• BÌNH LUẬN

    Ẩn danh trong Cuộc đổ bộ vào Normandy ( vừa…
    Nguyên Huy Dược trong Làng Cổ Nhuế ( một bài viết rấ…
    flyluxurydream trong Người sót lại của nghề thuyết…
    hungdung trong Làng Cổ Nhuế ( một bài viết rấ…
    minh trong CHUYỆN VUI VỀ NGÀY ĐÀN ÔNG ( 3…
    vivi099 trong Xét xử tập đoàn tội ác phát xi…
    vivi099 trong Luật và thực thi luật ở Việt N…
    Eel trong Nước mắt Trần Ngọc Sương
    Cheyenne trong Tô Hoài – Nhìn từ một kh…
    Pokey trong Vũ Hữu Định(1942-1981), đường…
  • TOP RATED

  • LƯU TRỮ

  • Bài & Trang được đáng chú ý

  • A CALENDAR

    Tháng Chín 2019
    H B T N S B C
    « Th6    
     1
    2345678
    9101112131415
    16171819202122
    23242526272829
    30  
  • WELCOME - pageviews

    • 223 277 hits
  • Advertisements

NGẠN NGỮ VỈA HÈ THỜI XƯA ( st – rảnh đọc cho vui )

“HẾT SẨY” HÀ NỘI THỜI BAO CẤP
Những câu nói của Hà Nội “một thời đạn bom-một thời hòa bình” đã dần đi vào quên lãng, xin cùng các bạn ghi lại đây để có ai quan tâm thì hoài niệm: Tiếp tục đọc

Advertisements

Vì sao tôi phải bỏ Toán?

Diễn đàn Vì sao tôi phải bỏ nghề toán

TS. Mai Huy Tân

Sau các bài “Vì sao bổ đề cơ bản?”và “Hiệu ứng Ngô Bảo Châu”, TBKTSG nhận được bài viết chia sẻ về cuộc sống của người làm toán ở Việt Nam từ những chiêm nghiệm cá nhân của TS. Mai Huy Tân, cũng là một độc giả thường xuyên của TBKTSG.

Thời kỳ 1966-1988: 22 năm học toán và làm toán Khi tôi còn là học sinh cấp 3 ở Hà Nội, Việt Nam chưa có lớp chuyên toán. Tôi nhớ khi đó tôi được trường phổ thông 3A Hà Nội chọn và cho đi dự ngoại khóa toán một số chuyên đề dành cho học sinh giỏi như: “hình học phi Ơclit” (do thầy Lê Văn Thiêm giảng) hay chuyên đề “Nhập môn lý thuyết tập hợp” (do cô Hoàng Xuân Sính giảng). Năm 1966, tôi vào học năm thứ nhất, khoa toán, Đại học Tổng hợp Hà Nội, nhưng khi đó do chiến tranh phá hoại, nên trường sơ tán tại huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái (nay là Thái Nguyên). Cũng năm đó, GS. Tạ Quang Bửu, khi đó là Bộ trưởng Bộ Đại học và THCN cho thành lập các lớp phổ thông chuyên toán thuộc khoa toán, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tôi vẫn còn nhớ một vài bạn học sinh phổ thông chuyên toán đầu tiên thời ấy cũng học ở nơi sơ tán, như bạn Nhung, bạn Kiếm, bạn Hùng, bạn Quát, bạn Thi… Các bạn đó sau khi tốt nghiệp phổ thông, có người được đi học đại học ở nước ngoài, nhưng phần lớn đều trở thành sinh viên khoa toán, Đại học Tổng hợp ở nơi sơ tán như tôi. Suốt những năm học toán ở Đại Từ, sinh viên không biết tới đèn điện là gì, ăn sáng trước khi lên lớp là một thứ xa xỉ mà sinh viên ít khi dám mơ tới, thầy và trò học toán cao cấp dưới mái tranh tre nứa lá. Hồi ấy, cũng trong điều kiện gian khổ của chiến tranh, chúng tôi còn được nghe GS. Grothendieck, nhà toán học người Pháp đoạt giải thưởng Fields, giảng về lý thuyết Topo đại số, mà trên đầu ông vẫn đội chiếc mũ rơm do GS. Lê Văn Thiêm tặng (ông chấp nhận lời mời của Việt Nam sang trao đổi toán học và giảng dạy toán tại Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh rất ác liệt)… Giờ đây, tôi vẫn ghi nhớ công ơn các thầy Lê Văn Thiêm, Hoàng Tuỵ, Phan Đức Chính, Hoàng Hữu Đường và các thầy khác đã dạy chúng tôi nên người. Và tôi vẫn cho rằng tiền bạc, cơ sở vật chất là quan trọng, nhưng không phải yếu tố quyết định hàng đầu đến chất lượng giáo dục, mà là THẦY và TRÒ. THẦY giỏi, yêu nghề và hết lòng vì học sinh, TRÒ chăm chỉ, say mê khoa học mới là những yếu tố quan trọng nhất và quyết định nhất. Sau khi tốt nghiệp cử nhân toán của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1970, tôi được nhận công tác tại Phòng Toán kinh tế – Bộ Điện và Than. Ngay khi mới ra trường, tôi đã theo chân các bậc đàn anh như anh Thái, anh Thiều hăng hái xuống thực tế để làm các đề tài nghiên cứu toán ứng dụng như: xây dựng các hàm sản xuất trong điều độ tại mỏ than Cọc Sáu, sơ đồ PERT trong đại tu lò hơi nhà máy điện Yên Phụ… Một số nghiên cứu ban đầu còn đang dở dang thì tôi nhập ngũ vào tháng 9-1971, tham gia mặt trận Quảng Trị 1972, và công tác tại Cục Quản lý xe máy, Tổng cục Hậu cần – Bộ Quốc phòng từ năm 1973. Lúc đó, cũng như ông Ngô Huy Cẩn (thân sinh GS. Ngô Bảo Châu), các cán bộ khoa học, dù là cử nhân hay tiến sĩ, đều gia nhập quân đội với lon binh nhì và phụ cấp 5 đồng một tháng. Khi tôi còn ở trong quân ngũ, Cục trưởng Cục Quản lý xe Vũ Văn Đôn đã gọi tôi đến để trình bày xem ứng dụng toán kinh tế như thế nào. Rồi tôi cũng đề xuất và được cử đi làm đề tài ứng dụng toán kinh tế trong hợp lý hóa chi phí sửa chữa xe máy tại nhà máy Z151… Sau khi rời quân ngũ, tôi được trở về công tác tại Phòng Toán kinh tế – Bộ Điện & Than.

Thời kỳ đó, toán kinh tế rất được chú trọng, đặc biệt trong nghiên cứu và ứng dụng. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cho thành lập Viện Toán kinh tế trực thuộc Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Viện điều khiển học, trong đó có điều khiển học kinh tế, cũng được thành lập. Chúng tôi thường hăng hái say mê tham dự các seminar khoa học ở Viện Toán học, Viện Toán kinh tế, Viện Điều khiển học… Các đề xuất nghiên cứu ứng dụng như: ứng dụng toán học trong cân bằng năng lượng, xây dựng các hàm sản xuất phục vụ cân đối dây chuyền khoan – nổ – xúc – tải ở các mỏ than lộ thiên… đều được Bộ Điện & Than tạo mọi điều kiện để các cán bộ toán kinh tế trẻ tuổi chúng tôi nghiên cứu triển khai. Rồi sau đó tôi thi đỗ nghiên cứu sinh và được cử sang làm luận án tại Trường Đại học Tổng hợp Martin Luther, thành phố Halle, CHDC Đức. Bộ môn toán ứng dụng trong kinh tế của trường này (thuộc Khoa Kinh tế) do GS. Lassmann là chủ nhiệm bộ môn, ông cũng là người thầy trực tiếp hướng dẫn luận án cho tôi. GS. Lassmann có quan hệ khoa học mật thiết với GS. Toán học Leonid Kantorovich, Viện sĩ Viện hàm lâm khoa học Liên Xô (ông là Giáo sư toán nhưng được trao giải thưởng Nobel kinh tế vì những công trình toán ứng dụng cho nghiên cứu kinh tế). Tôi có vinh dự được gặp Giáo sư Viện sĩ Kantorovich trong một hội nghị khoa học về toán kinh tế ở CHDC Đức do GS. Lassmann tổ chức. Năm 1986, tôi bảo vệ luận án tiến sĩ với đề tài “Các phép toán tối ưu ứng dụng trong lập kế hoạch sản xuất xí nghiệp công nghiệp…” và được hội đồng khoa học chấm điểm Summa cum laude (xuất sắc). Do đó, GS. Lassmann đã đề nghị với Đại sứ quán Việt Nam để tôi được làm tiếp Habilitation (tiến sĩ khoa học), nhưng tiếc là lời đề nghị này không được đáp ứng, và tôi trở về nước năm 1986. Khi đó Phòng Toán máy tính Bộ Điện & Than đã không còn nữa sau những lần thay đổi tổ chức. Tôi đã thử tìm cách xin về Phòng Toán kinh tế thuộc Uỷ ban phân vùng kinh tế Nhà nước để có điều kiện tiếp tục các hoạt động nghiên cứu ứng dụng toán kinh tế, nhưng nguyện vọng này không được chấp nhận, vì Bộ Đại học nhất quyết phân công tôi trở về nhận công tác tại Bộ Năng lượng, là nơi đã cử tôi đi nghiên cứu sinh.

Thế là tôi chấp hành sự phân công của tổ chức và nhận công tác tại Trung tâm Thông tin KHKT, Bộ Năng lượng, với nhiệm vụ chính là dịch thuật và chọn lọc thông tin. Sau đó, tôi cố đề xuất và được Bộ giao cho chủ trì một đề tài khoa học “Ứng dụng các phương pháp toán kinh tế để xây dựng và lượng hóa mối tương quan giữa giá điện, giá than với giá các sản phẩm chủ chốt khác của nền kinh tế quốc dân, làm cơ sở xây dựng chính sách giá năng lượng”. Đề tài được nghiên cứu hơn một năm, nhưng rồi kết quả cũng bỏ đấy, vì không có khả năng ứng dụng. Năm 1988 là một thời điểm rất khắc nghiệt của giai đoạn đầu thời kỳ đổi mới. Tại cơ quan tôi công tác, Bộ cắt bớt một nửa quỹ lương, nên cơ quan phải tự làm kế hoạch 3 để lo lương cho một nửa số cán bộ còn lại. Với ý thức tự trọng của một nhà khoa học và tâm đắc với lời kêu gọi “hãy tự cứu mình trước khi trời cứu” của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, tôi tự nguyện xung phong vào số phải tự lo lương bằng các hoạt động khác, đương nhiên là “phi toán học”. Thời kỳ 1988 đến nay: 22 năm bỏ nghề toán, theo các nghề phi toán học Hoạt động đầu tiên của tôi là dịch thuật và xuất bản sách. Nhờ các kiến thức và khả năng ngoại ngữ nên những cuốn sách đầu tiên về marketing, kinh tế thị trường hay tin học đều bán chạy, mang lại doanh thu và lợi nhuận. Nhưng rồi Bộ Năng lượng cũng không còn tồn tại nữa khi sáp nhập với các bộ khác thành Bộ Công nghiệp.

Tôi lại phải tự tìm lấy chỗ đứng của mình khi cùng với một số bạn bè trí thức học ở Đức về tự lập ra Trung tâm giao lưu Việt – Đức về văn hóa, ngôn ngữ và công nghệ (ZKST). Trung tâm này đã chủ động thiết lập quan hệ với Đại sứ quán CHLB Đức, Viện Goethe ở Munich, Viện Max Planck và nhiều tổ chức khoa học, trường đại học của Đức, qua đó đã triển khai được nhiều hoạt động giao lưu văn hóa khoa học mà không cần lệ thuộc vào nguồn ngân sách nhỏ bé của cơ chế xin – cho. Dần dần mạng lưới quốc tế mà tôi kiên trì từng bước xây dựng đã dẫn tôi tới một nghề mới: tư vấn đầu tư cho các công ty của Đức ở Việt Nam (Mercedes Benz: công nghiệp ô tô, FER: công nghiệp phụ trợ, PETKUS: công nghiệp xử lý hạt giống và xử lý nước thải…). Quá trình tư vấn đầu tư, cũng là quá trình học hỏi kinh nghiệm phong phú của các nhà quản lý Đức, đã dẫn tôi tới một nghề mới: nghề kinh doanh và tự mình trở thành doanh nhân.

Năm 2000, tôi cùng một vài người bạn (Đức và Việt Nam) lập ra Công ty TNHH Đức Việt và bắt đầu thử nghiệm sản xuất xúc xích Thueringen của Đức. Sự thành công ban đầu đã dẫn tới sự ra đời của Công ty liên doanh Đức Việt với một nhà máy chế biến xúc xích ở tỉnh Hưng Yên. Năm 2008, chuyển thành Công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt chuyên sản xuất và cung cấp thực phẩm sạch, trong đó có các loại xúc xích Đức với thương hiệu “THỰC PHẨM ĐỨC VIỆT” nhiều năm được bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao, được trao Cúp Tự hào thương hiệu Việt và Danh hiệu Sao Vàng Đất Việt.

Thay lời kết Qua câu chuyện kể về 22 năm học toán và làm toán, rồi 22 năm phải bỏ nghề toán và nhiều lần chuyển nghề, chắc các bạn cũng có thể chia sẻ suy tư của tôi về nguyên nhân các nhà toán học ở Việt Nam lại gặp nhiều khó khăn đến vậy trong phát triển nghề nghiệp của mình, cả trong nghiên cứu lý thuyết lẫn trong nghiên cứu ứng dụng. Vào dịp kỷ niệm 50 năm khoa toán cơ tin học, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (tức khoa toán Đại học Tổng hợp Hà Nội trước đây), GS. TSKH. Phạm Kỳ Anh, Chủ nhiệm khoa, có đề nghị tôi phát biểu và đọc báo cáo tại lễ kỷ niệm tổ chức ở Nhà hát lớn Hà Nội. Tôi ngại ngùng từ chối vì đã bỏ nghề toán lâu rồi. Nhưng GS. Phạm Kỳ Anh nói rằng, chính đặc điểm đó của tôi là lý do ông muốn mời tôi phát biểu với hàm ý rằng người học toán, có tư duy toán học, có thể thành công không những trong lĩnh vực toán học, mà còn cả trong những lĩnh vực khác, ví dụ kinh tế hoặc kinh doanh. Còn GS. Phan Văn Hạp (nguyên Chủ nhiệm khoa Toán Đại học Tổng hợp Hà Nội) thì nói đùa rằng: khoa ta có hai Đức Việt, anh Hồ Đức Việt nay là Ủy viên Bộ Chính trị, còn anh Tân Đức Việt là doanh nhân sản xuất xúc xích. Cuối cùng tôi muốn nhắn nhủ một điều với các bạn trẻ: hãy yêu toán, học giỏi toán thì các bạn nhất định sẽ thành công trong cuộc sống.

_____________________________________________________________ (*) Chủ tịch HĐQT & Tổng giám đốc Công ty cổ phần Thực phẩm Đức Việt Chia sẻ với bạn bè: Hãy yêu toán, học giỏi toán thì các bạn nhất định sẽ thành công trong cuộc sống Thutmt Tôi cũng là một người đam mê toán học và đã từng có ước mơ trở thành nhà nghiên cứu toán học. Tôi đã không theo đuổi ước mơ của mình vì tính thực dụng và sức khỏe kém. Khi đọc những lời GS Phạm Kỳ Anh nói với TS Mai Huy Tân: “Người học toán, có tư duy toán học, có thể thành công không những trong lĩnh vực toán học, mà còn cả trong những lĩnh vực khác”.

Tôi rất tâm đắc với ý kiến trên của giáo sư. Trước giờ, tôi vẫn luôn cho rằng nhờ học tốt môn toán hồi phổ thông mà tôi có tư duy tốt, có khả năng suy luận, phán đoán và toán học đã giúp tôi rất nhiều trong công việc và cuộc sống. Khi các phụ huynh (là bạn bè hay người quen của tôi) than phiền rằng chương trình giáo dục mình quá nặng về khoa học cơ bản, bắt học sinh học toán nhiều làm gì, nào ở bên Mỹ người ta có chú trọng học toán nhiều như ở Việt Nam… Những lúc đó tôi đều phản bác lại ý kiến đó, tôi đưa ra lập luận những người học toán giỏi đều có tư duy tốt, học toán phải suy nhiều, lập luận nhiều, khiến người học có thói quen tư duy,…

Một khi một người đã có tư duy tốt sẽ giúp ích rất nhiều trong học ngành nghề khác, trong nghiên cứu lĩnh vực nào đó, trong công việc, trong công việc; nhờ vậy họ tổ chức công việc tốt hơn và dễ dàng thành công trong cuộc sống; Anh học toán giỏi không nhất thiết để trở thành nhà toán học, nhưng học toán giỏi sẽ giúp anh rất nhiều trong công việc và cuộc sống… Vì niềm đam mê toán học, tôi thường xuyên khuyến khích các bạn nhỏ học toán với lý do bạn học toán để có tư duy tốt. Cuối cùng tôi lặp lại lời của TS Mai Huy Tân nhắn nhủ với các bạn trẻ: “Hãy yêu toán, học giỏi toán thì các bạn nhất định sẽ thành công trong cuộc sống”.

Chuyến đi – P1

Lái xe của Ánh dương tourism

Đoàn Viện Phim trên xe

Mệt... ngủ

Qua Thanh Hóa - xứ Dừa

Đến Viếng các liệt sỹ hi sinh tại Đồng Lộc chiều 24 - 7 - ngày giỗ sau 42 năm, 10 nữ TNXP hi sinh

Trước của hàng bán đồ kỷ niệm

THÁNH ĐỊA MỸ SƠN

Hồ Đắc Duy – THÁNH ĐỊA MỸ SƠN 

 Cách Hội An 42 Km và cách Trà Kiệu khoảng 30 Km về phía tây có một thung lũng nhỏ đường kính ước chừng 2 Km đó là thánh địa Mỹ Sơn , nó nằm gọn giữa những ngọn núi bao quanh và chỉ có một lối vào duy nhất là theo con đường độc đạo nằm giữa hai quả đồi , hai quả đồi này tạo thành hai cái trạm gát , một cái chốt phòng ngự cao khoãng 30 mét và một con suối nằm chắn ngang trước mặt con đường vào thung lủng như một chiến hào sâu và rộng gây thêm một chướng ngại cho những ai muốn vào khu vực thánh địa , một thứ chiến lủy của thiên nhiên sẵn có , con suối chảy quanh co theo sườn núi phía bắc , rồi đâm thẳng vào phía trung tâm , sau đó nó chạy vòng quanh tạo thành một thủy lộ lưu thông cho toàn bộ khu vực này trong mùa mưa và chỉ cần một cái đập nhỏ chấn ngang dòng suối thì sẽ là lý tưởng , hình như con suối này ăn thông với một nhánh của sông Vu Giang , Thu Bồn… Sau khi băng qua suối đi dọc theo một con đường ngoằn nghèo khoảng 3 Km thì đến khu vực với các công trình kiến trúc quan trọng nhất của nền văn hóa vương quốc Champa

 Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT ) có ghi lại một số sự kiện liên quan đế sư hình thành của vương quốc champa , kinh đô Trà Kiệu và thánh dịa Mỹ Sơn ĐVSKTT trang 158 : ” năm 137 người man ở huyện Tượng Lâm , quận Nhật Nam là bọn Khu Liên đánh phá quận huyện giết trưởng lại , năm 138 Thị Ngự sử Giả Xương cùng quân các châu huyện hợp lại đánh Khu Liên không được , bị Khu Liên vây đánh hơn một năm….. ” Khu Liên được xem như vị vua đầu tiên của Lâm Ấp hay còn gọi là Vương quốc Champa sau này ĐVSKTT trang 173 : ” Năm 399 vua Lâm Ấp là Phạm Hồ Đạt đánh lấy Nhật Nam và Cửu Chân rồi vào cướp Giao Châu ” Kinh đô của Lâm Ấp bấy giờ là Trà Kiệu Năm 420 Tuệ Độ đánh Lâm Ấp phá được chém giết đến quá nửa , Lâm Ấp xin hàng…Lần đầu tiên Kinh đô Trà Kiệu và Thánh địa Mỷ sơn bị xâm chiến Năm 432 Vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại sai sứ sang cống nước Tống xin cai trị Giao Châu… Năm 436 Hòa Chi hạ thành Khu Túc, chém Phù Long , thừa thắng tiến vào Tựơng Phố ( Trà Kiệu ) đây là lần thứ hai Thánh địa Mỹ Sơn bị chiếm ĐVSKTT trang 222 chép : ” Năm 982 Vua Lê Đại Hành thân đi đánh Chiêm Thành chém chế vua Chiêm tại trận. Chiêm Thành thua to , bắt sống của chúng nhiều vô kể , cùng các kỷ nữ trong cung trăm người và mộ nhà sư người Thiên Trúc , lấy các đồ quí đem về thu được vàng bạc châu báu vô kể , san phẳng thành trì , phá hủy tông miếu , vừa một năm thì trở về kinh sư … ” đó là lần thứ ba khu Thánh địa này bị tàn phá và về sau các Vua Lý Thái Tông , Lý Thánh Tông đánh chiếm Chiêm Thành nhiều lần nữa Những nghiên cứu của các nhà khảo cổ cho biết Thánh địa này xây dựng từ thế kỷ thứ IV và liên tục được trùng tu , phát triển và xây mới thêm những đền tháp cùng các pho tượng điêu khắc bàng đá khác cho đến thế kỷ thứ XIII mới chấm dứt

 

 Theo Đai Nam Nhất Thống Chí (ĐNNTC) quyển 2 trang 332 thì vùng đất Quảng Nam – Trà Kiệu – Mỹ Sơn thì xưa là đất Việt Thường thị ; đời Tần thuộc Tượng quận , đời Hán là bờ cỏi quận Nhật Nam; đời Đường thuộc Lâm Ấp; đời Tống thuộc Chiêm Thành là đất Châu Lý và Chiêm Động, Nước ta đời Trần năm 1306 gọi là châu Hóa ; năm Hồng Đức thứ nhất ( 1470 ) Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục trang 1104 ghi : ” Vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành , mở rộng đất đai đến núi Đá Bia đặt tên Thừa Tuyên Quảng Nam và tên Quảng Nam có từ ngày đó (Tháng 6 năm 1472) Trong ĐNNTC có ghi về phần cổ tích có ghi Thành cổ Hoàn Vương (Trà Kiệu) ở huyện Diên Phước tục gọi là Vệ Thành , tương truyền ngày xưa Hoàn Vương đóng đô ở đấy.Ba mặt thành , trước ,tả ,hữu bị xói lở chỉ còn góc phía tây bắc hiện nay vẫn còn ; về tháp cổ Chiêm Thành ở huyện Diên Phước có hai cây tháp nay dều đổ nát , một tháp đổ xuống thành gò ước hơn một mẫu….và còn mô tả một số tháp có trong tỉnh nhưng không có chỗ nào trong sách mô tả phong cảnh và tháp miếu như ở Mỹ sơn mà chỉ nói ở Khương Mĩ là có ba tòa liền nhau cao 80 trượng , phía trên có lỗ thông thiên , phía trong có tượng đá ,nay đã đổ nát , tương truyền đây là chổ táng vợ vua Chiêm Thành Hiện tại Thánh địa Mỹ Sơn là quần thể kiến trúc phong phú và đa dạng nhất của nghệ thuật Champa vể đền tháp , văn bia , tượng , điêu khác trên đá và trên gạch Lịch sử phát triễn của Thánh địa Mỹ Sơn có lẽ là song song với sự xây dựng , hoàn thiện kinh đô Trà Kiệu trong một tổng thể không thể thiếu được trong nền văn minh , văn hóa Á đông nhất là văn minh Champa là : Kinh đô – Lăng Miếu , Thánh địa , Đền đài để thờ cúng các tiên vương , chư thần… Trong một bi ký cho biết chính vua Bhadravarman đệ nhất là người khởi công xây dựng thánh địa này với những giòng như sau : ” Ngài đã cúng dâng cho thần Bhadresvara một khu vực vĩnh viễn , phía đông la núi Sulaha , phía nam là núi Mahaparvata , phía tây là núi Kusala , phia bắc là núi…làm ranh giới . Ngài cũng cúng dâng cho thần tất cả các ruộng đất và cư dân trong phạm vi đó, hoa lợi cũng được dâng cúng cho thần…..Nếu có kẻ nào dùng vũ lực để chiếm đoạt hay phá hủy ruộng đất này thì nhân dân không phải tội, mà tội lổi sẽ dành cho kẻ đó…. “

 

 Có bao nhiêu lối đi vào bên trong khu vực thánh địa hay vào một quần thể tháp Champa , có hay không ? một lối đi vào trực diện với cửa chính của tháp đến nay vẫn còn là một điểu bí ẩn , hầu hết các tháp đều quay mặt về phía đông , hướng của mặt trời và của thần linh , khi quan sát người ta thấy chỉ có một lối đi vào bên hông hay mặt sau của tháp mà thôi Từ một vị trí cao nhất trong thung lủng để quan sát hết quần thể kiến trúc của Thánh địa Mỹ Sơn ta có thể phân chia các di tích , các tháp theo kiểu phong thủy của nền văn minh Châu Á người ta thường chọn hướng Đông Tây làm trục chính , Nam Bắc làm trục phụ , gò cao , thế núi và mạch sông làm chuẫn trong việc thiết kế xây dựng kinh đô , lăng miếu , đền đài , nhà cửa… Trong thung lủng có hai ngọn đồi , ngọn phía đông cao hơn ngọn phía tây hai ngọn đồi này đối diện nhau ở điễm trung tâm ngã tư của một con suối , các nhánh của con suối này bao bọc 4 khu vực trong Thánh địa. Khu A : gồm các tháp và di tích nằm trên ngọn đồi phía đông Khu B : gồm các tháp và di tích nằm ngọn đồi về phía tây Khu C : gồm các tháp và di tích nằm phía nam , có hai khu C1 và C2 Khu D : gồm các tháp và di tích nằm phía bắc Cách phân chia này phù hợp với địa thế phong thủy , tránh được tình trạng xé lẻ từng mảnh vụn của tổng thể kiến trúc của mỗi tháp mà trước đây nhà khảo cổ học người Pháp ông H.Parmentier đã công bố năm 1904 Khu A có 5 kiến trúc : 1 tháp chính và 4 tháp phụ Khu B có 4 kiến trúc : 1 tháp chính và 3 tháp phụ ? Khu C chia làm C1 và C2 , C1 nằm phía đông được bao quanh bằng một con suối gồm có 16 kiến trúc (4 kiến trúc nằm rải rác bên ngoài và 12bên trong) : 2 tháp chính với 8 tháp phụ , 1 tháp chính và 2 tháp phụ đi kèm cùng một số tượng điêu khắc bằng đá C2 nằm phía tây gồm có 26 kiến trúc ( 6 ngoài và 20 trong ) : 3 tháp chính và 12 tháp phụ cùng với một số tượng , phù điêu cùng các tác phẫm điêu khắc , bi kí bằng đá mang tính tôn giáo Khu C là khu vực có nhiều tháp và các tác phẫm điêu khắc nhất Khu D có 12 kiến trúc ( 1 ngoài và 11 trong) : 2 tháp chính , và 4 tháp phụ ,trong đó có 1 tháp chính không có tháp phụ đi kèm ? cùng một số tượng điêu khắc bằng đá Tất cả là 46 kiến trúc có thể đếm được trong khoảng ước chừng 70 kiến trúc của Thánh địa này Quan sát một số tháp , di chỉ tiêu biểu mà hiện nay (năm 2003 ) còn lại trên thực địa Khu A : gồm 5 kiến trúc nằm trên ngọn đồi phía đông là ngọn đồi cao nhất trong thung lủng , có một tháp chính và 4 kiến trúc phụ trong đó có một tháp nhỏ để đựng bi kí nằm ở giữa , một thủy tháp , một hỏa tháp và nhà bày mâm dùng để sửa soạn đồ tế Tháp chính có hai cửa theo hướng đông tây , ở mỗi cửa có 8 bậc cấp để đi lên , ở mỗi cửa đều có vòm cuốn Núi Kasula Thánh địa Mỹ Sơn Ô Vuông điêu khắc hình Dương Vật Mặt nạ điêu khắc hinh Sư tử Các vật trang trí quanh tháp chất liệu xữ dụng toàn là gạch và đất nung không bằng sa thạch như ở tháp khác Đặt biệt , tiêu biểu và khá độc đáo nhất là cách trang trí ở chân tháp , mỗi góc của chân tháp có một con sư tử đực vóc dáng cực kỳ dũng mãnh bằng đá có kích thước khá lớn trong tư thế chống đở các góc tháp , quanh chân tháp được trang trí bằng những hàng mặt nạ gồm các ô vuông bằng đất nung cùng một kích thuớc và cùng một chủ đề là mô tả dương vật bằng hình ảnh thật mà không cách điệu như bộ Linga – Youni mà ta thường thấy , mổi ô là một tác phẫm điêu khắc rất tinh tế , sắc sảo , đầy ấn tượng với dương vật ngắn , hai tinh hoàn to và tròn , qui dầu tròn đỉnh nhọn , mạnh mẽ đầy sinh khí Mặt nạ nầy cũng có thễ nhìn theo một cách khác đó là mặt của một quái vật mắt lồi , mũi to , môi trên xếch lên , nhe răng dáng dấp của sư tử , mỗi ô vuông là mỗi tác phẫm điêu khắc rất sinh động và hấp dẫn, không có cái nào giống cái nào  Nếu chỉ tách riêng phần sống mũi và hai cánh mũi của quái vật để so sánh với một Linga ở khu D thì khuynh hướng thiên về hình ảnh của Linga không cách điệu dể dàng đựơc chấp nhận hơn , thế nhưng giải thích đó là mặt nạ của mặt sư tử theo như vùng đất mang tên Shimhapura thì cũng là một điều thú vị , bởi Shimhapura là Trà Kiệu hay còn gọi là thành phố sư tử Khu A có thể được xem như là khu vực linh thiêng nhất nó mô tả toàn bộ triết lý của vương quốc và dân tộc Champa hay chỉ riêng vùng đất Shimhapura Các biểu tượng sư tử hay về bộ phận sinh dục nam và nữ được các nhà điêu khắc và các nghệ sĩ cổ đại Champa sáng tác theo hình ảnh thật chứ không cách điệu như các tác phẫm ơ nơi khác , hình ảnh bộ phận sinh dục được thờ phượng rất trân trọng ở nơi đây , ngoài ra Khu A là một trong toàn bộ một tổng thể kiến trúc mang tính chất triết lý và thờ phượng đặc sắc nhất của nghệ thuật sử dụng gạch và đất nung để trang trí trên tháp của dân tộc Champa trong thời kỳ vàng son của vương quốc này . Một số trong các tác phẫm bằng đất nung vẫn còn vẽ đẹp sắc sảo , với các nét đặc thù của nó, mặc dù nó đã trải qua phơi mình giữa nắng mưa suốt gần 1500 năm mà vẫn không hề hấn gì , phần còn lại của toàn cảnh thánh địa Mỹ Sơn điêu tàn , thê lương như nhận xét cách đây hơn một thế kỷ rửơi của sách Đại Nam Nhất Thống Chí

 HỒ ĐẮC DUY Tham khảo 1/ Du ký đường Trường Sơn 2/ Đại Nam Nhất Thống Chí 3/ Mỹ Sơn trong lịch sử nghệ thuật Chăm của Trần Kỳ Phương 4/ Đại Việt Sử Ký Tòan Thư 5/ Mỹ Sơn sanctuary 6/ The Cham sculpture museum Đà Nẳng

Câu chuyện bóng đá làng

Bóng đá nông thôn - ảnh sưu tầm

Bóng đá ở các làng quê cũng là một món giải trí rất hấp dẫn cho thanh thiếu niên, nhi đồng. Đặc biệt với thiếu niên thì nó là món  hay hơn đánh đáo, đánh bi, đánh cẩy…Hay hơn, nhưng việc chơi bóng phức tạp hơn, nên món này không diễn ra thường xuyên như các món chơi ít người đơn giản kia

Còn nhớ, thập niên 1960,  lứa thiếu niên, nhi đồng thường chơi bóng trên bãi cỏ hay sân kho hợp tác xã. Đội hình thì có nhiều chơi nhiều, có ít chơi ít. Kỹ thuật thì chỉ cần đá cho khỏe cho nhanh, dẫn và chuyền bóng cho giỏi và sút cho mạnh cho trúng vào gôn; không dùng tay, không việt vị  là được. Giỏi hơn thì biết lật cánh đánh đầu, ranh ma hơn thì cũng biết diễn vở” ăn vạ”… Đứa  nào đứa ấy mồ hôi mồ kê nhễ nhại đầm đìa, hò hét vang trời, văng tục chửi thề  hết cỡ. Thắng thua cãi nhau còn hơn vỡ chợ mổ bò. Các trận lớn, nghĩa là có tổ chức một chút thì mới có bóng da hoặc bóng cao su; các trận bé ít người  – tùy hứng rủ nhau thì thường chỉ có bóng gói bằng lá chuối khô. Quả bóng to chừng  hơn đầu gối người lớn toàn là lá chuối khô được bó bằng sợi dây cũng bằng bẹ chuối khô. Có đứa bó khéo đến mức quả bóng rất tròn rất đẹp và lớp dây bó đan đều như mũ lưới. Quả bóng lá chuối nhẹ, xốp và cũng khá bay bật khi đá vào. Phải đá bóng bằng quả bóng lá chuối là cực chẳng đã  cũng như sáng tạo của trẻ nông thôn; thực trong lòng đứa nào cũng mơ ước có tiền mua được quả bóng da nghiêm chỉnh. Còn nhớ, đội của thanh niên xã có quả bóng da dùng mãi cũ phải khâu đi khâu lại mà vẫn không thay. Tôi lúc đó chỉ mơ ước có quả bóng nhựa hoặc bóng cao su nhỏ để đá ở sân nhà. Cũng không hẳn là nghèo tiền đến mức không dám mua, mà bởi cha mẹ không khuyến khích chơi trò này, nghĩ  là hại sức và bê trễ việc nhà việc học, nên không cho tiền mua bóng. Chứ nếu cho, thì chạy ù ra mậu dịch tổng hợp phố huyện – phố Me – mà lứa tôi lúc học cấp 3 thường gọi là Megrat – cách làng 15 phút xe đạp – là có trái bóng ngon lành ngay. Vậy là mơ ước nhỏ mãi là mơ ước khi tuổi thơ đi qua. Rỗi rãi sẽ viết một số chuyện quanh cái phố nhỏ này và làng quê xưa, lắm chuyện buồn vui… đặc sắc trở lên.

Lớn lên rời làng quê đi lính, đi học đại học, đi làm,  cũng ít dịp được đá bóng mà chỉ xem các giải lớn qua ti vi là chính.  Ở Liên Xô được đá bóng một lần khi sinh viên đi nghỉ hè ở Belarus. Đá trên bãi cỏ rộng trong đội hình sinh viên quốc tế tự sắp xếp 2 đội chơi cho vui. Xong trận, được tay sinh viên Arap ngạc nhiên hỏi : Học đá bóng ở đâu mà thạo vậy?  Mình ngớ ra. Nó có biết đâu, đó chỉ là vụt dậy tiếp nối cái đoạn xưa đá ở làng quê, nay cứ thế mà chạy mà chuyền mà sút. Xem qua tivi CCCP thì nhiều. Cũng có vài ba bận mua vé vào sân vận động trung ương Matxcova xem giải quốc gia Liên xô.  Về nước, trước và sau 1990, có đôi lần vào sân hàng Đẫy  xem. Nay  xem màn hình chất lượng cao, chỉ vài trận  then chốt quốc tế thì  ra quán cafe bóng đá xem qua màn treo của projector cho nó  đã mắt và có không khí. Hôm kia trận Đức – Achen,  tôi và anh cu cả ra quán xem theo phương thức mua nước và chỗ ngồi . Anh cu cũng ham xem món này, lúc nhỏ thời Mundian rồi France 98,  nhiều  khi anh thức xem tivi cả trận đêm, rồi ăn mỳ tôm lấy làm sung sướng. Anh còn  sướng hơn thời bố là có bóng cao su chơi, tuy chỉ đá trên sàn nhà và mỗi khi sút mồm hét toáng: Pa…a  a …panh! (hình như Papin là  thời Platini nhỉ?); bóng vào gầm giường thì đành chui vào lấy trong khi bố mẹ cười vang

Bóng đá ngày nay quá sướng cho người thưởng thúc môn thể thao vua. Việc chơi bóng cũng bội phần nâng cấp – từ trái bóng đến trang phục và cả chi phí giải khát liên hoan…Đấy là nói về chơi vui nghiệp dư. Còn cho chuyên nghiệp thì thôi rồi!…

Còn nhớ cách đây hơn chục năm, một lần về quê thấy thằng cháu nhi đồng quần đùi áo phông mồ hôi nhễ nhại cứ một mình sút quả bóng gói bằng lá chuối trên sân nhà. Quả bóng xẹp lép tã tượi lăn đi lăn lại. Tôi bảo nó: Rồi bác mua cho mày quả bóng nhựa.! Nói vậy, rồi quên mất  lúc nào nên cũng chẳng mua. Thằng cháu hôm nay kết thúc đợt thi đại học, nó bảo làm được tàm tạm

Trò chơi bóng đá quả là thứ mua vui và nâng cao sức khỏe hàng đầu cho đông đảo dân chúng đủ tầng lớp. Châu Âu thì biến nó thành trò chơi cao cấp – công nghiệp bóng đá với đủ hoạt động xung quanh giải đấu và trái bóng. Toàn cầu hóa cũng được thúc đẩy vũ bão nhờ các giải quốc tế. Thôi thì nước  ta còn nghèo, yếu kém nhiều mặt, bóng đá VN quanh quẩn Đông Nam Á, thì ta ké ăn theo giải trí qua tivi các giải lớn các trận thư hùng của các cường quốc!

Chuyện phiếm mùa world cup của Đặng Minh Liên

Hãy nhìn xa và cả nhìn gần!

Hiện tại, Việt Nam đã tạm  đạt là nước có thu nhập trung bình khoảng 1000 usd/ người – 1 năm tức gần 20 triệu vnd

Đó là kết quả của hơn 20 năm đổi mới, đặc biệt là đổi mới kinh tế. Trong đó cơ cấu kinh tế nhiều thành phần cùng hoạt động, nhân dân thì được làm mọi việc mà pháp luật không cấm. Tuy nhiên, để phát triển bền vững và thoát cái mức trì trệ trung bình thì nước ta cần canh tân mạnh mẽ hơn với tư duy mới hơn – trong đó mọi quyết sách cần dựa trên chân lý khoa học tiên tiến, chứ không theo cảm tính duy ý chí, duy vụ lợi ích nhóm . Vì vậy vai trò của thông tin đa chiều, của phản biện tham chiếu rộng rãi cần được coi trọng hàng đầu. Điều này rất hợp lẽ tự nhiên, tựa như ta đi mua cái xe máy, tivi hay ô tô…ta cần khảo sát thông tin thông số, giá cả…rồi cân nhắc hàng tuần hàng tháng mới mua ở đâu sao cho đạt yêu cầu và ưng ý nhất. Chỉ những kẻ khờ mới mua lấy được hoặc mua cho xong. Hoặc tuy không khờ nhưng là đi mua cho tập thể nên thường hay mua đại đi, miễn có hoa hồng cao…

Vùa qua, có những dự án lớn, thậm chí siêu lớn đã được thông qua và triển khai như Thủy điện Sơn La, Điện hạt nhân Ninh Thuận…Rồi dự án Đường sắt cao tốc với tầm nhìn ba, bốn chục năm sau giá thành có thể lên tới cả trăm tỷ đô la được chính phủ đưa ra nhưng chưa đủ sức thuyết phục quốc hội thông qua. Sự kiện này đã được công luận đánh giá cao vì lần đầu tiên số đông đại biểu quốc hội đã có tư duy độc lập và có chính kiến, có tham vấn cẩn thận thông tin đa chiều của giới chuyên môn cũng như nhân sỹ

  Đôi mắt – hình sưu tầm

 Các dự án hạ tầng cỡ lớn và vừa, các kế hoạch lớn như xây dựng và  mở rộng thủ đô với chi phí lên tới trên dưới trăm tỷ đô trong vòng vài chục năm tới sẽ ngốn lượng vốn khổng lồ mà ít nhât hơn 1/3 là vay nước ngoài. Nước nào cũng vậy (và cả mỗi gia đình nữa) xây dựng hạ tầng là tốn kém nhất. Xong bước này mới có thể đạt mức là nước phát triển. Vì vậy, dự án cho hạ tầng các loại là cần thiết cho lợi ích chung – khi: đó thực sự là dự án đảm bảo các tiêu chí: kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng và thích hợp cho trước mắt cũng như lâu dài

Như vậy, vai trò của phản biện, tham chiếu các ý kiến khoa học chuyên môn trong và ngoài nước  là điều  tiên quyết cho các dự án quốc gia

Thực tế đã có những dự án được  thông qua và thực hiện nhưng thiếu tham chiếu chu đáo ý kiến chuyên gia khiến nay thấy rõ bất cập mà…đành theo lao, nên tiến lui đều khó!

Hãy học người Nhât: làm gì cũng chọn phương án tối ưu!

Và hãy cứ dự liệu sao cho sáng suốt việc đường xa/ tầm nhìn cho vài ba hoặc năm mươi, một trăm năm tới. Song chớ bỏ quên việc thiết thực  cấp bách hàng ngày. Như: điện nhiều nơi đang bị cắt triền miên, cầu phà nhiều vùng quê chưa có,  đường sá nông thôn lồi lõm thô sơ, bệnh viện quá tải, trường học dột nát, ô nhiễm thực phẩm, thậm chí có nơi còn thiếu đói…Hoặc: kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội với nhiều dự án chào mừng hoàng tráng; văn nghệ ca múa nhạc tưng bừng…song vỉa hè nhiều nơi còn nhoe nhoét nhếch nhác, có chỗ mất nắp hố ga…

Tóm lại , các nhà quản lý cần chia ra hai bộ phận hoặc  hai tư duy thường trực  1, về cái việc xa việc lớn; 2, cái việc thường nhật sao cho đều chu đáo và cân đối. Và ai có khả năng trí tuệ hãy nghĩ gần xa, ai kém thì hãy lắng nghe chứ đừng nên: phát huy “sáng kiến” này kia kiểu thời chiến thời vụ  rồi tích cực vận động thực hiện cái” sáng kiến” đó nhằm lập công lập thành tích…Thực tiễn cho thấy không ít các tư duy hạn hẹp như vậy cứ làm rối bung làm tốn kém mà hiệu quả có khi là âm. Kiểu : đào lên lấp xuống, bịt rồi mở. nhập rồi tách…Chết cái ở đời, mấy ai nhận mình là kém, chỗ công quyền ngang ghế, ngang vai thì ít ai chịu ai. Vì vậy chỉ có dân chủ công khai cọ xát ý kiến mới chứng tỏ được ý nào hay dở hơn kém trước  cộng đồng. Hễ nội bộ hoặc quyền uy chủ nghĩa thì cái hay dở khó có đất thi thố và cái đúng có khi đành thúc thủ khi cái sai lạm dụng quyền lực mà áp đặt.  Hãy khẳng định khẩu hiệu không bao giờ cũ khi ra quyết sách: Tổ quốc là trên hết! Khoa học là phương tiện dẫn dường!

Ngay các cá nhân làm ăn cũng vậy: không nên chỉ mải làm kinh doanh hoặc kế hoạch làm ăn lớn nào đó mà bỏ bê các việc nho nhỏ gần gũi hàng ngày như: quan tâm con cái học hành, sinh hoạt giải trí nghỉ ngơi hài hòa, thể dục thể thao ăn uống ra sao để giữ sức khỏe; giao tiếp thân hữu; nâng cấp tiện nghi đồ dùng thiết yếu trong nhà….Bỏ bê lâu sẽ bị trả giá và hồi phục về mức bình thường không phải chuyện dễ.

Tầm nhìn gần và cả  nhìn xa là yếu tố đương nhiên của tư duy phát triển. Vấn đề là nhìn ra sao, có đúng hướng và đúng cách hay không. Có do các cái đầu  sáng suốt hay không . Ngày xưa người ta hô hào phải có tầm nhìn xa, và khẩu hiệu này đã từng bị lầm đường do sử dụng sai duy ý chí. Ví dụ đi lên sản xuất lớn XHCN  nhưng lại san bằng nhiều làng xóm nhằm lấy đất cho máy cày công xã băng băng…Rồi các đi lên đó cũng thất bại thảm hại sau mấy năm thử nghiệm ầm ĩ và tốn kém…Khẩu hiệu mo cơm quả cà đi lên CNXH và CNCS chỉ còn trong kí ức khá là chua xót của nhiều người cao tuổi  về một thời hăng say nhưng non nót ngây thơ về nhận thức

Ngày nay hãy cứ nhìn xa nhìn gần tầm ngắn tầm dài như qui luật phải thế nhưng ước mong các cấp hoạch định chính sách cũng như dự án này kia hãy thật công tâm và sáng suốt khôn ngoan khi lập và thông qua kế hoạch. Mỗi quyết sách hãy là bài toán tối ưu cho phát triển đất nước cũng như ngành và cơ sở nào đó

Mỗi cá nhân thì tùy khả năng để lo tính xa gần cho mình sao cho ổn thỏa và cân bằng trong cuộc sống. Cùng lắm thì theo cổ nhân khuyên: Nhiều no, ít đủ, đắt lo ế mừng, cua máy cáy đào, và co duỗi tùy ta là vui!

Hôm nay, tôi rỗi rãi tự nhiên nảy ý này và viết nhằm nêu  một điều mới thấy cần, chứ cũng không có mục đích  triết luận vĩ mô  gì! Việc đó có các nhà chuyên môn khả kính như: Lê Đăng Doanh, Huệ Chi, Nguyễn Trần Bạt, Trần Hữu Dũng, Nguyễn Quang A, Nguyễn Văn An… từng phân tích sâu và hệ thống

Nhàn đàm của Đặng Minh Liên

Chuyện tình Hai sắc hoa ti gôn” chỉ “thơ” lúc ban đầu!

Chuyện tình Hai sắc hoa ti gôn” chỉ “thơ” lúc ban đầu!

(LĐĐT) – Bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” và bút danh T.T.Kh đến nay vẫn là bí ẩn trong hàng chục năm qua. Do đó, việc chuyển thể hiện tượng thơ này thành kịch bản phim “Chuyện tình hai sắc hoa ti gôn” gây được sự chú ý.
Kịch bản phim do nhà báo Trần Đình Thu viết.

Chuyện tình chỉ “thơ” lúc ban đầu

* Xuất phát từ đâu anh lại có ý tưởng viết kịch bản phim “Chuyện tình hai sắc hoa ti gôn”? Có phải do anh từng viết cuốn sách Giải mã nghi án văn học T.T.Kh, lúc “giải mã” anh đã thu nhặt được một “chuyện tình” hấp dẫn?

– Nhà báo Trần Đình Thu: Chuyện tình cờ chứ không phải tôi cố tình viết thành phim. Tôi có dịp gặp nhà biên kịch Phạm Thùy Nhân ở Hãng phim Giải phóng. Người bạn đi cùng giới thiệu với anh Nhân tôi là người viết cuốn sách về T.T.Kh. Anh Nhân thấy thú vị nên đề nghị tôi bắt tay viết thử đề cương. Xem xong đề cương, anh Nhân khuyên tôi viết luôn kịch bản.

Đúng là nhờ cuốn sách, tôi “thu nhặt” được một chuyện tình. Nhưng chuyện tình trong sách đơn giản lắm. Chỉ có ba nhân vật là T.T.Kh tức là Trần Thị Vân Nương, người yêu T.T.Kh là nhà văn Thanh Châu, và người chồng quyền thế của Trần Thị Vân Nương với vài tình tiết câu chuyện mờ nhạt. Ngoài ra, không có gì hết. Thế nên lâu nay tôi đâu có nghĩ đến chuyện viết thành phim.

Cũng xin nói thêm cho rõ, Trần Thị Vân Nương cũng như T.T.Kh là một trong các bút danh của Trần Thị Vân Chung.

* Vậy anh đã hư cấu như thế nào trong bối cảnh năm 1937 để thấy được rằng tình yêu thời điểm đó rất… thơ?

– Hư cấu nhiều lắm. Cái cốt là T.T.Kh không đến được với người mình yêu do bị gia đình ép buộc mà phải đi lấy chồng, sau đó đau khổ làm ra mấy bài thơ, nhưng chỉ xoay quanh mỗi cái cốt đó thì không thể níu kéo khán giả ngồi gần hai tiếng đồng hồ trong rạp để xem phim. Tôi phải vật vã trong gần hai tháng ngồi lì trong phòng không ra ngoài. Anh Phạm Thùy Nhân thì tỉ mỉ đọc, góp ý, sửa chữa nhiều lần. Viết xong lần đầu, tôi hầu như phải xóa đi viết lại toàn bộ vì anh Nhân không chịu cách xử lý của tôi.

Nói về cái sự “thơ” của tình yêu trong câu chuyện này, nó chỉ “thơ” khi hai người đến với nhau ban đầu thôi. Còn về sau nó rất dữ dội, dữ dội đến nghẹt thở. Vì rằng T.T.Kh bị gia đình ép gả, cả hai đau đớn tột cùng. Đau đớn lắm nên nàng mới thốt lên “Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng/ Trời ơi! Người ấy có buồn không/ Có thầm nghĩ đến loài hoa vỡ/ Tựa trái tim phai tựa máu hồng?”.

Không chỉ “giải mã” T.T.Kh

* Cố nhà văn Thanh Châu – tác giả truyện ngắn “Hoa ti gôn” in trên tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy – tạo nên chất xúc tác để bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” ra đời ký tên T.T.Kh. Vai trò của nhà văn Thanh Châu trong phim này sẽ như thế nào?

– Nhà văn Thanh Châu trong phim chuyển thành nhà thơ kiêm ký giả tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy. Đây là người yêu của nhân vật chính. Họ gặp nhau trên chuyến tàu từ Hà Nội về Thanh Hóa (đoạn này giống như những chi tiết trong cuốn biên khảo của tôi). Từ đây xuất hiện mối tình nghệ sĩ như trong bài Bài thơ thứ nhất: “Thuở trước hồn tôi phơi phới quá/ Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương/ Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại/ Êm ái trao tôi một vết thương”.

Song song đó, một công tử con nhà giàu, cháu quan Tổng đốc Thanh Hóa, tốt nghiệp cử nhân luật ở Pháp về cũng theo đuổi nàng. Từ đây bắt đầu chuyện tình tay ba, để đến giữa phim, chàng nghệ sĩ thua cuộc, T.T.Kh lên xe hoa về nhà chồng, khớp với câu thơ “Người xa xăm quá, tôi buồn lắm/ Trong một ngày vui pháo nhuộm đường”.

* Được biết, kịch bản sẽ được làm phim nhựa, vậy trong một bộ phim dài khoảng 120 phút, khán giả sẽ được đón nhận một chuyện tình đẹp hay được giải tỏa sự tò mò lâu nay: “T.T.Kh nàng là ai?”

– Tôi và anh Phạm Thùy Nhân bàn bạc rất kỹ khi xây dựng kịch bản này. Xin nhắc lại, anh Nhân là một nhà biên kịch rất chuyên nghiệp, làm biên tập cho tôi nên tôi có lợi thế lớn. Chúng tôi không chỉ “giải mã” T.T.Kh bằng phim. Cũng không chỉ là một chuyện tình đẹp như… thơ.

Ngoài việc cho thấy lý do dẫn đến sự ra đời của ba bài thơ từng xôn xao một thời ký tên T.T.Kh, khán giả sẽ được tiếp cận với một bức tranh văn hóa xã hội thời kỳ 1936-1940. Đấy là lúc tư tưởng tự do của chủ nghĩa lãng mạn Pháp bắt đầu thâm nhập vào một tầng lớp thanh niên Việt Nam. Tình yêu nam nữ được đề cao trong văn học và cả trong đời sống hằng ngày. Nhân vật người yêu của T.T.Kh phải chọn lựa giữa tình yêu và danh dự để nhận một trong hai thôi. Và hẳn nhiên cuối cùng, là bi kịch tình yêu.

* Anh có sự so sánh nào về tình yêu thời T.T.Kh và hiện nay?

– Mỗi thời mỗi khác, vì tình yêu không thể tách lìa hoàn cảnh văn hóa xã hội mà tình yêu đó đang tồn tại. Nhưng tôi thấy có một điểm chung giữa tình yêu xưa và nay, đó là người phụ nữ bao giờ cũng yêu “quyết liệt”, say đắm hơn nam giới.

Người phụ nữ trong “Chuyện tình hai sắc hoa ti gôn” yêu bằng tất cả trái tim mình, điều này cũng lý giải vì sao nhân vật T.T.Kh có những bài thơ để đời đến hôm nay.

* Bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” và bút danh T.T.Kh đến nay vẫn là một ẩn số khiến tốn kém rất nhiều giấy mực để giải mã, Trần Đình Thu là một trong những người khá tâm huyết “vác bút” theo lý giải hiện tượng thơ này. Một bộ phim về T.T.Kh qua “Hai sắc hoa ti gôn” sẽ là “khám phá” cuối cùng của anh hay còn nữa?

– Câu chuyện này khá thú vị, có lẽ “mua vui cũng được một vài trống canh,” nếu có điều kiện và có duyên thì tôi sẽ tiếp tục.

* Xin cảm ơn anh! Chúc bộ phim mau chóng hoàn thành.

Mang bí mật bút danh T.T.Kh về cõi vĩnh hằng
Ngày 8.5.2007, nhà văn Thanh Châu – người được xem có quan hệ “bí mật” với T.T.Kh đã từ trần – hưởng thọ 96 tuổi.

Từ lúc các cuộc tranh luận về T.T.Kh và “Hai sắc hoa ti gôn” nổ ra sôi nổi vào khoảng giữa thập niên 90 thế kỷ trước, nhà văn Thanh Châu vẫn một mực im lặng cho đến lúc mang theo “bí mật” đó về cõi vĩnh hằng.

H.A (Theo TTXVN)

Thói quen tư duy ” Phát động chiến dịch” và ” Đồng loạt ra quân”

Thói quen tư duy “phát động chiến dịch” và “đồng loạt ra quân”
Mạc Văn Trang

Vừa mới đây nghe ông Phó chủ tịch UBND của Thủ đô “địa linh, nhân kiệt” ra lệnh: “Từ 1/4/2010 tất cả 29 quận huyện phải đồng loạt ra quân thực hiện Đề án chỉnh trang, sơn vôi, sơn cửa nhà mặt phố… phục vụ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, tôi thấy ớn lạnh cả người![*]

Bởi vì những kỷ niệm muốn quên đi, bỗng nhiên nhớ lại. Đó là vào những năm 60 của thế kỷ trước, khi tôi vừa làm giáo viên vừa tham gia công tác thanh niên của xã, luôn nhận được chỉ thị của cấp ủy về “phát động chiến dịch” (chắc nay gọi là Đề án) rồi “đồng loạt ra quân” … Có những “chiến dịch”, nhớ lại vẫn thấy hãi. Đó là tất cả thanh niên đồng loạt ra quân “cải tạo ruộng đồng”, phá hết những bờ ruộng “cá thể, tư hữu ngàn đời”, đắp mới những bờ lô, bờ thửa “tập thể xã hội chủ nghĩa” thẳng tắp, mênh mông! Nhưng khi tát nước đổ ải mới té ra những thửa ruộng mới “chỗ trũng như ao, chỗ cao như đống”! Làm lúa nước mà mặt ruộng không phẳng thì chết rồi!

Lại đồng loạt ra quân khuân đất chỗ cao lấp xuống chỗ trũng… Đói, rét, người quắt lại, vẫn thi đua quần quật suốt ngày đêm! Tiếp đó là đồng loạt ra quân “quán triệt” chỉ đạo của huyện về “chiến dịch Đông-Xuân”, quyết tâm cấy lúa chiêm xong trước Tết với khấu hiệu: “Lúa chưa cấy xong, chưa yên lòng ăn Tết!”. Tất cả sức người, sức trâu bò tập trung “cao điểm” cho chiến dịch. Đêm đông mưa rét cũng thắp đèn măng-sông, đốt đuốc để nhổ mạ, cấy lúa ào ào! Huyện lại có sáng kiến dựng một tấm pano lớn ngay ngã ba đường quốc lộ; trên đó vẽ 1 cái máy bay có anh phi công thò nửa người qua cửa sổ, miệng cười hả hê, tay vẫy cờ đỏ; tiếp theo là một anh cưỡi ngựa, tay giương cờ hồng, cúi rạp người phi nước đại; sau cùng là một anh nông dân tiu nghỉu cưỡi trên lưng con rùa! Hợp tác xã nào cấy xong sớm nhất đều được ghi tên dưới hình chiếc máy bay. “Con gà tức nhau tiếng gáy”, không xã nào, hợp tác xã nào muốn phải “cưỡi rùa”, phải quyết tâm “đi máy bay” (vẽ), không thì cũng phải được “phi ngựa” (giấy)! Nam Đồng là hợp tác xã cấp cao, được tỉnh chỉ đạo trọng điểm, dứt khoát là phải dẫn đầu! Dẫu Tết mỗi nhà chỉ có dăm bảy cái bánh chưng và được hợp tác xã phân cho mỗi khẩu mấy lạng thịt lợn, nhưng ai cũng hỉ hả vì trong chiến dich này, hợp tác xã mình lại dẫn đầu, được bằng khen của tỉnh, giấy khen của huyện và “cưỡi máy bay”! Tết này “các anh” ở trên sẽ về thăm hợp tác xã ta… Nhưng Trời lại không ủng hộ. Mùa đông năm ấy rét khủng khiếp. Trâu, bò lăn đùng ra thì xã viên mổ thịt, chia nhau, chẳng đi đâu mà mất! Nhưng tệ hại nhất là lúa cấy đồng loạt, cũng chết rét đồng loạt! Nhổ cây lúa lên, rễ quắt lại, đen sì. Mạ thì đã dốc hết cho chiến dịch! Cũng còn may vì lãnh đạo đã hạ lệnh: ruộng tập thể chưa cấy xong, không ai được cấy ruộng 5%! Thế là sang giêng, chờ ấm lên, các mảnh ruộng 5% của mỗi hộ mới được cày cấy, chăm chút, nâng niu. Nhờ đó dân làng mới qua được cơn đói khủng khiếp có thể xảy ra, nếu chỉ trông vào 95% ruộng trong tay hợp tác xã.

Nguyên nhân khách quan thật rõ ràng “mất mùa là tại thiên tai” (trời rét)! Do vậy từ xã đến huyện, tỉnh chả cán bộ nào bị khuyết điểm. Còn thành tích thì đã được ghi nhận bằng các loại giấy khen, bằng khen khi tổng kết chiến dịch rồi! Những sai lầm tai hại của kiểu tư duy đó đã không những không bị trừng phạt mà nó còn có đất sống khỏe nên trở thành “đặc sản tư duy” của cán bộ ta cho đến ngày nay.

Công bằng mà nói, cũng có những việc thanh niên đồng loạt ra quân, vui và có ích. Đó là “chiến dịch làm phân xanh”. Thanh thiếu niên đồng loạt ra quân phát quang hết các bụi cậy, thu gom hết rác rưởi và vớt hết bèo Nhật bản trong các hồ ao, băm nhỏ, rải ra đầy ruộng. Có lẽ trong bối cảnh tương tự như quê tôi, lại được Đại tướng chỉ đạo nông nghiệp về thăm nên ông Bút Tre mới nảy ra câu thơ : “Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh, Anh về phân rác phân xanh đầy đồng…”. Cái được trong chiến dịch đó là làng xóm phong quang, sạch sẽ và mấy cái hồ lớn của xã trở thành “hồ bơi thanh niên”.

Tiếp đó là chiến dịch “ra quân Tết trồng cây”… Đến nay mỗi lần về quê, tôi vẫn bần thần đứng hồi lâu nhìn mấy cây trồng ngày xưa còn sót lại, nay đã thành cổ thụ. Có lẽ đây là thành quả thực sự còn lại của không biết bao nhiêu “chiến dịch đồng loạt ra quân” vung phí thời gian và sức lực lứa tuổi trẻ chúng tôi!

(Vài hình ảnh “đồng loạt ra quân” ngày nay – Lấy từ Google)

Cái kiểu tư duy này thịnh hành nhất vào những năm 60 của thế kỷ XX, thời kỳ “tập thể hóa”. Chỉ khi con người lao động, sinh hoạt trong các đơn vị tập thể, có kỷ luật chặt chẽ thì người lãnh đạo, chỉ huy mới luôn nghĩ ra chiến dịch này, chiến dịch nọ và đồng loạt ra quân được. Dần dần kiểu tư duy đó thành thói quen, thành quy trình: Thống nhất chủ trương (cấp uỷ) – chuẩn bị nguồn lực và chỉ đạo (chính quyền) – Các lực lượng quán triệt (mặt trận)… Rồi triển khai: đồng loạt ra quân – chỉ đạo – tổng kết – khen thưởng… Nhiều người lãnh đạo, chỉ huy rất mê kiểu tư duy đó vì nó rất giản đơn lại thể hiện được quyền uy của người lãnh đạo; nó gây khoái cảm cho người chỉ huy khi thấy quân lính “cờ, đèn, kèn, trống” rầm rộ, tưng bừng; thấy “quần chúng rất khí thế, hồ hởi…” sẵn sàng đè bẹp những cá nhân nào “bi quan, tiêu cực, cản đường!” …

Ngày xưa cán bộ vẫn quen “tác phong quân sự”, làm ăn tập thể theo cách chỉ huy, ta còn có thể cảm thông được. Thời nay mà quản lý một đô thị hiện đại với 5 – 6 triệu dân bằng thói quen tư duy ấu trĩ của những năm 60 thế kỷ trước thì hãi quá!

Hãy nhìn sang các thành phố lớn trên thế giới. Nhiều thành phố hàng chục triệu dân, chẳng cần có cấp phường, mỗi năm đón hàng chục triệu du khách mà vẫn xanh, sạch, đẹp, trật tự, kỷ cương. Chẳng bao giờ thấy họ có khẩu hiệu “phấn đấu”…, “đẩy mạnh…” “phát huy”…, “đồng loạt ra quân”, “dấy lên phong trào”… gì cả. Họ quản lý đô thị cứ như là không quản lý vậy! Dân muốn ở đâu thì ở, muốn làm gì thì làm. Nhưng anh phạm luật là lập tức bị phát hiện và phạt cho cạch đến già! (Tất nhiên ở đâu cũng có những kẻ tội phạm giỏi hơn cảnh sát, lẩn trốn được…). Vẫn biết rằng thành phố nào sau những biến cố lớn (sau chiến tranh, thảm hoạ) đều cần những biện pháp đặc biệt để lập lại kỷ cương. Nhưng sau đó phải quản lý làm sao để người dân sống theo nề nếp ổn định, lâu dần thành thói quen tự nhiên bình thường hằng ngày của đô thị. Mỗi khi phải “tập trung lực lượng”, phải “ra quân”, “quyết tâm”… là nguy rồi, có sự cố bất bình thường rồi! Quan chức thành phố có nguy cơ sắp mất chức đến nơi rồi!

Thói quen tư duy này kéo dài mãi rất nguy hại:

– Đó là thói quen tư duy giải quyết tình huống, thời vụ, không quan tâm tính toán giải quyết vấn đề căn cơ, lâu dài;

– Đó là thói quen tư duy hình thức, bề nổi, lấy số lượng thay cho chiều sâu, chất lượng (bánh chưng lớn nhất, chai rượu to nhất, làm 1.000 con rồng …);

– Đó là thói quen tư duy kinh nghiệm, trực quan, hành động thực tiễn, ấu trĩ (trẻ con) thay cho tư duy khoa học, đi tìm bản chất, tính quy luật của sự vật;

– Đó là điển hình của lối “tư duy nhiệm kỳ”. Anh nào mới lên lãnh đạo, quản lý một đơn vị cũng muốn ghi dấu ấn của mình, khẳng định quyền lực của mình bằng vài “chiến dịch” (đề án/dự án), bằng vài đợt “đồng loạt ra quân”, bằng mấy khẩu hiệu thời thượng… Đây nhé, thỉnh thoảng ta lại thấy đồng loạt ra quân “truy quét…”, “phá dỡ…”, “đột kích vào…”, “kiểm tra…”, “lập lại…”, “chỉnh trang, sơn quét…”, … Đó chủ yếu là tư duy “phá” hơn là “xây”! Nhưng “phá” theo lối “bắt cóc bỏ đĩa”, không chịu đi tìm bản chất vấn đề để giải quyết căn cơ, lâu bền. Hơn nữa, nhiệm kỳ sau “tân quan, tân chính sách”, nhiệm kỳ này cứ “quyết tâm làm vài dự án cái đã!” (Cho nên “cứ làm đại đi, chờ phản biện, luận chứng lôi thôi thì… hết cha nó nhiệm kỳ à!”). Người ta say mê chạy dự án, phê duyệt dự án, đồng loạt ra quân… vì động cơ gì dân biết cả!

Nền kinh tế nước ta cũng chủ yếu là nền kinh tế của các dự án. Tăng trưởng GDP cao bao nhiêu cũng chủ yếu vào túi các nhà đầu tư dự án. Để phát triển bền vững, đất nước cần có những ngành, những nghề đạt trình độ cao, làm ra những sản phẩm cạnh tranh được trên thế giới. Mà nguồn nhân lực cao là cốt lõi.

Nhưng cay đắng thay, nền giáo dục nước nhà cũng là nền giáo dục phong trào, “đồng loạt ra quân”, “thi đua lập thành tích”, phát triển theo các “đề án” (chiến dịch) của mỗi nhiệm kỳ! Nhiệm kỳ của Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân vừa rồi cũng ghi dấu ấn bằng mấy “chiến dịch”: đồng loạt mở trường đại học; đồng loạt đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ; đồng loạt xây nhà vệ sinh ở các trường… Nhưng ấn tượng nhất là phong trào đồng loạt ra quân thực hiện “Hai không”, rồi “Ba không”, “Bốn không”… “KHÔNG” ở đây là “phá” là “diệt trừ”, trái ngược với bản chất của giáo dục là “CÓ” là gieo trồng, chăm sóc, phát triển tạo nên chất lượng mới…

Điều nguy hại là thói quen tư duy này ăn sâu vào nhà trường, nơi đáng lẽ kích thích và tạo điều kiện cho những bộ óc tươi trẻ phát triển tư duy khoa học, sáng tạo thì lại áp đặt cho học sinh, sinh viên lối suy nghĩ rập khuôn, sao chép, hình thức, hời hợt. Học sinh, sinh viên cho đến nghiên cứu sinh dường như ít ai chịu ngồi lì dăm mười ngày nghiền ngẫm mấy cuốn sách hay miệt mài làm đi làm lại một thí nghiệm… Bắt chước, cóp nhặt, xào xáo, không tìm kiếm, phát hiện, phê phán, sáng tạo hay gieo trồng, thí nghiệm… thì làm sao có tư duy khoa học!? (Còn các GS, TS thì em không biết!).

Đã là thói quen thì khó thay đổi. Nhưng một khi phải “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, “đổi mới tư duy hay là chết?”… thì vẫn có hy vọng.

MVT

7/5/2010

[*] Báo Kinh tế đô thị (25/3/2010): “Phó Chủ tịch UBND TP Hà nội chỉ thị: Từ 1/4/2010 tất cả 29 quận huyện của Thủ đô phải đồng loạt ra quân thực hiện Đề án chỉnh trang, sơn vôi, sơn cửa nhà mặt phố… phục vụ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long- Hà Nội”

MẶT TRẬN XÔ – ĐỨC NĂM 1941

Kỷ niệm 65 năm chiến thắng CN phát xít!

Chiến tranh Xô-Đức

Chiến tranh Xô-Đức 1941-1945 là cuộc chiến giữa Liên Xô và Đức Quốc Xã thời Thế chiến thứ hai. Ở Liên Xô trước đây hoặc nước Nga ngày nay cuộc chiến này còn được gọi là Chiến tranh vệ quốc vĩ đại (Великая отечественная война), tên gọi này lấy theo tên trong lời hiệu triệu của Stalin trên radio gửi đến nhân dân Xô Viết vào ngày 3 tháng 7 năm 1941, hoặc nó còn được gọi là cuộc Chiến tranh thần thánh (Священная война). Tại Đức hoặc Phương Tây cuộc chiến tranh này thường được gọi là Chiến tranh Xô-Đức hay đơn giản là Mặt trận phía đông vì thực chất đây là giai đoạn quan trọng nhất của cuộc chiến ở mặt trận phía đông châu Âu trong Thế chiến thứ hai. Đây là cuộc chiến giữa Đức Quốc Xã cùng các đồng minh chính là Romania, Hungary, Ý, Phần Lan chống lại Liên bang Xô Viết, về sau Liên Xô cho thành lập quân đội các nước Ba Lan, Tiệp Khắc bên phía mình để chiến đấu trên lãnh thổ các quốc gia này và làm nòng cốt xây dựng quân đội các quốc gia này sau chiến thắng. Vào cuối năm 1944 và đầu năm 1945, khi quân đội Xô Viết tiến vào Romania, Hungary, các nước này đã quay sang chống lại Đức Quốc Xã và gia nhập Liên minh chống Phát xít.

Cuộc chiến này bắt đầu từ ngày 22 tháng 6 năm 1941 khi Wehrmacht (Quân đội Đức Quốc Xã) theo lệnh Adolf Hitler xoá bỏ hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau Liên Xô-Đức, 1939 và tấn công bất ngờ Liên bang Xô Viết, và cuộc chiến này kết thúc ngày 9 tháng 5 năm 1945 khi đại diện Đức Quốc Xã ký kết biên bản đầu hàng không điều kiện Quân đội Xô Viết và các lực lượng của Liên minh chống Phát xít sau khi Quân đội Xô Viết đánh chiếm thủ đô Đức Berlin.

Sau chiến tranh Liên Xô trở thành một trong hai siêu cường thế giới, toàn bộ Đông Âu rơi vào khu vực kiểm soát của nước này và nước Đức bị phân đôi thành Cộng hoà Dân chủ Đức và Cộng hoà Liên bang Đức.

Mục lục:
1. Tính chất đối đầu sống còn của chiến tranh
2. Hiệp ước Molotov – Ribentrop
3. Diễn biến
4. Lãnh tụ và sự lãnh đạo chiến tranh
5. Tham khảo
6. Chú thích
7. Liên kết ngoài

1. Tính chất đối đầu sống còn của chiến tranh
Bài chi tiết: chủ nghĩa phát xít và Kế hoạch tổng thể phương Đông

Đối với Hitler và những lãnh tụ Phát xít Đức, chiến tranh chống Liên Xô là cuộc “chiến tranh tiêu diệt”, là cuộc chiến của chủng tộc Aryan “thượng đẳng” tiêu diệt giống người Slav hạ đẳng để giành lấy “không gian sinh tồn”. Theo Kế hoạch tổng thể phương Đông (Generalplan Ost) được Hitler phê duyệt ngày 25 tháng 5 năm 1940: 50 triệu người Slav sẽ bị tiêu diệt và xua đuổi, số còn lại sẽ là nô lệ cho những người Đức di dân. Không gian sinh tồn của Đế chế Đức sẽ kéo dài đến tận dãy núi Ural. Kế hoạch chiến tranh chống Liên Xô phủ nhận mọi quy tắc nhân đạo của chiến tranh thông thường, nó cho phép cướp bóc mọi nguồn tài nguyên để phục vụ quân đội và nhà nước Đức, cho phép lực lượng vũ trang Đức phạm mọi tội ác đối với thường dân kể cả tội diệt chủng… Nước Nga sẽ bị xoá sổ và phân chia thành các vùng lãnh thổ Đức độc lập. Dân tộc Nga sẽ bị tiêu diệt, đồng hoá và sẽ không còn là một dân tộc thống nhất nữa.

Vì vậy đối với Liên Xô, đối với người Nga và các dân tộc trên lãnh thổ Liên Xô đây là cuộc chiến tranh sống còn của dân tộc.

Đối với thế giới, ngay từ Thế vận hội 1936 tại Berlin, những biểu hiện phân biệt chủng tộc theo tinh thần “chủng tộc Aryan thuợng đẳng” đã có những ảnh hưởng nhất định tới kết của của Thế vận hội và tinh thần thống trị toàn cầu của Đế quốc La Mã cổ đại được cổ xúy tối đa. Trong một thỏa thuận với chính quyền quân phiệt Nhật Bản và chính quyền phát xít Ý vào cuối năm 1938, nuớc Đức Quốc xã đã dành cho Nhật phạm vi ảnh hưởng đến toàn bộ Châu Á và Thái Bình Dương bao gồm cả Sibiri của Liên Xô, cùng với Ý chia nhau ảnh hưởng tại Châu Phi và vùng ven Địa Trung Hải. Phe trục cũng hoạch định kế hoạch phân chia ảnh hưởng tại Châu Mỹ, bao gồm cả Hoa Kỳ, Canada, Nam Mỹ và vùng Caribe. Do đó, không chỉ riêng Liên Xô mà toàn nhân loại cũng đang đứng trước một hiểm họa toàn cầu: hiểm họa chủ nghĩa phát xít.

Chính vì vậy, tính chất không khoan nhượng, lòng căm thù, mức độ tàn bạo trong cuộc chiến tranh này là rất cao và sự huỷ diệt của nó vượt mọi kỷ lục của các cuộc chiến tranh khác. Nỗ lực tiến hành chiến tranh của các bên không phải nhằm kết thúc bằng một hoà ước có lợi cho bất kỳ bên nào mà nhằm quyết định sự tồn vong của các quốc gia, dân tộc trên phạm vi toàn cầu.

Sau này khi đã vào thế thua không thể cưỡng lại, nhằm chia rẽ khối liên minh chống phát xít và huy động các dân tộc châu Âu về phía mình; bộ máy tuyên truyền của Đức Quốc Xã vẫn quy kết tính chất của cuộc chiến tranh này là cuộc đấu tranh của văn minh phương Tây chống lại hiểm hoạ lan truyền chủ nghĩa Bolshevikh. Vào giai đoạn cuối của chiến tranh, mặc dù người Đức cũng nhận thức được rằng nếu dân tộc mình thua trận sẽ phải trả giá rất cao và đất nước bị phân chia; nhưng chính quyền Đế chế thứ ba vẫn có thể kêu gọi dân chúng nước Đức đoàn kết dưới khẩu hiệu: “Vì chủng tộc Aryan thượng đẳng” và đã huy động được nỗ lực tối đa, kháng cự đến ngày cuối cùng của Đế chế.

2. Hiệp ước Molotov – Ribentrop
Bài chi tiết: Hiệp ước Xô-Đức

Ngay trước Thế chiến thứ hai chỉ trong vòng tháng 8 năm 1939, mối quan hệ Liên Xô – Đức đã có sự thay đổi sâu sắc: từ quan hệ thù địch về tư tưởng và quyền lợi, hai nước liên tiếp ký kết các hiệp ước thương mại, hiệp ước hữu nghị và giúp đỡ lẫn nhau. Trong mối quan hệ an ninh quốc phòng hai nước ký hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau và biên bản bí mật phân chia khu vực ảnh hưởng giữa Đức và Liên Xô trên lãnh thổ các quốc gia khác. Xa hơn nữa, hai bên đang tiến hành tham khảo để Liên Xô gia nhập khối liên minh Đức – Ý – Nhật[1]

Quan hệ hữu hảo toàn diện Đức – Liên Xô đảm bảo cho Đức không phải chiến đấu trên hai mặt trận trong chiến tranh thế giới mà Hitler đang trù tính và sẽ sắp xảy ra, đồng thời phía Đức sẽ có nguồn nhập khẩu các nguyên liệu chiến lược từ phía Liên Xô mà không sợ vòng vây trên biển của khối Anh – Pháp phong toả, ngoài ra Đức còn được phía Liên Xô cung cấp các cơ sở cầu cảng, hậu cần, sửa chữa cho hạm đội tàu ngầm Đức tại các căn cứ hải quân Xô viết gần Biển Bắc trong chiến tranh Đại Tây Dương phong toả nước Anh. Các cơ quan mật vụ an ninh của hai nước cũng hợp tác trong việc cung cấp thông tin, dẫn độ các các phần tử cộng sản Đức chống phát xít và các phần tử kháng chiến Ba Lan giao cho mật vụ SD của Đức: đến tháng 6 năm 1941 phía Liên Xô đã giao cho Đức khoảng 4.000 người trong đó có các đảng viên Đảng Cộng sản Đức cùng thân nhân của họ, về phía mình mật vụ SD cũng giao cho phía Liên Xô những người mà NKVD tìm kiếm[2]…

Phía Liên Xô bằng cách ký kết hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau và biên bản bí mật đã không gặp trở ngại nào trong việc sát nhập các vùng lãnh thổ Ba Lan, các quốc gia Baltic, Phần Lan, Bessarabia. Nước này đồng thời muốn đẩy mũi nhọn chiến tranh của Đức hướng sang chống khối liên minh Anh – Pháp. Liên Xô cũng đặt hàng và được phía Đức cung cấp cả các hệ vũ khí và phương tiện kỹ thuật hiện đại để hiện đại hoá hải, lục, không quân của mình.

Ba Lan đã bị đè bẹp từ hai phía: Sĩ quan Hồng quân và Đức trò chuyện hữu nghị trên đất Ba Lan
Theo đúng tinh thần của biên bản bí mật, ngay sau khi Đức tấn công Ba Lan gây chiến tranh thế giới (1 tháng 9 năm 1939), Quân đội Xô Viết kéo vào Ba Lan chiếm Tây Belarus, Tây Ukraina, chiếm Bessarabia của Romania lập nên nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Moldavia (ngày nay là Moldova). Năm 1940, Liên Xô sát nhập ba quốc gia vùng Biển Baltic: Estonia, Latvia, Litva lập nên ba nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa vùng Baltic và gây chiến tranh chống Phần Lan chiếm dải đất Karelia lập nên nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Karelia…

Mối quan hệ hữu hảo toàn diện Liên Xô – Đức không phải là mối quan hệ của các quốc gia đồng minh có tương đồng quyền lợi chiến lược lâu dài mà chỉ là sự lợi dụng lẫn nhau nhất thời của các kẻ thù. Và trong cuộc chơi chính trị – ngoại giao này phần thắng đã hoàn toàn thuộc về Adolf Hitler: Hitler không bao giờ từ bỏ lập trường nguyên tắc của mình và luôn coi việc giải quyết vấn đề người Slav là mục đích số một của đời mình (sách Mein Kampf). Khi ký kết hiệp ước với Stalin, Hitler đã đạt được hai mục đích: một mặt đã phân hoá được các địch thủ Anh, Pháp, Liên Xô để tránh được việc phải chiến đấu trên hai mặt trận và đã đảm bảo thắng lợi trên chiến trường Ba Lan và châu Âu trong hai năm 1939 và 1940. Mặt khác bằng những hiệp định này đã gây ảo tưởng cho Stalin rằng đã tránh được nguy cơ chiến tranh cận kề với Đức và sau này yếu tố bất ngờ đã có vai trò rất lớn trong giai đoạn đầu thắng lợi của quân đội Đức trong chiến tranh Xô – Đức. Tất cả những nhượng bộ và giúp đỡ của phía Đức cho Liên Xô theo tính toán của Hitler chỉ là tạm thời và sẽ bị vô hiệu hoá khi chiến tranh chống Liên Xô bắt đầu và các toan tính này của Hitler đã thành công. Một ngày trước khi kí hiệp ước Xô-Đức, ngày 22 tháng 8 năm 1939 Hitler đã nói với các tướng lãnh Đức rằng: “Chúng ta sẽ đập nát Liên Xô. Kỷ nguyên thống trị của nước Đức trên trái đất sẽ bắt đầu!”.

Về phía Stalin và ban lãnh đạo Liên Xô tuy không bao giờ tin tưởng vào sự thành thật của Hitler nhưng đã bị đánh lạc hướng và tin rằng chiến tranh với Đức nếu nổ ra cũng không thể sớm hơn năm 1942. Sau những yếu kém rất rõ rệt của Hồng quân Liên Xô trong Chiến tranh Liên Xô-Phần Lan và sự thể hiện sức mạnh ghê gớm của quân đội Đức trong các chiến thắng tại chiến trường châu Âu thì Stalin đã tỏ ra khiếp sợ, không muốn và không dám tin vào khả năng rõ rệt đang thành hiện thực là Đức đang tích cực chuẩn bị tấn công Liên Xô, Stalin trừng trị nghiêm khắc những người cảnh báo về khả năng Đức tấn công, tránh mọi hành động để có thể bị coi là khiêu khích Đức, không cho phép quân đội và đất nước áp dụng các biện pháp dự phòng và sẵn sàng chiến đấu… Trong cuộc chơi “hữu nghị” với Hitler, Stalin đã thất bại, bị qua mặt một cách thảm hại. Stalin và ban lãnh đạo liên Xô khi đó đã trở thành nạn nhân của chính những tính toán của mình. Sự thất bại và thiệt hại vô cùng khủng khiếp, nguy cơ mất nước nhãn tiền của Liên Xô trong giai đoạn thua trận năm 1941 của chiến tranh có đóng góp rất to lớn của cá nhân lãnh tụ Stalin cả về khía cạnh đã để cho chiến tranh nổ ra và để đất nước bị bất ngờ, mà còn cả vì những thực tế xây dựng quân đội trên những “lý luận quân sự vô sản” mang nặng tính độc đoán, chủ quan, lạc hậu và còn vì sự tiêu diệt tận gốc rễ tầng lớp sĩ quan của Hồng quân trong cuộc đại thanh trừng ngay trước chiến tranh mà Stalin chủ xướng.

3. Diễn biến
3. 1. Kế hoạch Barbarossa của Đức

Bản đồ ý đồ chiến lược của kế hoạch Barbarossa
Trong tháng 5 năm 1941 quân đội Đức đã triển khai xong đội hình tấn công với 3-5 triệu quân trên tổng số 7,2 triệu quân nhân đang tại ngũ theo đúng kế hoạch Barbarossa do Adolf Hitler phê duyệt từ 18 tháng 12 năm 1940. Để thực hiện kế hoạch Barbarossa, nước Đức đã huy động 3/4 quân đội Đức cùng với quân đội nhiều nước đồng minh với Đức tại Châu Âu, chỉ để lại 1/4 quân số và phương tiện tại Tây Âu và Bắc Phi

Tính đến ngày 21 tháng 6 năm 1941, Quân đội phát xít Đức và đồng minh phe Trục (gồm Phần Lan, Ý, Hungary, Romania, Croatia, Slovakia và quân Tây Ban Nha của Franco) bao gồm 190 sư đoàn trong đó có 152 sư đoàn Đức, 38 sư đoàn các nước đồng minh với tổng quân số 5,3 triệu người, tập trung dọc theo hơn 2.900 km biên giới (1800 dặm) từ bờ biển Baltic phía Bắc đến bờ biển Đen phía nam. Lực lượng Đức và đồng minh bố trí từ phía bắc xuống phía nam theo 4 cụm lực lượng như sau:

•Cụm tập đoàn quân Phần Lan – Na Uy: bố trí tại Phần Lan bao gồm tập đoàn quân[3] “Na Uy” của Đức và 2 tập đoàn quân “Karelia” và “Đông nam” của Phần Lan. Tổng cộng cánh quân này có 21 sư đoàn và 3 lữ đoàn Đức và Phần Lan được yểm trợ bằng hạm đội không quân số 5 của Đức và không quân Phần Lan. Đối đầu với cụm Phần Lan – Na Uy là quân khu Karelia của Liên Xô sau đổi thành phương diện quân Karelia và phương diện quân “Bắc” sau đổi thành phương diện quân Leningrad. Nhiệm vụ của cụm quân Phần Lan – Na Uy này là phòng thủ Phần Lan và Na Uy, phối hợp cùng cụm “Bắc” của Đức tấn công thành phố Leningrad từ hướng bắc, tấn công vào vùng cực chiếm Murmansk căn cứ chính của Hạm đội Biển Bắc của Liên Xô và sau đó chiếm thành phố lớn nhất vùng cực là Arkhanghensk.
•Cụm tập đoàn quân “Bắc” của Đức: Thống chế tư lệnh Wilhelm Ritter von Leeb bố trí tại Đông Phổ gồm 2 tập đoàn quân số 16, 18 và tập đoàn quân xe tăng số 4 tổng cộng 29 sư đoàn với sự yểm trợ của hạm đội không quân số 1 của Đức, có nhiệm vụ tấn công chiếm các nước cộng hoà Xô Viết vùng Baltic, chiếm các cảng tại vùng biển Baltic tiêu diệt các căn cứ của hạm đội Baltic của Liên Xô, chiếm các thành phố Pskov, Novgorod và cuối cùng mục tiêu quan trọng nhất là chiếm Leningrad, Kronstadt. Sau khi chiếm xong Leningrad hợp quân cùng quân đội Phần Lan đánh xuống phía nam phối hợp cùng cụm tập đoàn quân “Trung tâm” chiếm thủ đô Moskva. Đối chọi với cụm quân Bắc là quân khu đặc biệt Pribaltic của Liên Xô sau đổi thành phương diện quân Tây Bắc với lực lượng là 25 sư đoàn Xô viết trong đó có 4 sư đoàn xe tăng, 2 sư đoàn bộ binh cơ giới dưới sự chỉ huy của tư lệnh Thượng tướng Fedor Isidorovich Kuznetsov.
•Cụm tập đoàn quân “Trung tâm” mạnh nhất của Đức của Thống chế tư lệnh Fedor von Bock: bố trí tại miền trung Ba Lan bao gồm tập đoàn quân số 4 và số 9, tập đoàn quân xe tăng số 2 và 3 tổng cộng 50 sư đoàn (trong đó có 15 sư đoàn xe tăng) và 2 lữ đoàn với sự yểm trợ của hạm đội không quân số 2. Cụm quân này có vai trò quan trọng nhất trong chiến tranh chớp nhoáng theo kế hoạch Barbarossa: đánh chia cắt bao vây khối quân Xô Viết tại Belarus, chiếm Belarus, phát triển tấn công theo hướng Moskva, chiếm thủ đô Xô Viết. Đối đầu với cụm “Trung tâm” là quân khu đặc biệt “Tây” sau đổi thành phương diện quân “Tây” của Liên Xô, tư lệnh: đại tướng Dmitri Grigorievich Pavlov gồm 24 sư đoàn bộ binh, 12 sư đoàn xe tăng, 6 sư đoàn cơ giới và 2 sư đoàn kỵ binh.
•Cụm tập đoàn quân “Nam” của Đức: tư lệnh Gerd von Rundstedt bố trí tại nam Ba Lan và Romania phát triển tấn công theo hướng Kiev chiếm Ukraina tiêu diệt khối chủ lực Xô viết tại bờ phải sông Dnepr và phối hợp với quân Romania phát triển tấn công theo bờ Biển Đen chiếm thành phố cảng lớn Odessa, chiếm bán đảo Crimea và Sevastopol căn cứ chính của Hạm đội Biển Đen Xô Viết. Cụm “Nam” gồm 3 tập đoàn quân số 6, 11 và 17, tập đoàn quân xe tăng số 1 của Đức cùng 2 tập đoàn quân số 3, 4 của Romania tổng cộng 41 sư đoàn[1] và 13 lữ đoàn (trong đó có 9 sư đoàn xe tăng)với sự yểm trợ của hạm đội không quân số 4 và không quân Romania. Đối chọi với cụm quân “Nam” là quân khu đặc biệt Kiev sau đổi thành phương diện quân “Tây Nam” của Liên Xô (tư lệnh thượng tướng Mikhail Petrovich Kirponos) với 32 sư đoàn bộ binh, 16 sư đoàn xe tăng, 8 sư đoàn cơ giới, 2 sư đoàn kỵ binh, và quân khu đặc biệt Odessa sau đổi thành tập đoàn quân duyên hải (tư lệnh Trung tướng Yakovlev Timofeevich cherevichenko) với 13 sư đoàn bộ binh, 4 sư đoàn xe tăng, 2 sư đoàn cơ giới và 3 sư đoàn kỵ binh.
Nhiệm vụ đặt ra của quân Đức trong chiến tranh chớp nhoáng là trong năm 1941 bằng các đòn đánh mãnh liệt phải bao vây và tiêu diệt các khối quân chủ lực Xô Viết đối đầu không cho rút sâu vào nước Nga. Đến trước mùa đông năm 1941 quân đội Đức phải tiến đến được tuyến Arkhangensk – Volga – Astrakhan.

Tổng cộng phía Đức và đồng minh có khoảng 5 triệu lính và sĩ quan, tính cả thê đội tấn công và dự bị có khoảng 190 sư đoàn, 5000 xe tăng (trong đó có hơn 3.000 chiếc Panzer T-IV), 4.950 máy bay. Lực lượng này tập trung dọc theo hơn 2.900 km biên giới (1800 dặm) từ bờ biển Baltic phía Bắc đến bờ biển Đen phía nam[4]. Khối tấn công mạnh nhất của Đức là cụm tập đoàn quân “Trung tâm” là cụm gần Moskva nhất, điều này thể hiện quan điểm đánh nhanh thắng nhanh của phía Đức.

Vào thời điểm này, Hồng quân Liên Xô có 230 sư đoàn, với 20.000 xe tăng[2]. Tổng cộng Hồng quân có 5.774.000 binh sĩ, 117.600 pháo và súng cối, 25.700 xe tăng và xe thiết giáp và 18.700 máy bay các loại. Trong đó khối các quân khu Xô Viết dọc biên giới phía tây có tất cả 170 sư đoàn (tại phần lãnh thổ Châu Âu có 149 sư đoàn) và 2 lữ đoàn, khoảng 3 triệu quân (không tính các đơn vị đóng trong lãnh thổ Liên Xô).

Các sư đoàn bộ binh chưa được bổ sung đầy đủ về quân số và trang bị. Các đơn vị thiết giáp phần lớn đang trong giai đoạn xây dựng. Toàn bộ các đơn vị thiết giáp này có 1.800 xe tăng hạng nặng và hạng vừa (trong đó có 1475 xe tăng kiểu mới T-34 và KV). Lực lượng pháo binh của các quân khu phía tây có 34.695 pháo và cối (không kể cối 50 mm), nhưng rất thiếu xe kéo pháo. Lực lượng không quân của các quân khu phía tây lúc này có 1.540 máy bay kiểu mới và một số lớn máy bay kiểu cũ chỉ còn lại số giờ bay rất ít. Kế hoạch xây dựng lại lực lượng không quân: trang bị máy bay mới, hoàn thiện mạng sân bay, cải tiến hệ thống hậu cần đang trong quá trình tiến hành.

Nguồn Wikipedia

%d bloggers like this: