Góp bàn về Hệ giá trị văn hóa Việt Nam ( tham luận khoa học)

Đôi lời góp bàn…

 Chủ bút: Ngày 29 – 5 – 2013, Bộ VHTTDL cùng tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật tiến hành Hội Thảo bàn về: Hệ giá trị văn hóa Việt Nam trong đổi mới, hội nhập. Khách mời có trên 50 nhà nghiên cứu, chuyên gia, nhà hoạt động văn hóa nghệ thuật, nhà báo. Tôi đăng lên đây bài tham luận của mình được mời đọc trong hội thảo.

  • ĐÔI LỜI GÓP BÀN về: Hệ giá trị văn hóa Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập

Nghĩ rằng, tư duy về vấn đề này, trước tiên cần dựa theo nguyên lý phức hợp chứ không nên cố tìm cho đủ, tách – lọc riêng giá trị tốt, rồi bảo đó là Hệ giá trị văn hóa Việt Nam (Hgtvhvn) tựa như gom kho báu. Trừ các hiện tượng cụ thể, còn lại nhiều khi các yếu tố, các mặt nó hòa vào nhau… và làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam.Tuy nhiên, cũng có những dáng nét rõ, như: bản tính chịu khó, chịu khổ cao, tiểu nông, láu vặt, khôn ranh, giỏi biến cải, bắt chước… và nhiều nét còn nhạt nhòa – bảo là của mình cũng đúng mà như các dân tộc khác cũng không sai: thông minh, yêu nước, anh hùng, trọng lễ nghĩa, danh dự, nhưng cũng sỹ diện, ham vật chất danh vọng…. Mặt khác,Việt Nam là nước không hề có truyền thống lý thuyết, lý luận; nhiều khái niệm nhập ngoại, ít có ai hiểu cho thật đúng… càng không có triết thuyết riêng, tới mức – có người nói vui: là khối tự phát vĩ đại (!). Cho nên các hiện tượng đời sống tồn tại tự nó trong tính phức thể chứ không, chưa hoặc ít có hệ hình nhận dạng. Nói cách khác, Hgtvhvn là rất tương đối, là thế mà không hẳn vậy. Nhìn nhận về nó cần có góc nhìn động và linh hoạt, theo trường hợp cụ thể… Nhất là trong thời đại toàn cầu hóa và thế giới phẳng, nếu đi tìm cái thật riêng, tĩnh, nổi bật, thường khó (!). Quá nửa đời với đời sống Việt Nam và tri thức các loại, tôi mới dường như nhận ra rằng, Hgtvhvn là một phức tính đa dạng, lung linh, đa sắc mầu; cảm – nhận thì có phần dễ hơn là khái quát hóa về nó

Nhận thức về mình, về đất nước mình là việc lớn. Ngay cả bộ môn Việt Nam học cũng còn bàn nát nước. Vì vậy, tôi hoan nghênh Hội thảo này và có mấy lời góp bàn, gợi mở theo mạch nghĩ tự do chứ chưa dám kết luận

  • Một số quan niệm về Hgtvhvn:

Trên bình diện tổng thể, bao gồm: văn hóa gia đình, văn hóa giao tiếp – ứng xử, văn hóa tâm linh  – đa tôn giáo, văn hóa pháp lý, văn hóa lãnh đạo, văn hóa công cộng – làng xã và đô thị  ; văn hóa khoa học và giáo dục đào tạo, văn hóa nghệ thuật cổ truyền và hiện đại…Văn hóa vật thể và phi vật thể…

Do cơ cấu Việt Nam là nước truyền thống nông nghiệp, mãi gần đây tỷ lệ dân số nông thôn, nông nghiệp còn tới khoảng trên 70%; vì thế tinh thần, tình cảm tư duy của người Việt nói chung, bên cạnh những ưu điểm, vẫn hầu như nặng căn tính tiểu nông, cục bộ làng xã, tự do, tản mạn, tự phát và yếu lý tính logic. Chỉ khi chống ngoại xâm mới có tâm lý đoàn kết và kỷ luật cao. Đây chính là mặt hạn chế cản trở khi bước vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vốn đòi hỏi tư duy ý thức- lý tính cao

 

Chúng ta đã biết: Văn hóa phương Tây căn bản duy lý, Văn hóa phương Đông duy tình, đặc biệt Việt Nam càng duy cảm, duy tình – như câu thành ngữ: một trăm cái lý không bằng một tý cái tình… Hgtvhvn dường như thường có tính lợi hại lưỡng phân và hay bị vận dụng theo tình huống: “phép vua thua lệ làng”, tâm lý đám đông, vị lợi gia đình dòng họ… Tâm lý ham địa vị: “miếng giữa đình”…, hay kèn cựa so bì vô lý, thích dàn đều mà tiến: “hòa cả làng, chết một đống hơn sống một người, giỏi giầu nó ghét, ngu nghèo nó khinh, chỉ bình bình nó thích”. Hoặc đám đông như hình tượng bầy cua trong giỏ kéo nhau xuống, không cho con nào ngoi lên … Tính dân chủ thấp, bắt nguồn từ văn hóa phong kiến – gia trưởng và cơ chế trì trệ. Nhiều năm, tính tập thể cao hơn tính cá nhân… Cho nên trong thời mở cửa phải biết tiếp thu các giá trị tiên tiến của văn hóa nước ngoài, của phương Tây, đặc biệt là lý tính và dân chủ tính, cá nhân tính… Cá nhân tính và tự do bản thân chính đáng là những yếu tố mới đang được người Việt Nam áp dụng một cách tự phát. Nó cần được cân bằng với cái cộng đồng, tránh sa vào chủ nghĩa vị kỷ và hưởng lạc, chà đạp người khác…Mặt khác: lý tính thích hợp cho khoa học và luật pháp cũng như quản lý xã hội, nhưng cần phòng tránh tác hại cho nhân tính, nhân văn khi nó bị máy móc hóa cực đoan… Do đặc thù lịch sử: chưa qua thời kỳ tư bản và công nghiệp hóa cho nên văn hóa văn minh công nghiệp đô thị cũng còn ở mức thấp: giờ giấc cao su; làm việc ít theo qui trình chặt chẽ; coi nhẹ khế ước, luật tới mức ngay cả người công vụ cũng có khi lạm dụng hoặc vi phạm, không tôn trọng luật giao thông và trật tự đô thị, môi trường…Như các câu: “đường ta ta cứ đi, nhà ta ta cứ xây…, hồn nhiên xả rác, phạt cho tồn tại, cảnh sát giao thông là anh hùng Núp”….Số đông chữ tín chưa cao – thậm chí tới mức: “mất hút con mẹ hàng lươn, đợi chờ dài cổ”…  Và hiện nay thì đáng buồn thay: “dân gian quan tham, suy thoái trong bộ phận không nhỏ” đã trở nên thành ngữ mới. Tính lưỡng phân lợi hại trong trường hợp xấu, sai thường được không ít người vận dụng thủ lợi riêng, cho nên “ cờ tay ai người ấy phất, tư duy nhiệm kỳ” gây tác hại tiêu cực, lãng phí cho đường hướng chung. Cái cực đoan, cực tả… tuy không thuộc tư chất số đông – cũng vậy; khi vì cái tốt, đúng thì rất hữu ích – như lúc chống ngoại xâm, nhưng khi dùng cho cái sai, hỏng, đời thường thì lại vô cùng phá hoại (!). Những nét tiêu cực tính đó, hẳn phải qua một thời gian quá độ/ công nghiệp hóa hiện đại hóa/ mới rời bỏ con người Việt Nam. Vấn đề là quá độ bao lâu? Càng lâu, càng có hại!

Vài chục năm nay, khi bước vào cơ chế thị trường, đã có những lời cảnh báo vang lên về sự” lệch chuẩn”các giá trị, có ngụ ý so với các chuẩn thời chiến tranh, cách mạng, thời bao cấp mà ở đó, nói chung tính lý tưởng tập thể – cộng đồng – sự nghiệp… cao và bao trùm khắp nơi. Cảnh báo đó là đúng  nhưng cũng chưa hoàn toàn, vì tất yếu một số các chuẩn cũ chỉ có thời, qua thời thì thôi. Các chuẩn mới phù hợp sẽ được thời gian xác lập, sàng lọc, điều chỉnh. Trong khi chưa ổn định, nó chao đảo như con lắc và rồi sẽ về vị trí. Vì thế, nếu tìm chuẩn, định chuẩn cho mọi thời thì có lẽ các giá trị muôn đời có tính nhân loại phổ quát: trí, chân, thiện, mỹ, đức, tín, nhân, lý, tình…dễ được chấp nhận hơn. Cho nên hội nhập chính là thời đại của những giá trị phổ quát cần theo hơn là những cái quá bản sắc riêng. Bản sắc rất quí nhưng cần gắn với những tiêu chí nhân loại – quốc tế mới có giá trị cao (!). Ví một cách tương đối, Hgtvhvn cần phải phấn đấu đạt giá trị qui đổi quốc tế  (!). Và những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Việt Nam đã được quốc tế công nhận là những giá trị cao nhất. Tuy nhiên, di sản là cái của quá khứ và thường mang ý nghĩa bảo vật. Cái phục vụ cho hiện tại và tương lai khó có thể sao chép dập khuôn mà chỉ có thể học tập, phát huy tinh thần truyền thống. Đơn cử : Việt Nam có truyền thống hiếu học,  tôn vinh sự học và trong hàng trăm năm đã từng tạo ra tầng lớp nho học đạt chuẩn châu Á. Nhưng hiện nay, nhiều bằng cấp của nước ta thế giới chưa công nhận; chưa có trường đại học nào lọt top 500 của thế giới; nhiều giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ, nhưng quá ít nhà khoa học đầu ngành tầm thế giới, quá ít phát minh, phát kiến khoa học… là ví dụ rõ nhất về chất lượng trí thức và giáo dục đào tạo Việt Nam còn phải phấn đấu nỗ lực rất nhiều nữa. Nói tới quốc tế là một yêu cầu cao, nhưng cần cấp thiết đặt ra vì trên nhiều mặt cơ bản nước ta đã bị chậm, nguy cơ tụt hậu ngày càng lũy tiến và bị lân bang bỏ xa. Viết tới đây, tôi chợt nghĩ, quốc tế – những nước phát triển đáng học tập, thực ra có nhiều giá trị giản dị, kinh phí, qui mô vừa và nhỏ, nhưng rồi họ biết xây đắp, tu tạo, tôn nổi và làm cho trở nên giá trị cao như quốc bảo và khiến thế giới cũng phải chiêm ngưỡng. Ví dụ Hoa Anh Đào hoặc món Susi ở Nhật Bản, bức tượng nàng Tiên Cá ở Copenhagen Đan Mạch, bức tường Tưởng Niệm ở Washington Mỹ…Vì vậy, nhìn ra, cũng không hẳn quá sức, quá cao, nếu nói tới các tiêu chí quốc tế, mà quan trọng là chất lượng và ý nghĩa văn hóa của hiện tượng. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã từng gợi ý: ẩm thực Việt Nam có thể phát huy thành giá trị thu hút quốc tế (!), món Phở và bia hơi Hà Nội là chứng nghiệm, ai cũng thích…

Dù thế nào thì trong phức hợp thực tế phong phú có hay có dở…, vẫn cần lọc ra những cái tinh túy ổn định nhất tựa như di sản phi vật thể, đặng biết mà  phát huy không để mai một; ví dụ đức tính chịu đựng, khả năng vượt qua khó khăn gian khổ… Ở nhiều vùng sâu, địa phương xa hiện nay, nét đẹp này vẫn vậy, như trường hợp: có cháu đi xe đạp 300 km đến thành phố trọ, dự thi  đại học; riêng đức hy sinh lớn lao thì có lẽ khó mà kể hết. Nhưng cũng đừng vì thấy giỏi chịu đựng, chịu khổ, nhẫn nhịn, hy sinh… mà khen, mà khích người ta cứ mãi thế. Cái cần là, khi có thể phải cải thiện hoàn cảnh, giúp họ thoát khổ…Nhưng ưu tính khác: đa số đều trọng sự học, trọng thầy, trọng tình cảm thân thuộc… “ nửa chữ cũng là thầy, muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy; anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương…”. Cũng biết trọng những cái sang giầu thẩm mỹ đích thực: “ tốt gỗ hơn tốt nước sơn, cái áo không làm nên thầy tu, y phục phải xứng kỳ đức, nghề chơi cũng lắm công phu, đàn gẩy tai trâu, ba năm ở với thuyền chài, chẳng bằng một phút ngồi bên thuyền rồng, thà một phút huy hoàng rồi chợt tối còn hơn buồn le lói suốt trăm năm…”. Các phẩm tính như vậy khá ổn định qua hàng trăm năm, kể cả chiến tranh, hậu chiến đói rét…Nên phát huy lắm chứ!

Những cái hay tạm kể như trên cũng cần được nhìn trong tương quan với cái hay của các nước xung quanh và thế giới để không rơi vào tự tôn thái quá. Ví dụ người Lào, người Thái nhìn chung họ nhẫn nhịn ôn hòa hơn người Việt. Hay phẩm tính yêu nước, dũng cảm, anh hùng, thông minh, nhân ái… khó mà nói người Việt là hạng nhất (!). Có nét hay nhưng không nên tự phụ, tự thị, có mặt dở nhưng đừng tự ty; miễn là cần nhận ra, sửa bỏ. Vì suy cho cùng, chưa dân tộc nào, nước nào hoàn hảo cả!

Mẫu tính, nữ tính cũng là nét khá rõ trong văn hóa Việt Nam: tục thờ mẫu, hình tượng mẹ, nhân vật nữ trở nên như biểu tượng – nữ và người mẹ trong ca dao tục ngữ – chỗ ướt mẹ nằm chỗ ráo cho con; trong truyện kể dân gian: Tấm Cám, Quan Âm Thị Kính, và cả trong văn học nghệ thuật hiện đại – các nữ nhân vật tiêu biểu dường như nổi hơn nam nhân vật. Trong đời sống cũng vậy, có tới hai ngày kỷ niệm cho phụ nữ và danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng, nhưng nam giới hoàn toàn không có. Ngoài đời thì trẻ thơ đi đâu xa nhà cũng nói nhớ mẹ chứ không nói nhớ bố. Mặc dù ca dao vẫn có câu: “gần cha con ăn cơm cá, gần mẹ gặm lá gặm xương”. Có lẽ do bố thương con kiểu khác, hay đe nẹt và có khi dữ đòn

 

  • Điện ảnh với tư cách là một nghệ thuật đại chúng hiện đại, sáng tạo hình tượng tổng thể, tổng hợp, phản ánh hiện thực, con người Việt Nam, đã đóng vai trò gì vào Hgtvhvn?

Thực ra về mặt lý luận sáng tác, các nhà làm phim hầu như chưa có ý thức về vấn đề này; nó cũng chưa từng được bàn thảo như vấn đề hiện thực hay lịch sử hoặc bản sắc dân tộc. Tuy nhiên trong tính biện chứng, thì nó xuất hiện từ tâm cảm tự nhiên của nghệ sỹ và liên quan các hệ luận  nói trên. Cho nên, tất yếu mấy chục năm qua, hẳn có nhiều bộ phim đã nói về Hgtvhvn với những chủ điểm chính như phần trên đã nêu

– Trong những năm đầu đổi mới, hàng chục phim :  Cô gái trên sông, Hà Nội trong mắt ai, Chuyện tử tế, Tướng về hưu, Người rừng, Anh và em, Thị trấn yên tĩnh, Thằng Bờm, Gánh xiếc rong,…của các đạo diễn như Đặng Nhật Minh, Trần văn Thủy, Nguyễn Khắc Lợi, Nguyễn Văn Thông, Trần Vũ, Việt Linh, Lê Đức Tiến, …  đều phê phán mạnh mẽ những nét tiêu cực của lối sống con người Việt Nam; qua đó như một phản đề nêu bật cái hay cái tốt. Xu hướng này đã được người xem hưởng ứng, vì nó đáp ứng mong muốn nhìn nhận lại các giá trị, sau nhiều năm khá đồng giọng, đồng ca khẳng định, minh họa. Điều đó cũng như bên lĩnh vực văn học có truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, sân khấu có các vở kịch của Lưu Quang Vũ đã tạo nên hiện tượng sôi động…

– Tiếp theo cho tới nay, mạch phim nhìn lại, phê phán, chính luận có phần rải rác thưa thớt, nhưng có phần đằm sâu hơn, cả trong khẳng định, phủ định và đi vào nhân tính. Có thể kể tới các phim như: Cỏ lau, Đời cát, Bến không chồng, Mùa ổi, Người đàn bà mộng du, Bụi hồng, Thời xa vắng,Vào nam ra bắc, Đừng đốt, Mùi cỏ cháy

Về phẩm chất chịu đựng gian khó, đức hy sinh lớn lao của người Việt Nam trong hàng chục năm chiến tranh và hậu chiến, có lẽ là chủ điểm bao hàm trong hàng trăm phim mà ta khó kể hết. Và đó chính là đóng góp khá rõ của phim Việt Nam vào việc biểu đạt những nét tích cực của Hgtvhvn!

Tuy nhiên, phim cũng như các loại hình nghệ thuật khác, cũng chỉ có thể làm được chức năng của nó là thể hiện khát vọng, ánh xạ và tiếng dội của thời gian, thời đại chứ không thể tạo nên nền tảng quyết định cho các giá trị văn hóa phát triển. Truyện Kiều dù là kiệt tác cũng không thay đổi được xã hội vua quan xung quanh mục rã suy tàn, mà chỉ như tiếng kêu thét, thở dài, than đau…

  • Để xây dựng Hgtvhvn tiên tiến, dân tộc và hiện đại, đáp ứng yêu cầu đổi mới – hội nhập, vấn đề quyết định là ở môi trường thể chế xã hội!

Mong muốn một hệ Gtvhvn khả thi, hiển nhiên là:

– Dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, phát triển bền vững!- Khẩu hiệu mà ai cũng thuộc.

Nhưng đó là mục đích và ước mơ. Nước nào cũng phải hướng đến, nước ta không ngoại lệ. Nếu không đạt các mục tiêu đó, thì Hgtvhvn cũng khó tồn tại phát triển, nếu không nói là tàn hủy (!)

Cần đến bằng phương tiện gì, ra sao (how?) mới là điều phải bàn!

Hãy! dù muộn, học tập kinh nghiệm nước Nhật: bảo vệ được tinh hoa văn hóa dân tộc nhưng cũng phát triển canh tân hiện đại hóa để giầu có rất thành công. Trước hết, họ “ thoát Á”, mở cửa hội nhập với văn minh công nghiệp duy lý phương Tây. Các quốc gia khác: Hàn Quốc, Singapore… với cách đi tương tự Nhật Bản và cũng đã vươn lên thành nước giầu mạnh cả kinh tế và văn hóa. Mặc dù các nước đó đều ảnh hưởng nặng Khổng giáo song họ vận dụng cái hay, cái thích hợp của Khổng giáo vào cuộc sống hiện đại: tính kỷ luật, trật tự, bổn phận, trách nhiệm, tính thực chất cùng các tư chất trí, nhân, dũng, tín… Đạo phật ở Hàn Quốc cũng có truyền thống lâu đời nhưng đã góp phần tích cực vào đời sống thời công nghiệp hóa: là nơi tu dưỡng tâm linh và du lịch văn hóa song không bị rơi vào lễ bái mê tín dị đoan ( mà ở ta đang có nguy cơ).

Như vậy, phải hiểu “ thoát Á” không phải là rời bỏ truyền thống Á đông mà là thoát cái hạn chế trói buộc của hệ hình cũ, tàn tích cũ; không bị rơi vào lưỡng phân khi lựa chọn: đâu là tinh hoa truyền thống, hay; và đâu là dở, bất cập. Vấn đề này tiếp tục đòi hỏi các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử… phân tích

Sự nghiệp đổi mới mà đảng ta khởi xướng chính là nhằm mục đích canh tân toàn diện đất nước trong đó có văn hóa, với mục tiêu cao cả: tạo nên nền văn hóa Việt Nam tiên tiến giầu bản sắc dân tộc. Bản sắc dân tộc cần phát huy chính là những giá trị văn hóa tinh túy và tốt đẹp, vì vậy cần sàng lọc thoát bỏ những cái tiêu cực, những phản giá trị, như: tiểu nông, cục bộ, ích kỷ, đố kỵ nhỏ nhen, vị lợi ích nhóm, sỹ diện hão, bệnh hình thức, bệnh khuyến sùng địa vị chức vụ, coi nhẹ chuyên môn – chuyên gia, bệnh thành tích, và nhiều bệnh khác trong căn não người Việt

Và cũng rất cần nhìn lại quá trình hội nhập – tiếp biến văn hóa, chính trị, kinh tế trước đây – có lúc mang tính cưỡng ép và tình thế lịch sử: với Trung Hoa thời phong kiến, thời thuộc Pháp, thời cách mạng giành độc lập, thời bao cấp – nước ta đã được gì, mất gì, cái gì nên giữ, cái gì nên bỏ… Để mà tránh sai lầm (!). Mô hình kinh tế thị trường khởi ra từ 1986 giúp Việt Nam nhanh chóng thoát thiếu thốn đói nghèo và vươn lên chẳng phải là minh chứng tốt cho sự thoát bỏ cái sai  của lề lối kinh tế chỉ huy tập trung – tập thể quan liêu được du nhập từ Liên Xô cũ hay sao (!). Trong khi Cu Ba, Triều Tiên vốn đồng dạng mô hình, vẫn cơ bản là loay hoay, thiếu ăn…. vì chậm hoặc chưa chịu gỡ bỏ cơ chế cũ

Như vậy: thể chế – mô hình điều hành xã hội với vai trò quyết định, cần tiếp tục đổi mới toàn diện và hội nhập mạnh mẽ! Cần cải cách thể chế theo hướng thị trường – pháp trị – dân chủ, xã hội ( hóa !) thích ứng với yêu cầu phát triển và khát vọng của dân tộc với xu thế thời đại. Cần tiếp tục mở rộng tiếp thu, phổ biến và mạnh dạn, chọn lọc, áp dụng tri thức, lý luận, khái niệm mới, tiên tiến của thế giới vào thực tiễn nước ta. Từ đó tạo ra môi trường mầu mỡ cho các Hgtvhvn nảy nở tốt tươi ./.

Chân tâm cảm ơn Ban tổ chức Hội thảo và chúc các đại biểu mạnh khỏe!

ĐML! ( Bài  của mình năm 2013 nhưng bất chợt vào Bolog đọc lại thấy hiện thời chưa có gì khác tức nguyên giá trị và đáng chia sẻ thêm bạn đọc )

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: