Tô Hoài – Nhìn từ một khoảng cách gần (bài hay, ST lưu tư liệu tham khảo)

Tô Hoài – Nhìn từ một khoảng cách gần

  •   Vương Trí Nhàn
  • Chủ nhật, 03 Tháng 1 2010 17:54
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
 ·         Những suy nghĩ về tác giả và tác phẩm
·         Những cuộc trò chuyện với nhà văn
·         Tô Hoài nói về nghề và nói về người khác
·         Người khác nói về Tô Hoài
 1986
 Những suy nghĩ khi nhớ lại Tự truyện
Một xuất phát tốt là thiên hồi ức Cỏ dại. Hình như thời thơ ấu không may mắn đã giúp cho người trai ấy có sự tỉnh táo, biết vị thế của mình trong đời. Cái gốc của Tô Hoài là một linh hồn bơ vơ. Một người thợ thủ công “cỏ dại” chính cống. Sau mới có  một con người cán bộ — cán bộ  viết văn – trùm ra ngoài.
Cái giọng riêng của Tô Hoài bắt đầu từ đâu? Câu văn như bước chân người kéo lê đi, lại như tiếng thủ thỉ để chứng tỏ là con người đó vẫn sống, không bao giờ chấp nhận sự cùng đường. Văn Tô Hoài không gợi cảm giác sang trọng mà thường ăn ở cái vẻ miên man không cùng; sinh động tự tin, nhưng lại vẫn có chút hậm hụi, hèn hèn tội tội như thế nào đó. Một câu trong Xóm giếng ngày xưa “Tôi vẫn quen với những nhem nhọ”.
Về kỹ thuật viết
Như nhiều người đã nói (trong đó có Hoàng Tiến), Tô Hoài mạnh nhất khi tả phong cảnh, tả những ấn tượng của người viết. Từ đoạn này sang đoạn khác, nhiều khi chuyển rất đột ngột, không đếm xỉa gì đến người đọc. Nhưng vì cái duyên, người ta bị hút ngay vào những đoạn rẽ ngang rẽ dọc đó.
Tôi nghĩ rằng Tô Hoài không biết rõ nhân vật và ông không để ý đến nhân vật bằng phong cảnh. Nhân vật của ông như người qua đường không hiện lên như những tính cách mãnh liệt muốn thể hiện ý mình, mà chỉ để làm cớ cho tác giả kể chuyện.
Các loại nhân vật
Chỉ có một lần, Tô Hoài tả nhân vật có chí khí và có tầm nhìn xa – Dế mèn.
Chỉ có một lần, Tô Hoài tả loại người quật khởi – đó là A Phủ.
Còn ngoài ra các nhân vật của ông đều là là sát mặt đất; pha tạp, không thuần nhất; mặt mày nhòe nhoẹt; tồn tại theo kiểu khật khà khật khưỡng. Người ta hơi khó nghĩ khi xếp họ vào những loại người cụ thể. Nhiều người là loại tầm thường.
Sự tồn tại giữa đời
Mỗi lần nghĩ đến Tô Hoài, tôi vẫn lạ vì sao có một người khinh người rẻ của như vậy, lạnh lùng như vậy, mà vẫn sống giữa người đời rất nhẹ nhàng, và đi đâu cũng lọt. Hay là sự chân thành của Tô Hoài và người đời cũng rất thật mà tôi chưa nhận ra (Phạm Thế Ngũ trong Việt nam văn học sử giản ước tân biên in ở Sài Gòn trước 1975 coi Tô Hoài thuộc loại ngòi bút nhân hậu bậc nhất hồi tiền chiến).
Một số tác phẩm
Tự truyện cho thấy cái đời thường duyên dáng của một người làm nghề.
Nét nổi bật của Một quãng đường đoạn tả nhà văn lang thang đi ăn xin. Chất “bạc nhạc”. Những đoạn không đâu vào đâu như thế, cung cấp tốt tài liệu cho những người viết tiểu sử ông. Cho người ta hiểu thế nào là một con người, nhất là loại ta hay gọi là “nhân dân lao động”.
+ hóm hỉnh, gần nhân tình, nhạy bén.
+ ngấm ngầm ham hố, cũng đi lừa mọi người sau khi đã bị người lừa.
+ không thể lớn được, nhưng không chết, lầm lụi dai dẳng, để rồi lại mãi mãi sinh sôi.
Bề ngoài có tính chất dân gian, song thực ra đó cũng là một quan niệm hiện đại về thế giới này, ở đó con người vừa có mặt, vừa vắng bóng; mọi hoạt động vừa là làm, vừa là chơi; tác phẩm vừa là tinh tuý, vừa là độn; con người vừa là cán bộ, vừa là dân thường. Dễ từ bỏ nhau, dửng dưng với nhau, như đã dễ gần gũi với nhau.
Những con người trong đó biểu hiện rõ cuộc Cách mạng này – Nảy sinh từ xã hội cũ, họ lại là động lưc chính phủ nhận nó và lang thang đi tìm một cái gì khác dù không biết rõ cái đích mình đến.  
Trong bài viết về Nguyễn Bính, Tô Hoài bảo trong đời sống văn học trước 1945, người lẫn với ma, đó là cái thời nửa người nửa ma.
Theo nghĩa này có thể bảo chính ông như một con ma, trong ông có một con người nghĩ ngược với những điều đang viết.  Lúc nào ông cũng có nhu cầu tố giác mọi người, lật tẩy mọi người – kể cả lật tẩy chính mình. Lúc nào ông cũng đắm đuối trong một vài ý nghĩ tinh quái nào đó.
Người sùng bái sự không thiêng liêng của cuộc đời  ̶ Tô Hoài đáng được định nghĩa như vậy.Trong Tô Hoài luôn luôn có cái xu thế muốn xúi giục chúng ta viết văn thực sự, làm người thực sự, tuy ông vẫn nghĩ:
– Như thế thì mệt lắm, mà cũng chả đi đến đâu.
Trong con mắt những đồng nghiệp
Ý Nhi kể: Ông Tô Hoài thấy cái ảnh của mình ở 45 truyện ngắn cho một câu “Mình mà cũng đẹp nhỉ. Mình như Tây thế này còn gì.”
Kim Lân: Tô Hoài là người rất từng trải, chịu chơi với anh em lắm, đâu cũng đi (mà vẫn giữ được mình). Nguyễn Đình Thi khi làm Tổng Thư ký, không dám ra quán rượu thịt chó với anh em nữa. Tô Hoài thì làm tất. Dễ dàng lắm. Rồi lại vào kiểm điểm nhau như chơi.
Thợ Rèn có ý tương tự: Ông ta sẵn sàng uống rượu, nói bậy với anh em, rồi lại đứng lên thay mặt chi uỷ, phê phán anh em.
Lê Minh Khuê nhớ lại một lần bầu Quốc hội: Gớm, ông Tô Hoài ông ấy ra tranh cử, ông ấy nói cũng chẳng khác gì xã luận hết, điếc cả tai.
Vũ Hùng: Tôi đọc Chuyện đường xa, thấy lạ. Tô Hoài viết quá nhiều chuyện mà anh không biết, ví dụ chuyện vệ tinh, chuyện bay trên máy bay, đi ngược ngày thế nào. Cái gì anh ấy không biết, anh ấy phải hỏi người khác chứ?
Trong một số truyện ngắn, Tô Hoài luôn luôn thù ghét với những người không ở cái căng ( tiếng Pháp camp  ̶  chỉ phe nhóm, trận tuyến) của mình. Luôn luôn thấy căng của mình mới hay ho tốt đẹp, mọi nơi khác, không ra gì!
Tôi (Vũ Hùng) thấy anh  ̶  Tô Hoài  ̶  không bằng anh Võ Quảng. Anh Võ Quảng hôm nọ bảo tôi: Nhà văn không nên để mình quá bị ràng buộc vào một quan niệm nào đó. Chỉ có một quan niệm mà, theo Võ Quảng, chúng ta phải trung thành – đó là quan niệm nhân bản.
Tô Hoài cũng có cái nhân bản của mình, chỉ có điều cái nhân bản đó, không có được cái tầm như ở những ngòi bút kiệt xuất.
 Mối quan hệ với đồng nghiệp
Sau 1975, vào Sài Gòn, Tô Hoài rủ Nguyễn Tuân thăm Vũ Bằng. Nguyễn Tuân không đi, coi như không trở lại chuyện cũ. Tô Hoài đã đi thăm thật. Cũng như Tô Hoài đã lặn lội về thăm Nguyễn Bính, sau khi Nguyễn Bính mất. Hình như việc gì người khác không dám làm, thì Tô Hoài dám làm, luôn luôn Tô Hoài muốn chứng tỏ rằng mình không sợ gì cả. Trong bụng dám cho rằng mình đi với ai cũng được.
Bùi Hoà nhớ một vài lần đến gặp nhà chính khách Nguyễn Văn Bổng, lại gặp Tô Hoài ở đấy. Hai ông trao đổi cho nhau mấy quyển tiếng Pháp. Sao Tô Hoài cứ lẩn lẩn, thằng Hân cũng có cái tính hay lẩn kiểu ấy, Bùi Hoà kết luận.
Không chừng cái cách sống ấy có ở nhiều người. Chẳng hạn như Nguyễn Kiên. Né tránh mọi người, giữ miếng, không thích bàn kỹ về điều gì cả, vì ngại bộc lộ đến cùng con người mình trước người khác.
Con người làm bằng chất dẻo
Chuyện ở Hội Văn nghệ Hà Nội, báo Người Hà Nội. Bằng Việt kể: Ông Triệu Bôn có vẻ vùng vằng, nghĩ rằng mình đi vắng 2 tuần, ở nhà báo sẽ chẳng ra sao. Ai ngờ, cũng xong. Tô Hoài mủm mỉm cười, làm tuốt.
Bùi Bình Thi kể về thái độ chịu chơi của Tô Hoài. Tô Hoài đang có chuyện gì đó làm mọi người bực ra mặt. Văn Linh cáu. Muốn xin lỗi, thừa lúc Văn Linh quay ra phía khác, Tô Hoài thò tay bắt tay Văn Linh từ phía sau, nắm thật chặt. Văn Linh có cáu mấy cũng đành đặt tay mình trong tay Tô Hoài.
Nguyễn Minh Châu: Tô Hoài bao giờ cũng có xu thế muốn làm vừa lòng người nói chuyện với mình. Hễ mình nói cái gì động chạm là lão chuồn ngày, lảng sang chuyện khác ngay.
Tô Hoài hỏi Xuân Quỳnh:
– Có phải cô bảo tôi là vừa đá bóng vừa thổi còi phải không?
– Vâng, em bảo anh thế đấy! (có liên quan đến một giải thưởng)
Tô Hoài không nói gì, sau vẫn gửi sách tặng Xuân Quỳnh (cuốn Nhà Chử)
Nói chung, theo Ý Nhi, Tô Hoài tỉnh bơ như không, khi nghe người khác chỉnh mình, cười mình, vạch cái xấu của mình. Tôi nghĩ, ông như có cái khoá tốt, khoá tạch lại một cái, thế là mọi ý kiến về ông ở ngoài.
Theo nghĩa rộng, Tô Hoài rất khớp với xã hội Việt Nam hôm nay. Đọc lại Tự truyện, thấy tưng tức. Người tài quá, mà lại cũng khinh người rẻ của, ma giáo quá. Dương Thu Hương: Lão Tô Hoài là loại Hà Nội móc cống, xích lô, chứ đâu có chất quý tộc như dân Hà Nội thực thụ.
Một kiểu làm ăn tùy tiện
Thỉnh thoảng liếc qua báo Người Hà Nội, tự nhiên thấy nhếch nhác quá. Mà do Tô Hoài làm đấy. Từ người phụ trách báo đã khinh thường tờ báo của mình biết bao.
Một lúc nào đó tôi buột miệng nói: nếu tất cả chúng ta đều là cặn bã, thì loại như Tô Hoài vừa là cặn bã của xã hội cũ, vừa là cặn bã của xã hội mới.
Đọc lại bài viết Núi Cứu quốc (Nguyễn Đình Thi), thấy có câu “Tô Hoài thú Việt Bắc nhưng không yêu Việt Bắc.”
Có lẽ với cả cuộc đời này cũng vậy, Tô Hoài đâu có yêu. Một mặt, đó là người chả có nguyên tắc sống gì (dân ngoại ô không có nghề chuyên, chỉ đi làm thuê, việc gì cũng có thể làm; người ta chỉ thuê một lần, sau này cũng chả nhớ mặt nhau nữa). Mặt khác, đó lại là một cán bộ biết vươn lên trong xã hội, cũng thích công danh lắm.
Phan Thị Thanh Nhàn bảo: Bây giờ Tô Hoài vẫn bảo là không phải làm báo cho bạn đọc, mà là làm báo cho tuyên huấn họ đọc.
Nhàn: Tôi ngờ rằng lúc vào nghề, ông Tô Hoài đã bị những người trong nghề coi thường lắm nên bây giờ ông ta mới lang thang đủ nơi mà chẳng dính vào nơi nào hết. Kim Lân: Không, căn bản là vì Tô Hoài rất chịu chơi, lúc nào cũng sẵn sàng đi chơi với mọi người, tuy chẳng để làm gì, chẳng để yêu bạn bè hơn, nhưng cứ thích đi.
 Nói về người khác
Thường chỉ cần một hai câu, Tô Hoài cũng đủ giết người ta rồi.
– Con người ta thật là buồn cười. Như cô Tú bây giờ, lúc nào cũng nói “in được một bài thơ, đối với tôi bây giờ, còn sướng hơn in một tập truyện ngắn”.
– Không ngờ đời sống làm cho ông Thông ông ấy đổ đốn như vậy chứ hồi ở Việt Bắc, ai cũng yêu nhớ. Trẻ này, chịu học này, đọc được cả chữ Hán lẫn chữ Pháp, nên cần gì là nghiên cứu được cái ấy, mà lại đặc biệt tín nhiệm về chính trị nữa. Mình vẫn ngờ cái loại nhà văn về Hà Nội bằng con đường Thái Nguyên. Ít nhiều vẫn có chất tỉnh lẻ của nó!
Tô Hoài kể về một kiểu người nhạt nhẽo.
– Chả là tôi cũng là loại tác giả được phân công có người chuyên môn theo dõi. Người ấy chính là cô X. Một hôm cô ấy bảo tôi “Em nghe người ta bảo anh với chị bằng mặt nhưng chả bằng lòng, mà anh lại lòng thòng với chị N. phải không?” “Mồm thiên hạ vẫn thế. Hay là để tôi gọi nhà tôi lên cho cô tin nhé!” “Nghĩa là không có gì?” “Toàn chuyện vớ vẩn đồn thổi!”.
Thế là cô ta sung sướng như chính cô ta được minh oan. “Có thế chứ, có thế chứ!”
Về sau, Nguyễn Kiên bình luận: Ông Tô Hoài vẫn có cái lối đóng kịch kiểu ấy. Cứ làm như mình sòng phẳng lắm ấy!
 Nói về chữ nghĩa
– Tôi thấy luôn luôn người ta có thể viết cho gọn hơn. Từ 5 dòng, tôi có thể co lại, còn độ 3 dòng, hay 2 dòng. Trong ba chữ một cái đèn, thể nào cũng có thể xoá bớt, chỉ còn hoặc là một đèn, hoặc là cái đèn.
Tôi (VTN) nghĩ: đi mà xoá văn Nguyễn Tuân!
Nhưng một phát hiện khác của Tô Hoài thì có thể chấp nhận được:
– Cái bài Chữ và câu văn của tôi còn có đoạn nói đến biền ngẫu ở Nguyễn Khải. Thế mới biết biền ngẫu nó vào mình tự nhiên thật ( đoạn chê này, đến lúc in, thì trường Nguyễn Du, nơi in tập sách có bài Chữ và nghĩa nói trên họ xoá hết!)
Tầm vóc văn chương
Đọc những nhà văn lớn ở nước ngoài, thấy rõ người ta định lớn – người ta muốn cạnh tranh cả với Chúa! Các nhà văn Viẽt Nam ở trình độ khác. Từ Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân tới Xuân Diệu Tô Hoài, luôn luôn ở người ta chỉ có cái ao ước là tìm ra một chỗ đứng trong đời sống, len lỏi để có thể bám trụ được, và từ đó nhìn ra với nụ cười hể hả: ta không chết.
Và nỗi lo lớn nhất là cạnh tranh với các đồng nghiệp ghi điểm trước đồng nghiệp. 
Đọc lại truyện ngắn viết trước 1945, thấy nhà văn này có lý để tự kiêu, truyện rất hay, tự nhiên. Có một chút gì đó thanh thoát hơn các truyện của Nam Cao nữa. Nhưng thấy Tô Hoài ảnh hưởng đủ thứ kể cả Nguyễn Công Hoan (truyện Ma đè).
Ý nghĩa xã hội
Đọc Tô Hoài, thêm hiểu tại sao lại có Cách mạng tháng Tám. Tình cảnh dân ta trước 1945 khá rõ.
– Một xã hội đẹp nhưng quái gở. Đàn bà quyết định tất cả (truyện Một người đi xa). Thế nào người ta cũng có lý, cũng nói được.
– Một xã hội quá tù túng. Những yếu tố lạ, nhưng yếu tố ánh sáng, có le lói đến ( những đoạn tả người ở quê ra tỉnh, người ở tỉnh về) những chưa giải quyết được bế tắc. Tỉnh thành phố xá nào có ra gì, cũng buồn bã, yếu đuối, không đủ sức phá vỡ sự tẻ nhạt của nông thôn công xã.
Những trang Tô Hoài tả việc lên phố của mình (trong Cỏ dại), câu chuyện lên Hàng Mã ở, sao vẫn chỉ như là dấu hiệu cho thấy một sự bất lực. Ngưng đọng, trì trệ là đặc điểm chính của những xóm ngoại ô này. Có cố thì cũng đến thế thôi.
Có cả những bệnh không chữa mà khỏi, lẫn những bệnh không bao giờ chữa khỏi. Có cả những ao ước mơ hồ, lẫn lời hứa phiệu ngay từ đầu đã không ai tin.
Tô Hoài hay có lối tả con người dù đã qua nhiều bước phiêu lưu, vẫn trơ lại trước mọi tác động, con người mặc dù có vẻ rất nhạy cảm nhưng cuối cùng đâu vẫn đóng đấy, nhân vật đi qua cuộc đời mà rút cục mình vẫn là mình.
Niềm tự tin
Lại Nguyên Ân kể về một ông bán sách cũ: bán ra thì rất đắt, coi như sách của mình đi khắp cả nước tìm không ra; mà mua vào thì nhìn dửng dưng, nhạt nhẽo, y như không cần, nhìn sách bằng nửa con mắt.
Tôi muốn mượn mấy câu này để nói về “thần thái” của Tô Hoài. Trong Tô Hoài có chất của dân buôn bán Bắc bộ, nghèo nàn, chắc lép; lại có chất của dân công chức thuộc địa, cốt làm xong việc lấy lương, còn đâu kệ thằng Tây; có triết lý của người người hư vô, thây kệ đời bởi hiểu mọi cố gắng chỉ vô ích, vậy thì cứ sống cho thoải mái, đến đâu hay đến đấy. Tô Hoài là một hãng hàng thật hàng giả đều làm được, cũng biết người biết của, mà nhìn chung đối với sự đời chả coi cái gì ra gì hết.
 Những năm chín mươi
 1/1990
Một chuyện đáng nhớ ở Đại hội nhà văn III: Tô Hoài mai đi Le Caire Ai Cập họp Hội nghị Á Phi rồi, hôm nay vẫn giữ tên trong danh sách bầu chủ tịch đoàn. Phan Hồng Giang tố ra giữa hội trường để còn dành chỗ cho người khác. Ai cũng nghĩ ê cả mặt.
Nhưng Tô Hoài coi như không có chuyện gì xảy ra. Sau Đại Hội vẫn đến Hội Nhà văn. Nghe đâu, số Tác phẩm văn học này, lại có bài điểm sách Tô Hoài.
Sức sống của nhà văn này cho tôi hiểu thế nào là sự phong phú của con người, nhất là loại người từng trải. Có thể nói ở mỗi con người loại này có những con người khác nhau. Trước công việc, một con người khác – đôi khi là Chúa – chi phối anh ta. Trong khi đó, thì ngoài đời, anh ta vẫn tiếp tục phiêu lưu, lang thang, hưởng thụ, hư hỏng. 
Phan Thị Thanh Nhàn kể: Ông Tô Hoài làm ở cơ quan báo, lại Hội nữa, ăn hai lương như Bằng Việt, mà chả bao giờ đến cơ quan cả.  
Theo Nguyễn Kiên, cái vụ Đại hội thì dơ thật. Nguyễn Kiên giải thích thêm, sở dĩ lúc bấy giờ ông Tô Hoài còn nấn ná chờ có được chút gì không, theo mình biết là vì ông nghe rằng hình như trên sẽ can thiệp vào Đại hội, nhân sự sẽ do trên xếp, và như vậy, thể nào ông cũng có phần. Ấy, kinh nghiệm xưa nay vẫn là như thế, chỉ có điều lần này kinh nghiệm đó không đúng nữa.
Nhân chuyện gì đó (à, chuyện về tạp chí của Hội), tôi bảo:
– Hình như ông Tô Hoài sẵn sàng làm.
Nguyễn Kiên:
– Ông ấy thì cái gì chẳng nhận. Rồi cũng chẳng làm mà cũng chẳng bỏ, nghĩa là làm cứ như đùa. 
Ngày thứ ba 20/2, Hội đồng văn xuôi họp. Nghe anh em kể thì Tô Hoài giở giọng ngang phè (Ma Văn Kháng gọi là “giả lão, bán lão”, cậy mình là già, lợi dụng tuổi già của mình) :
– Tôi bây giờ chả sợ gì nữa. Ông Tố Hữu còn sợ, tôi chẳng sợ.
– Đọc báo là tôi cứ tìm cái dở nhất tôi đọc. Đọc thơ. Mà lại thơ Huy Cận, thơ Nguyễn Xuân Sanh hẳn hoi. Toàn thơ in theo chiếu mà, nên muốn hiểu ai lên ai xuống ai đứng yên mình phải đọc .
– Thời buổi bây giờ hỗn loạn, bỏ cái minh hoạ hôm qua, thì lại minh hoạ cho cái đổi mới hôm nay.
– Thì những giải văn chương trên chính trường bây giờ, như giải Nobel, nó cũng đều là chính trị cả.
Có một chút gì trơ tráo trong tất cả những lời bộc bạch đó. Anh em người ta cãi lại, anh mà không minh hoạ à, anh mà không có chiếu à, chiếu lớn là đằng khác. Anh bảo giải Nobel chính trị, thế giải Bông Sen của anh (Phạm Thị Hoài: Bông Sen hay Hoa Sen tôi cũng không biết nữa), mà không chính trị à? 
Nghe Đỗ Trung Lai nói lại, Bằng Việt bảo phải cho Tô Hoài về hưu thôi, Tô Hoài cũng 70 rồi (Bằng Việt vẫn là nhân vật số 1 của Văn nghệ Hà Nội ).
Chắc có lẽ thế, nên Tô Hoài chạy vạy đủ các nơi.
Hoàng Cầm: Tô Hoài đúng là một con chuột ngày, khôn lắm. Khi mà Tô Hoài muốn lấy lòng mình, lão rất khéo. Để rồi sau đó, lại phản ngay được.
19/6/90
Loại như Tô Hoài — đó là sản phẩm của quá trình dân chủ hoá trên thế giới này (quá trình dân chủ hoá tất yếu mà Likhatchev đã có lần nói tới cũng là một xu thế chung của văn học mình, từ thế kỷ XX ). Nhưng dân chủ mà thiếu phần quý tộc, chỉ là dân chủ trong tầm thường, nhảm, thấp.
11/7/90
Ngồi cạnh Tế Hanh nghe ông nói với ai đó rồi quay sang gật gù bảo với tôi :
– Anh Tô Hoài còn trẻ mà nhanh nhẹn lắm.
Tôi máy mồm, không kìm được, độp luôn:
– Nhanh nhẹn và tham lam nữa, nên đúng là trẻ thật.
Nguyễn Đình Nghi:
– Tô Hoài thường bảo rằng Tự lực văn đoàn không trả tiền mình. Nói thế chỉ là thấy việc nhỏ mà không thấy việc lớn. Lệ hồi ấy, ai mới gửi mà được đăng lần đầu đều không trả tiền. Còn về truyện Con gà ri (khi đăng trên Chủ nhật còn giữ cái tên là Mê gái – V.T.N.). Bố tôi là người đọc văn xuôi. Có đống bản thảo, tôi biết đã định loại đi, nhưng thấy tiếc moi xem lại lần nữa. Phát hiện ra truyện của Tô Hoài, thế là ông thuê xe lên ngay nhà Thạch Lam và hai ông cho đăng ngay ở số gần nhất. Sao lại bảo là ông vô trách nhiệm được.
(Cũng Nguyễn Đình Nghi: Đừng tưởng như Nguyễn Công Hoan mà là chân thực đâu. Trong Đời viết văn của tôi cũng khối chỗ nói dối!) 
Người ta kể rằng, ở Hội nghị của Hội đồng văn học thiếu nhi, Văn Linh chửi ầm lên: Tôi chán các thứ hội đồng này lắm rồi. Lúc nào cũng từng ấy mặt chẳng nhẽ không ai thay được à?
Quang Huy cũng phụ hoạ cái giọng đó. Nhưng Tô Hoài kệ. 
Trong đầu óc mọi người ở Hội, Tô Hoài vẫn là một nhân vật không thể thiếu. Khi người ta có ý định lập ra tạp chí Văn học nước ngoài, thì ông Tổng biên tập mà người ta nghĩ tới lại là Tô Hoài.
Một buổi tôi ngồi nói chuyện với Hách, Khuê.
Hách: Mình còn nhớ lần đầu thằng Trần Ninh Hồ nó gặp ông Tô Hoài về, nó bảo ông ấy ghê lắm, hạch đủ thứ.
Khuê: Tôi viết cái truyện gì này này, nói về một nghệ sĩ. Ông ấy bảo đừng có viết về nghệ sĩ. Hãy viết công nông ấy. 
Nhân bàn về thân phận, tôi nói đùa:
– Từ công việc của Tô Hoài đôi khi thấy toát lên cái ý văn nghệ phải được quan niệm như một công việc nhăng nhít, và người làm văn nghệ quá nhiều tay nhảm nhí. Mà người tài nhất trong cái đám nhảm nhí này trước cách mạng có Nguyễn Bính và có Tô Hoài. Nhưng mặt hàng Tô Hoài đa dạng hơn.
Trong bài Chữ và tiếng nói sách Sổ tay viết văn trang 119, bản in 1960, Tô Hoài nói về nghề: Người viết văn như cái cửa hàng bách hoá, càng nhiều mặt hàng càng dễ chạy.
14/4/1991
Vũ Quần Phương kể: Ông ấy khôn lắm, không có cái gì bỏ qua, nhưng không dính vào việc gì cụ thể cả. “Lúc nào cần vắng thì tôi vào viện. Ở tuổi tôi thiếu gì bệnh để nằm viện”. Chính ông ấy nhận như thế. (Bùi Bình Thi có lần nói: Tô Hoài như một con rán, đặc biệt nhạy cảm với mọi tình thế.)
Cơ quan có cô N. làm văn phòng. Ông Tô Hoài dùng nó, nể nó. Đùng một cái, nó xin vào Hội. Anh em thấy chuế, ông Tô Hoài cũng thấy chuế. Cho nó vào thì ra làm sao nữa.
Có người như Bằng Việt nói thẳng, thôi N. ơi chờ chút đã, để bọn này viết cho N. mấy cái truyện hoặc mấy bài thơ rồi ký tên N. đã, N. hãy vào. Nhưng N. nó không chịu.
Đến ngày Ban chấp hành bỏ phiếu thì ông Tô Hoài vắng một cách cố ý.
Ấy, ông cứ sợ một đứa khùng dại như vậy để rồi có lúc ông coi thường cả một đại hội.
Người khác tham lộ mặt. Ông ấy thì lẩn khuất kín đáo. Khi có hai bên tranh nhau thì ông ấy nhường ngay. Chỉ khi nào, ở chỗ nào không ai để ý, ông ấy mới bổ nhào, và người ta phải chịu.
Cái mà tuổi tác mới dạy cho ông ấy chăng? Không, từ trẻ ông đã thế.
Là cái mà văn hoá Việt Nam nó thấm vào ông nữa.
19/7/1991
 Con người trong Tô Hoài
Đọc lại Dế mèn. Đúng là có một tính cách, sự khao khát, ý tưởng hành động. Nhu cầu muốn làm việc lương thiện. Sự sòng phẳng, chấp nhận những lầm lỡ của con người mình.
Tính cách kiểu Dế mèn là tính cách thông thường của con người lập nghiệp, tuy không có cái sắc cạnh, cái quá đáng, cái gần như không thể bộc lộ được. Lại cũng đã bắt đầu thích chức vụ xã hội.
Nhưng ngoài Dế mèn, thì các nhân vật khác đều lặt vặt không có con người nào như Dế mèn. Trong truyện Tô Hoài trước cách mạng, loại con người hiện ra vớ va vớ vẩn đông hơn nhiều.
Trong một phiếm luận, tôi đã từng chứng minh những variant khác nhau mở ra trước nhân vật Tô Hoài trong việc mưu cầu hạnh phúc. Có vẻ như Tô Hoài muốn đưa ra cả loạt, một cụm mà lại không có một phương án nào là rõ rệt.
Tô Hoài không thật yêu một con người nào, một kiểu tính cách nào. Các loại nhân vật chỉ để vẽ phác, và đều nham nhở. Nhân vật không có những khao khát lớn. Nhân vật không có cái đắm đuối như các nhân vật của Nguyên Hồng. Bước đi loạng choạng, ý định thú tội – nhớ có một nhân vật Nguyên Hồng được tả như vậy. Gắn liền với ý thức về tội lỗi, khao khát chuộc tội. Sự thông cảm kỳ diệu với thiên nhiên, thấy ở đó một biểu hiện của Chúa, những cái ấy có ở những trang đặc sắc nhất của Nguyên Hồng.
Cuộc đời trong Tô Hoài thì lẩn mẩn rất nhiều chi tiết mà người bình thường quen thuộc nhưng lại hay bỏ qua. Đọc Tô Hoài người ta có thích thú nhưng không sửng sốt. Nhân vật trong Tô Hoài thiếu hẳn bản sắc riêng, cái thật nổi trội kỳ lạ. Có vẻ như họ sát ngay mặt đất, họ dễ lẫn đi giữa những người khác. 
Nguyễn Kiên:
– Tôi và Tô Hoài cũng là một thứ bạn vong niên. Hồi tôi còn ở chỗ 65 Nguyễn Du, ông Tô Hoài cũng hay đến chơi, thủ thỉ đủ các chuyện vẩn vơ. Gần đây tôi chỉ nghĩ sao mà bố mày liều thế, viết bừa viết phứa, có mỗi cái Hà Nội cũ mà viết mãi thôi. 
Vào những ngày này (10/1991) Tô Hoài đang khoe là có một cuốn hồi ký mang tên Cát bụi chân ai kể lại chuyện Hội Nhà văn 1957-1987
Báo Tiền Phong Chủ Nhật đã trích đăng hai kỳ về Nguyễn Bính, bài viết cho thấy hình ảnh một Nguyễn Bính rạc rài rất đáng thương mà cũng đáng giận.
Lạ thật, một mặt thì Tô Hoài rất tiêu biểu cho lối làm việc của nghệ sĩ Việt Nam, loanh quanh tả cái cây cái lá với những chuyện vặt vãnh. Mặt khác, ông lại là người có lối làm việc của nhà văn hiện đại. Ông sớm viết hồi ký, viết ngay từ hồi 22-23 tuổi – tập Cỏ dại. Hình như ông hoàn toàn hiểu rằng nhà văn còn biết viết về những gì khác ngoài chính mình nữa! 
Bên cạnh cái phần đôn hậu, sự ma mãnh là một thứ bản chất thứ hai Tô Hoài, nó giúp cho ông tồn tại nhưng cũng kéo thấp ông xuống.
– ma mãnh nghĩa là sẵn sàng làm bậy, nói dối, viết ẩu, len lỏi để sống.
– ma mãnh nghĩa là cứ tự nhiên mà thành, mưu mô lặt vặt xoay xở tầm thường cũng là tự nhiên, và không đủ sức vươn lên thành trí thức, vươn lên trong kiến thức, sách vở, phiêu lưu vào những khu vực thiêng liêng của đời sống tinh thần.
1/1/1992
Về quyển hồi ký Cát bụi chân ai
Từ hồi gặp nhau ở Moskva, Tô Hoài đã nói với tôi về ông Tuân, phải viết về ông ấy, viết chứ, nhưng không phải là kính viết mà viết một cách như là vẫn sống với ông ấy vậy. Lại Nguyên Ân thì lại còn được Tô Hoài rót vào tai đại ý là sẽ viết về một thế hệ các ông ấy gặp chủ nghĩa Mác như gặp một cái quán, tiện chân là vào, thế thôi.
Đọc trích đoạn Cát bụi chân ai trên báo Tiền Phong, cứ tưởng Tô Hoài viết theo kiểu Ehrenbourg, viết cho mỗi người một chương. Nhưng không phải. Cả quyển viết về Nguyễn Tuân. Mở đầu bằng câu tôi kém Nguyễn Tuân 10 tuổi. Và đến cuối là đoạn có người đến báo Nguyễn Tuân chết. Theo cách trình bày của Tô Hoài, thấy ông không định viết Nguyễn Tuân cho sang mà kéo Nguyễn Tuân gần với mình, để rồi, cũng vẫn không quên cái điều căn bản, thực ra Nguyễn Tuân là Nguyễn Tuân mà mình vẫn là mình. Cái hiện tượng Nguyễn Tuân với Tô Hoài không gì khác, là chính văn học, là chính đời sống, chúng ta không lựa chọn cuộc đời này, ta sống với nó, vừa hăng hái thiết tha, vừa uể oải chán chường. Chưa bao giờ, chưa ở chỗ nào, tôi thấy Nguyễn Tuân như ở đây, nghe giọng toàn là thứ thiệt cả. Mặc dù luôn luôn nghi ngờ Tô Hoài, cho Tô Hoài là khôn, ranh, giấu mặt, song Nguyễn Tuân vẫn không bỏ được Tô Hoài, vẫn thấy đấy là một phần của cuộc đời mình. Theo cách nhìn của Tô Hoài, ở con người khinh bạc ấy, vẫn có biết bao tha thiết. Nguyễn Tuân hiện ra không như người ta nghĩ – hoặc có ác, thì cũng là ác một cách rất hiền lành, giời sinh ra bởi lẽ cá nhân thì phải làm cách vậy, chứ đâu có vô lương tâm. Khỉ thật, cái việc mà Tô Hoài từ Tây Bắc về Hà Nội, Nguyễn Tuân phải đi tiễn mãi, rồi thư từ cho Tô Hoài nữa, đọc đầy lý thú. Hoặc cảnh họ lang thang ở phố xá Hà Nội. Chiều chiều gặp nhau ở một cái quán, trong chốc lát mà thấy cả đời. Suốt bao năm tháng, ý tứ mà sống với nhau, anh nào lo niêu cơm anh ấy, nhưng cũng nên sống cho người khác một tí nữa. Nhớ chi tiết Nguyễn Tuân cho Tô Hoài uống rượu, rót xong là cất chai đi. Lại nhớ cái cảnh Tô Hoài đến Nguyễn Tuân đi vắng, lúc chủ về, thấy khách ngồi đấy, hỏi một hai câu, tỏ ý khó chịu rồi lăn ra ngủ. Cái tài của Tô Hoài là tả, tả kỹ, khiến cho mình tin một con người như vậy, và nhất là tin rằng cuộc sống chỉ là một cái gì bình bình, xoàng xoàng, không nên cao giọng mà nói, mà quát (gần đây, gặp tôi, nhân nói chuyện về Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử cũng không quên nói rằng ông Mạnh nhiều khi cao giọng đấy, chả vừa đâu). Đoạn cuối, tả Nguyễn Tuân già yếu, bất lực, tiếc đời, lụn bại, đúng với tình thế một người hết thời, nhưng cũng cho thấy một cuộc đời qua đi, chớp mắt một cái, thế là đã xong hết cả. Nhưng mấy hôm nay, người trong giới bảo nhau (tôi nghe Nguyên Ngọc bảo) là sách không in được đâu, trên chưa định thanh toán cái hoá đơn này đâu.
Tô Hoài: Nhưng ở tuổi tôi, tôi phải viết thế chứ còn gì nữa! 
 
Phụ lục     
 
CON MẮT TÔ HOÀI
BÓNG DÁNG NGUYỄN TUÂN
(Đọc Cát bụi chân ai )
 
Khi được mời viết hồi ký, không ít nhà văn ở ta thích trả lời: Khi nào già tôi sẽ viết. Nhưng trong phần lớn trường hợp, họ không giữ được lời hứa. Hoặc giả, theo nghĩa đen, không đủ sức thực hiện ý định. Hoặc giả theo nghĩa rộng, già cả, cũ kỹ đi, chỉ sợ người ta quên, nên khi viết ra sức tô vẽ cho mình. Những thiên tự thuật kiểu đó đánh mất đi gần hết giá trị chúng có thể có.
Về phần mình, Tô Hoài quan niệm hơi khác. Ông viết hồi ký từ khi còn rất trẻ. Cuốn Cỏ dại ra đời năm 1944 khi ông mới 24 tuổi.
Bước sang tuổi năm mươi, ông công bố Tự truyện (in báo từ 1971, in thành sách 1978, từ đó về sau nhiều lần tái bản ). Nay ở tuổi bảy mươi, ông lại có Cát bụi, chân ai. Sống đến đâu, viết đến đó – dường như ông muốn nói vậy. Và các cuốn hồi ký của ông chỉ tự nó trần trần đối diện với bạn đọc, người viết ra nó không cần nhân danh tuổi già, nhân danh năm tháng, kinh nghiệm để… “bắt nạt” ai cả.
Một cách nhìn, một cách viết
Thông thường ở ta hồi ký được hiểu là những cuốn sách người viết tự kể về đời mình. Có nói về những người khác cũng là nhân tiện mà nói, nói tạt ngang cho đậm câu chuyện. Hồi ký của Đặng Thai Mai hay Những năm tháng ấy của Vũ Ngọc Phan. Từ bến sông Thuơng của Anh Thơ hay Bốn mươi năm nói láo của Vũ Bằng v.v đều chung một kiểu viết như vậy. Cho tới Tự truyện Tô Hoài cũng không ra ngoài thông lệ vốn có.
Chỉ tới Cát bụi, chân ai, nhà văn mới tạo cho thể tài một sự xô đẩy nho nhỏ. Khi còn trích in trên báo, người ta tưởng đây là loại hồi ký với nhiều chân dung liên tục xuất hiện, trong đó, mỗi người bạn từng đi lại thân quen với tác giả được ông dành riêng một chương: Nguyễn Bính, Nguyên Hồng, Xuân Diệu. Nhưng đọc cả quyển mới vỡ nhẽ ra Tô Hoài viết về Nguyễn Tuân là chính, chẳng qua học theo A. Malraux (trong Phản hồi ký) ông cũng gặp đâu viết đấy, nên ngòi bút mới đôi khi sa đà viết thêm về những người khác ít trang. Vẫn là hồi ký – chân dung, nhưng Cát bụi chân ai là bức tranh truyền thần khuôn mặt Nguyễn Tuân, như Tô Hoài được biết, một thứ Nguyễn Tuân nhìn gần ở khoảng cách rất gần, không bị tô vẽ, bị thiêng liêng hoá, có điều không vì thế mà mất đi vẻ khả ái và nhất là những nét đáng thông cảm.
Chỗ giống người của “kẻ khác người”
Tuy luôn luôn không quên điểm xuyết đôi nét về con người Nguyễn Tuân giai đoạn tiền chiến, thậm chí đi ngược lại mãi về một thời rất xa, khi Nguyễn Tuân cùng một người bạn định trốn qua Xiêm theo đường Campuchia rồi bị bắt, nhưng trên nét lớn, Cát bụi chân ai là để nói về cuộc đời dấn thân của Nguyễn Tuân như Tô Hoài biết từ sau 1945 tới nay. Đường đời sự nghiệp khác nhau, tâm tính càng không giống nhau, vậy mà giữa hai người đã có chung bao kỷ niệm. Hồi kháng chiến chín năm ở chiến khu sống chung trong một cơ quan đầm ấm, thân mật. Lần theo bộ đội vượt sông đánh đồn. Những năm tháng sau hoà bình 1954, đời sống văn nghệ Hà Nội ngổn ngang bao chuyện. Dăm chuyến đi dài lên các tỉnh miền núi phía bắc những năm chống Mỹ hào hứng, lý thú cũng có, mà giá lạnh đơn độc cũng có. Ai người quen nghĩ Nguyễn Tuân khinh bạc, ích kỷ nghênh ngang tự thị sẽ tìm thấy ở đây, qua những chi tiết rất thật, những giây phút Nguyễn Tuân cũng rất nồng nàn quý trọng tình nghĩa, cũng chi chút trong từng việc nhỏ của đời sống gia đình và của sinh hoạt văn nghệ. Hơn thế nữa, Nguyễn Tuân cũng yếu đuối, cũng làm dáng, điệu bộ, và cũng biết sợ như bất cứ ai. Cái tài của Tô Hoài trong cuốn hồi ký này là ở chỗ phác ra rõ rệt những nét độc đáo trong tính cách Nguyễn Tuân – một câu tiêu biểu “Ô hay, người ta ra người ta thì phải là người ta đã chứ” (tr. 7) – song vẫn cho thấy tác giả Vang bóng một thời thực ra rất gần với chúng ta, với tất cả những phiền luỵ tầm thường, những hy vọng dang dở, những trái khoáy vô lý… của kiếp người. Đã bước trong đời thì hỡi ai kia, chân người rồi cũng lẫn trong cát bụi như mọi chúng sinh mà thôi, nhất định là thế, không thể nào khác, không phải vì thế chúng tôi xa lạ, ngược lại, cát bụi khiến chúng tôi thêm gần gũi với người biết mấy!
Niềm cảm khái cuối cùng
Nhưng dẫu sao, Cát bụi chân ai vẫn là một cuốn hồi ký. Dù bóng dáng của Nguyễn Tuân có trùm lên cả quyển sách, thì cạnh đấy, vẫn hiện lên mồn một cái bóng dáng chính của người viết, một Tô Hoài lịch lãm, ý nhị, bắt vở hết các bậc đàn anh, biết thóp đủ mọi chuyện, khinh bạc, đáo để, song cũng lại biết thiết tha với từng chi tiết trong cuộc sống hàng ngày, lại càng tha thiết trước một chén rượu quý, mấy câu tâm sự bâng quơ, những lá thư cảm động. Công bằng với Nguyễn Tuân cũng tức là Tô Hoài có được công bằng với giới văn nghệ. Dẫu sao, những người này cũng đã có mặt trong suốt cuộc đời tác giả, cùng ông chia sẻ vui buồn, và suy cho cùng, giá mà chẳng tốt hơn, thì họ cũng chẳng xấu hơn những người khác. Với sự chính xác của một thứ bộ nhớ điện tử, đầu óc Tô Hoài thường khi nhớ lại vặt vãnh đủ chuyện. Ngòi bút ông sau những khoáng đạt chơi vơi với những cảnh tượng hùng vĩ ở miền núi, lại thản nhiên, thủng thẳng, mà vẫn không kém sinh động, quay về dựng lại những phút vắng lặng trong câu chuyện mấy bạn tri kỷ, giữa một hàng quán xô bồ của chốn thị thành.
Còn như cảm hứng cuối cùng về cuộc đời? Ở cuối chương Một chặng đường (in trong Tự truyện) Tô Hoài viết: “Trên sóng cát cuộc đời, mình đã từng sống cái kiếp phong trần, vào đâu nên đấy, của con phù du”. Ở cuối Cát bụi chân ai lại vẫn cái giọng mệt mỏi và biết điều ấy “Tôi ngồi lại đây trông vào mịt mùng nhìn thấy xa lắc xa lơ một thời đã qua. Âu cũng là cái nhộn nhạo được khuấy động chốc lát”. Tiếp đó là cái hình ảnh có sức khơi gợi: “Bãi tắm Cát Cò. Hai bên vách đá thẫm đen, không có bóng người. Con kỳ đà đủng đỉnh bò ra giữa đường hầm, bạnh mang, rướn chân nhìn quanh rồi lại nép vào mép những tảng đá… Vết chân người lẫn chân con kỳ đà in vân vân trên cát”. Một chút hư vô bàng bạc ở đây chỉ làm rõ thêm ấn tượng đã toát ra từ cả cuốn sách, ấy là dù hay dù dở thì tác giả cũng đã viết nó bằng sự thành thực và toàn bộ kinh nghiệm sống của mình, nên chi, nó đáng được đối xử một cách trân trọng và cả độ lượng nữa.
Bài in trên TT&VH 1993,
in lại trong Chuyện cũ văn chương 2001
 

Advertisements

Một phản hồi

  1. Great article but it didn’t have evnterhiyg-I didn’t find the kitchen sink!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: