Một góc biên cương ( bài hay của nhà nghiên cứu Hữu Ngọc – online st)

Hữu Ngọc

Năm 2000, tôi có dịp đến tỉnh biên giới Lào Cai để tiếp tục đi Côn Minh bằng xe lửa. Một dịp để tận mắt xem đường xe lửa Lào Cai – Côn Minh, hoàn thành năm 1910, mà thực dân Pháp khoe là một kỳ công kỹ thuật và một thắng cảnh du lịch: Đây là một trong những đường xe lửa ngoạn mục nhất và hiểm trở nhất châu Á. Nó qua những quang cảnh đa dạng, khi thì đi sâu vào rừng nhiệt đới bao la, khi thì trèo những ngọn núi cheo leo, khi thì uốn khúc ở đáy vực thẳm (Sách hướng dẫn du lịch Madrolle, 1932-Paris).

Có điều cuốn sách không nói là xây dựng tuyến đường này, Công ty xe lửa Vân Nam của Pháp đã làm chết năm vạn “cu-li” Trung Quốc và Việt Nam.

Năm 2005, tôi lại có dịp đi công tác Lào Cai và tìm hiểu kỹ hơn những lần đi ngắn trước đó. Ông Trần Hữu Sơn, giám đốc Sở Văn hoá tỉnh đồng thời là một nhà nghiên cứu dân tộc học say mê, đã giúp tôi nắm được nhiều nét độc đáo của văn hoá Lào Cai, một gạch nối giữa văn hoá Việt Bắc (Tày, Nùng) và Tây Bắc (Thái), giao thoa giữa văn hoá Việt Nam với văn hoá Trung Quốc (Vân Nam, Thục Tứ Xuyên, tới Tây Vực – Trung Á) rồi Ấn Độ, qua tuyến giao thông huyết mạch sông Hồng, cái nôi của văn hoá Việt (đã đào được ở Lào Cai 31 trống đồng có phong cách Lào, Trung Á).

Do Pháp thành lập năm 1907, nghĩa là chưa được trăm năm Lào Cai xưa đã là đất Việt Nam từ thời Trần với cái tên là Thuỷ Vĩ Lào Cai (gốc là Lão Nhai) với trên nửa triệu dân, gồm một phần ba là người Kinh, còn lại là rất nhiều tộc người (Tày, Nùng, H’Mông DaoTHà Nhì, Thái…).

Là mảnh đất địa đầu Tổ quốc, Lào Cai vừa là nơi giao lưu hữu hảo với bên ngoài (các dân tộc hai bên biên giới đều có quan hệ 1 hàng, láng giềng, các nhà cách mạng Việt Nam, kể cả Hồ Chí Minh có thời hoạt động ở Vân Nam), nhưng cũng luôn luôn phải cắm mốc cho lãnh thổ Việt Nam và chống ngoại xâm (Nam Chiếu thời cổ đại; từ thế kỷ thứ 10 – 18, phong kiến phương Bắc 8 lần độ binh đánh ta thì 6 lần qua Lào Cai, đi theo con đường sông Hồng.

Ngay ở thị xã Lào Cai, đã có những chứng tích về sự khẳng định chủ quyền Việt ở biên cương. Ngay giáp biên giới, ta có đền Thượng và đền Hạ là hai mốc văn hoá Việt. Đền Thượng thờ Đức Ông (Trần Hưng Đạo), đức thánh trấn giữ giang sơn, đền có cây cổ thụ rất đẹp. Đền Hạ thờ Mẫu (trước là Mẫu Thượng Ngàn,chuyển sang thờ Mẫu Liễu Hạnh, một trong tứ bất tử của người Việt). Theo nhân dân kể lại thì địa danh Cốc Lếu cũng mang ý nghĩa bảo tồn văn hoá Việt: Cốc Lếu có nghĩa là gốc gạo, đồn là theo lệnh Minh Mạng, người Việt đi đến đâu đều trồng cây gạo để đánh dấu lãnh thổ. Ở huyện lỵ Bắc Hà, có đền thờ Vũ Công Mật, người có công trấn thủ đất miền Thượng cho triều đình Lê. Lào Cai từng bị Lưu Vĩnh Phúc chiếm một thời gian (1868), tướng Cờ Đen (tàn quân của quân Thái Bình thiên quốc – khởi nghĩa nông dân) bị nhà Thanh đánh bại, trôi dạt sang Việt Nam. Lưu Vĩnh Phúc cộng tác với Hoàng Kế Viêm chống Pháp xâm lược, đánh úp diệt được hai sĩ quan chỉ huy là Francis Gamier (1873) và Henri Rivière (1883) ở ngoại thành Hà Nội. Sau khi Pháp chiếm Việt Nam, Lưu về Trung Quốc. Có người chỉ cho tôi ở bên kia sông Nậm Thì, phía Hà Khẩu (Trung Quốc) vẫn còn mộ vợ Lưu Vĩnh Phúc.

Vì Lào Cai có nhiều tộc người, văn hoá dân gian rất phong phú. Một nét độc đáo của địa phương là văn hoá chợ. Vùng cao có 14 chợ đều có hai nhiệm vụ: kinh tế (mua bán) và văn hoá (giao lưu). Địa bàn cư trú ở các cao nguyên (1.000 mét – 1.600 mét) chia cắt bởi suối khe, các bản thưa người rất biệt lập. Do đó có nhu cầu gặp gỡ nhau: nhiều tộc người cấm thành viên trong họ lấy nhau, mỗi bản thường chỉ có một vài dòng họ, vậy là phải trèo đèo lội suối đi tìm bạn tình, hát giao duyên, dĩ nhiên thành tập tục, đi kèm với sáo, đàn môi, khèn. Chàng trai Mông hát:

Mình không có vợ, mình lên đường đi tìm

Bố mẹ mình làm bữa cơm thật sớm

Thế là mình đi chơi chợ

Mình len ngay vào đám đông

Tìm theo cô nào chưa chồng 

(Trần Hữu Sơn dịch)

Người trung niên thì đi chợ để gặp họ hàng, người quen, tụ nhau ở quán phở chua, quầy thắng cố, vừa ăn, uống rượu, vừa thông tin về bản làng. Mọi người đến chợ còn để tiêu khiển, đi dạo xem chọi chim, thi ngựa, bắn nỏ, đánh đu… hoặc mua đồ dùng (đồ rèn truyền thống H’Mông rất tốt) mua thổ cẩm, đồ bạc trang sức…

Những chợ huyện lỵ to như Bắc Hà, Sa Pa, Mường Khương tập họp tới dăm bảy ngàn người hay hơn nữa. Tôi thích chợ Bắc Hà hơn chợ Sa Pa vì Bắc Hà không thuận đường đi, nên chưa bị du lịch ô nhiễm như ở Sa Pa. Sa Pa thuộc huyện Sa Pa, là thị trấn nghỉ mát nổi tiếng từ thời Pháp thuộc, trên một đèo cao rộng. Cách 9 kilômét là ngọn Phăng Si Păng (tiếng H’Mông là ba tấm đá bằng phẳng ở trên đỉnh) cao nhất nước: 3.142 mét, thuộc dãy Hoàng Liên Sơn. Mùa đông sương mù, có khi có tuyết. Bắc Hà tên H’Mông là Pakha (bách tranh, tức là 100 bó cỏ dùng để đốt cho ong rừng độc hại ở núi Cô Tiên bay đi). Huyện lỵ còn có dinh thự của thổ ti Hoàng A Tưởng, một thứ pháo đài xây từ 1921 (nghe nói thầy địa lý Tàu và kỹ sư Pháp xây dựng đều bị giết để giữ bí mật đường hầm). Bắc Hà còn nổi tiếng vì rượu ngô, mận ngọt và giòn (mấy năm nay khó bán vì trồng tràn lan và do các loại quả của Trung Quốc chiếm lĩnh thị trường).

Muốn tìm hiểu tâm hồn các dân tộc Lào Cai, bạn hãy làm quen với các chợ vùng cao, hội xuống đồng của người Tày, các món ăn lễ hội, bài tang ca và chuyện cổ tích của người H’Mông, các bài hát ru, tranh dân gian, hoa văn và trang sức của nhiều vùng. Lào Cai, một góc biên cương hấp dẫn.

2003

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: