì phải mang trả lại cho ông… Nhưng thật lòng chúng tôi không bao giờ muốn trả lại cho ông!

H9Dr.Neudeck với chim hòa bình tại Afghanistan

Cách đây vài năm ông bị mổ tim lần thứ nhất. Khi tỉnh dậy ông mới biết vị bác sĩ mổ tim cứu sống ông lại là một thuyền nhân VN được tàu Cap Anamur cứu sống gia đình anh, khi anh mới được 3 tuổi. Ông nắm tay vị bác sĩ này và nói: “Năm xưa tôi cứu sống anh và người VN, năm nay anh cứu sống tôi, như thế người Việt tỵ nạn và  tôi huề với nhau, chúng ta không ai còn nợ nần ai nữa!”.

Ông nhiều lần kể cho tôi những chuyện thật hy hữu với khuôn mặt rạng rỡ thích thú rằng, một lần sau khi dự hội nghị về người tỵ nạn thế giới của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc (UNHCR) tại Hoa Thịnh Đốn, ông gọi một chiếc  taxi. Anh tài xế vừa lái vừa ngoảnh cổ nhìn ông hỏi: “Ông có biết ông Neudeck ở bên Đức không?” Ông cười và trả lời “Ông ta là ai? Tôi không biết”. Anh taxi hơi ngượng nói lại: “Tôi nhìn ông sao giống ông Neudeck quá, ông ấy cứu vớt tôi từ ngoài biển đấy!”.  Cả hai cùng cười… để rồi anh taxi nhất định không nhận tiền ông. Ông nói với tôi: “Thì ra cuốc xe này đáng giá cả một mạng người”.

Một lần khác trên phố Manhattan/New York khi ông đang lững thững đi bộ qua toà nhà World Trade Center (cũ), chợt có một chị từ trong tòa nhà bước ra ôm chầm lấy ông la lớn: “Ông là ông Neudeck-Cap Anamur  phải không? Tôi là Cap Anamur 6 đây, ông nhớ không?”. Lại một anh khác chạy đến nắm tay ông nói: “Kính chào ông Neudeck, tôi Cap Anamur 12 đây”… Ông chẳng hiểu Cap Anamur 6 hay Cap Anamur 12 là gì nhưng vẫn tươi cười trả lời: “Tôi nhớ chứ! Tôi nhớ chứ!”… Ông kể cho tôi rồi hỏi: “Không nhẽ tôi nổi tiếng đến thế sao?”.

Tháng giêng năm 2014, một phụ nữ VN được chọn tham dự chương trình “Wer wird Millionär ?” của Günther Jauch và thắng  được 125.000 Euro. Cô tên là Đinh Quỳnh Anh Rohm, cô và gia đình được tàu Cap Anamur cứu sống năm 1982 khi cô mới 5 tuổi. Dr. Rupert Neudeck vui và hãnh diện lắm. Ông đến thăm vợ chồng cô và đích thân mời gia đình cô đến tham dự lễ kỷ niệm 35 năm con tàu Cap Anamur ngày 09 tháng 8 năm 2014 tại cảng Hamburg. Ông bảo đó chính là nguồn an ủi nhất của ông và gia đình khi ông đã khổ công tranh đấu đem những người tỵ nạn VN này vào nước Đức và ngày nay, họ là những “nhà vô địch thế giới về sự hội nhập”, thành công trên tất cả mọi lãnh vực trong xã hội Đức này.

Có lẽ trong thời gian cuối đời, niềm an ủi thảnh thơi nhất của ông là quây quần đùa nghịch với 5 đứa cháu nội ngoại. Ông không muốn bất cứ ai quấy rầy ông trong thời gian đàn cháu nội ngoại đến thăm  ông. Tôi đã từng chứng kiến cảnh tượng một ông già gầy tong teo gập chân quỳ xuống bò rạp trên sàn làm con ngựa già để đứa cháu 3 tuổi cưỡi quanh nhà. Chính đứa cháu này đã muốn hóa phép cho ông sống lại nhưng không tìm được cây đũa thần – như bà Neudeck rưng rưng kể lại.

Ít người biết được là ông bà Dr.Rupert Neudeck có những liên hệ mật thiết với rất nhiều nhân vật quan trọng và chính trị gia nhiều quyền lực khi xưa và đương thời. Có ai biết rằng sau hai lần tái nhiệm chức vụ thủ tướng nước Đức (2009-2013 và 2013-2017), bà Angela Merkel đều mời ông bà Dr.Rupert Neudeck đến tư gia trò chuyện. Các vị cựu chủ tịch quốc hội Đức như bà Rita Süssmuth và ông Wolfgang Thierse, cựu Tổng Thống Đức ông Johannes Rau (75), đương kim bộ trưởng tài chánh Đức ông Dr. Wolfgang Schäuble, cựu chủ tịch đảng SPD cũng là cựu phó thủ tướng Đức ông Franz Müntefering, cựu phó chủ tịch liên đảng CDU/CSU tại quốc hội Đức ông Arnold Vaatz, cựu giám đốc cơ quan tình báo và bộ trưởng ngoại giao Đức ông Klaus Kinkel… nhiều thống đốc tiểu bang hay cựu bộ trưởng liên bang Đức như ông Dr.Ernst Albrecht (84), bà Sabine Leutheusse-Schnarrenberger, ông Gerhard Rudolf Baum, ông Dr.Norbert Blüm…. và rất nhiều vị khác kể không hết, trong đó phải nhắc đến bà Marion Gräfin Dönhoff (93 sáng lập tuần báo Die Zeit) và ông Karl-Heinz Böhm (86 tài tử điện ảnh Áo, với nhiều hoạt động nhân đạo tại Phi Châu).

H10Ông bà Neudeck và thủ tướng Đức Angela Merkel (2006)

Tất cả đều là bạn bè thân hữu sát cánh bên ông. Ông coi cựu phó tổng thống Đức gốc Việt Philipp Rösler như một người con và rất thích thú khi ông này biết và hiểu rất rành mạch về thuyền nhân tỵ nạn VN. Ông Peter Scholl-Latour (90, nhà báo nổi tiếng, trước đây ủng hộ việc gởi con tàu “Cap Anamur” cứu vớt thuyền nhân VN của Dr. Rupert Neudeck, sau này lại hỗ trợ ông qua mục đích nhân đạo của “Hội Mũ Xanh”), hay ông Günter Grass (88, văn hào với giải Nobel văn chương) cho đến khi qua đời vào tháng 4 năm 2015 cũng đều là bạn đồng hành với ông. Ngay đến ông Aiman A. Mazyek (chủ tịch hội đồng trung ương Muslime tại CHLB Đức) và ông Musa Ataman (chủ tịch cộng đồng Kurden tại Bonn) cũng đã từng cộng tác và ủng hộ ông.

Tôi hẹn gặp lại ông nhân dịp lễ trao giải “Erich Fromm Preis 2016” ngày 6 tháng 4 năm 2016 tại Stuttgart. Đây là lần đầu tiên giải này được trao tặng cho một đôi vợ chồng là ông Rupert Neudeck và bà Christel Neudeck. Ai có ngờ đâu, đây là lần cuối cùng tôi gặp ông. Sức khỏe ông suy sụp thấy rõ. Trong phần diễn thuyết ngày hôm đó, tôi thấy ông ngập ngừng qua dấu hiệu quên trước quên sau. Ông mệt mỏi đi xuống và nói tôi lấy cho ông một ly nước suối. Bà Christel Neudeck thay ông trả lời phỏng vấn của giới truyền thông hoặc cám ơn quan khách đến chia vui cùng ông bà. Trước đó, ngày 30 tháng 1 năm 2016, ông tham dự ngày hội Tết Nguyên Đán Bính Thân của người Việt tỵ nạn tại Bielefeld. Ông cảm thấy mỏi mệt, tức ngực và khó thở nên đi ra khỏi phòng và yêu cầu tôi chở ông về, trong khi chương trình vẫn còn đang tiếp tục. Chính bà Christel Neudeck đã nhiều lần lo lắng và cảnh cáo ông, nhưng ông vẫn nói mình còn rất nhiều việc phải làm.

H11Nụ hôn khi nhận giải “Erich Fromm Preis” tháng 4 năm 2016

Dr.Rupert Neudeck lần đầu tiên bị mổ tuyến tiền liệt (Prostata) khoảng 2 tuần trước lễ khánh thành bia ty nạn thuyền nhân VN ngày 28 tháng 4 năm 2007 tại Troisdorf, nơi gia đình ông cư trú. Ông gắng gượng lững thững một mình lái xe đạp đến tham dự và tuyên bố rằng: “Troisdorf chính là thủ đô của người Việt tỵ nạn tại Đức”.

Cũng hai tuần trước đại hội Công Giáo VN tại Đức kỳ thứ 40 tại Aschaffenburg từ 14 đến 16 tháng 5 năm 2016, ông phải nhập viện mổ tim lần thứ 3 chỉ trong vòng 4. Lần này ông không đến tham dự được năm sau này và nằm hôn mê trên giường bệnh cho đến khi lìa đời lúc 8 giờ sáng ngày 31 tháng 5 năm 2016, hưởng thọ 77 tuổi (1939-2016). Có những lúc ngón tay ông đã cử động, cũng có những lúc ông đã mở mắt nhìn vợ và con cháu mình và gật đầu khi được hỏi ông có muốn nghe nhạc Mozart không. Những niềm hy vọng chợt lóe lên trong sự mong đợi khát khao của gia đình, nhưng ai ngờ đâu đó chỉ như ngọn nến chợt bừng sáng trước khi thật sự lịm tắt. Ông đã thật sự vĩnh viễn ra đi.

Lễ mai táng ông được tổ chức âm thầm và giản dị trong gia đình và thân hữu vỏn vẹn chưa đến 30 người vào ngày 8 tháng 6 năm 2016. Quan tài dành cho ông là 6 miếng ván gỗ thô, không sơn màu, không chạm trổ, không hoa, không nến, nằm cô đơn dưới bậc thềm Cung Thánh trong ngôi nhà thờ nhỏ gần nhà ông. Con cái và thân nhân ông tự khiêng ông đến nơi an nghỉ cuối cùng trong một nghĩa địa nhỏ tại Troisdorf.

Người thân vĩnh biệt ông với từng nắm đất và những cánh hoa dại mọc bên đường. Giữ đúng lời hứa với bà Christel Neudeck trước kia, tôi kính cẩn đặt tượng đồng khắc đầu ông trên mộ.

H12

H13Nơi an nghỉ cuối cùng của một con người suốt đời xả thân cứu giúp đồng loại.

Một tuần sau, ngày 14 tháng 6 năm 2016, Toà Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Koeln và tang quyến tổ chức Thánh Lễ tưởng niệm ông tại Vương Cung Thánh Đường St.Aposteln do Đức Hồng Y Rainer Maria Woelki chủ tế cùng với 12 Linh Mục Việt Nam (đa số đều được tàu Cap Anamur cứu sống trước đây). Gần 2.000 người tham dự, hầu hết là thuyền nhân Việt Nam đến từ các nơi trong nước Đức và các quốc gia lân cận.

Hầu hết các Chùa Việt Nam và các cộng đoàn Công Giáo Việt Nam trên toàn nước Đức đồng loạt tổ chức lễ tưởng niệm và cầu hồn cho ông như một nghĩa cử cám ơn và thương tiếc vị ân nhân đã cứu sống họ và gia đình.

Ngày 25 tháng 6 năm 2016, Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Đức cũng tổ chức Thánh Lễ cầu nguyện cho linh hồn ông tại Thánh Đường St. Hippolitus trong thành phố Troisdorf, nơi gia đình ông cư ngụ, với 9 Linh mục Việt Nam và hơn 500 giáo dân.

Không những người Việt tỵ nạn thương tiếc ông mà người dân Đức cũng bày tỏ lòng quý mến một con người đã thay đổi được bộ mặt của nước Đức qua nhiều hành động khác nhau. Trên một chuyến xe lửa trong thành phố Koeln ngay trong ngày lễ tưởng niệm ông (14.6.2016) có người đã viết trên 1 toa xe dòng chữ “R.I.P. Rupert Neudeck” (Rest In Peace – Rupert Neudeck – Yên Nghỉ Trong An Bình).

H14

Một tấm hình khác xuất hiện trên Internet cho thấy hình con tàu nhân đạo Cap Anamur được xâm trên đùi một thanh niên Việt Nam như một ghi nhớ con tàu này đã cứu sống anh.

H15

Dr. Rupert Neudeck ra đi với nhiều ước mơ chưa trọn vẹn. Ông ước mơ một thế giới an bình không chết chóc chiến tranh. Ông ước mơ tiếp tục cứu giúp người tỵ nạn trên thế giới. Ông ước mơ ngày nào đó sẽ chạy Marathon trên suốt giải Gaza tại Palestine. Ông ước mơ đi trên chuyến xe lửa xuyên hết đất nước Sudan. Ông ước mơ học tiếng Việt và tiếng Ả Rập và ông ước mơ mình sẽ sống tại Phi Châu trong những tháng năm cuối đời….

Kính thưa ông Dr.Rupert Neudeck,

Cho dù bây giờ ông có thể sống tại Phi Châu hay Palestine, hay trên bất cứ đất nước nào như trong mơ ước của ông, nhưng có một điều chắc chắn rằng, ông vẫn còn sống mãi trong lòng những người tỵ nạn VN chúng tôi và tất cả mọi người trên thế giới.

Để tưởng nhớ Dr. Rupert Neudeck

Hamburg, tháng 7 năm 2016

%d bloggers like this: