TƯỞNG NIỆM ( 1 – truyện dài kỳ về chiến tranh và hậu chiến )

Bộ đội – ảnh sưu tầm

Truyện chiến tranh và hậu chiến. Tôi bắt đầu viết từ năm 1995 và hoàn thiện dần. Truyện cũng đã được chuyển thành kịch bản phim với tên: ” Về miền đất đỏ” – Trại viết Hãng phim quân đội nghiệm thu năm 2003; ” Mùa xuân tưởng niệm” Trại viết Hội điện ảnh nghiệm thu năm 2008. P2 trích đăng dưới đây đi vào hiện thực chiến tranh. P1 nói về hậu chiến, mà ở đó, những người lính may mắn còn sống trăn trở về quá khứ và thời gian cũng giúp họ nguôi dần, thấy thêm…Tôi đăng truyện này lên đây như một bó hương tưởng niệm tháng 4, 35 năm trước
“Hai bên đã bắn vào nhau và nhiều người cùng mầu da – chủng tộc… đã chết.Những người còn sống sau hàng chục năm vẫn mang nặng trong lòng những vết thương đau khó nguôi.. Chỉ thời gian mới có thể làm dịu dần, lắng lại, thấy thêm… Và sự sống vẫn tiếp nối không ngừng như dòng sông chảy mãi – lời kết của truyện”

Tôn trọng tính thực tế xưa, nhiều khái niệm – cách nói cũ vẫn được dùng trong truyện.

Lán của tiểu đội nằm dưới những vòm cây rậm rạp để tránh máy bay địch phát hiện. Con đường mòn dẫn ra suối – mùa khô chỉ còn một lạch nước nhỏ. Lán được dựng bằng tre nứa, cây rừng, mái lợp lá Trung quân đã ngả màu. Vách và sàn lán ken đầy những thanh tre. Chăn màn, gối cá nhân được gấp vuông vắn cạnh chiếc ba lô trên sàn ngủ. Giá súng với những khẩu AK, AR15 ( lấy được của địch ), B40, B41… dựng ngay ngắn ở đầu hồi lán. Vài giỏ phong lan rừng treo lủng lẳng ở cột lán. Trên vách lán cón có một vài bức ảnh màu và đen trằng của các nữ nghệ sĩ cắt từ các báo Liên Xô hoặc lịch, báo Việt Nam mà ai đó mang theo ba lô vào chiến trường. Đã gần trưa, có tiếng chim rừng, ve rừng lảnh lót. Nắng khô ong ong, bầu trời cao. và xanh. Rừng đại ngàn dù bị chiến tranh tàn phá nham nhở vẫn còn mênh mông như người mẹ che chớ cho đàn con chiến sĩ đang ngày đêm làm nhiệm vụ chuẩn bị cho chiến dịch xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Lúc này ở tại lán chỉ còn có 2 người, 7 người đã đi làm nhiệm vụ và đến tối họ mới về. Trên sàn lán sát đầu hồi có giá súng. Lịch – một chiến sĩ trẻ mới 20 tuổi – vào chiến trường đã hơn một năm nay, đang bị sốt rét. Anh đắp tấm chăn mỏng và rên nhẹ. Những cơn sốt chưa đến mức độ nặng phải đi bệnh viện như thế này vẫn thường xảy ra như cơm bữa với hầu hết các chiến sĩ ở chiến truờng B2, cũng như nhiếu chiến trường rừng núi khác. Người bị sốt ngây ngây, lạnh trong, nóng ngoài và chỉ có cách là uống thuốc hạ sốt, đi nằm, ăn cháo và khi sốt lui chịu khó tập luyện, bồi dưỡng thêm lại khỏe như thường nhưng lâu lâu sốt vẫn trở lại vài ba ngày. Quen rồi nên các chiến sĩ cứ coi như chuyện thường. Chỉ trừ có những giai đoạn quá ác liệt, gian khổ thiếu ăn thiếu thuốc, có người sốt nặng thành ác tính không cấp cứu kịp và hi sinh. Tuy vậy mỗt khi có người sốt, tiểu đội vẫn cắt cử người ở nhà trông nom chăm sóc. Hôm nay, thấy Lịch bị sốt ba ngày vẫn chưa đỡ, Ban – tiểu đội trưởng ở nhà chăm sóc Lịch và trực lán.
Lúc này Ban – gần 40 tuổi người tầm thước mạnh khỏe đang lúi húi nấu cháo cho Lịch ở ngoài bếp Hoàng Cầm phía sau lán. Anh chăm chú dúng đũa cả khuấy cháo. Thấy cháo đã chín, anh mở hộp ruốc thịt và dùng thìa xúc ruốc cho vào cháo rồi đảo đều. Anh dúng thìa múc một ít cháo và thổi cho đỡ nóng rồi nếm thử. Thấy có vẻ nhạt, anh mở hộp muối và dốc một ít vào lòng bàn tay sạch rồi cho nêm muối vào cháo. Anh nếm lại cháo lần nữa, thấy ổn, anh gật gù…
Bát cháo nóng đã được Ban đưa vào lán. Còn cầm bát cháo trên tay, anh ngồi trên sàn lán và gọi to:
– Lịch ơi! Dậy ăn cháo!
Lịch nghe Ban gọi nhưng vì người còn quá mệt nên chỉ mở mắt nhìn ra ý đã hiểu.
Ban giục:
– Dậy ăn đi! Ăn cho nó ra mồ hôi ra nhẹ người nhanh lắm. Cái kiểu sốt này, càng nằm nó càng quật, phải cố mà dậy, ăn, vận động, tập tành, uống thuốc mới khỏe nhanh được.
Lịch dáng cao, nét mặt gầy và xanh gượng gỡ chăn ngồi dậy. Ban ngồi dịch vào gần đó và đưa chiếc bát sắt đựng cháo cho Lịch. Lịch đón bát cháo và cố gắng múc từng thìa ăn, trán rịn rịn mồ hôi do cháo nóng tác động.
Ban động viên:
– Tớ mà chăm cậu, thì chỉ một tuần là cậu khỏe. Cái kiểu sốt này không đáng ngại nếu biết cách tự chăm sóc,điều trị, tập tành. Cón nếu chủ quan để nó cứ nặng dần là nguy to.
Lịch đã đỡ mệt hơn sau mấy thìa cháo, đáp lời Ban:
– Vào chiến trường được hơn nửa năm em mới bị sốt rét cũng là do khéo giữ gìn, uống thuốc phòng, ăn, tập thể dục đều. Thỉnh thoảng sốt lại tuy nhẹ thôi nhưng khó chịu ghê. Chỉ lo nó nặng lên, phải đi viện hoặc ra Bắc thì buồn.
– Thế mới phải gắng ăn đi, ngấy cổ cũng phải ăn, rồi hơi nhúc nhắc dậy được là phải đi, phải vận động chân tay, thuốc men đều để cơ thể sẽ mạnh lên và đề kháng tốt hơn, đừng nghĩ vẩn vơ cho thêm mệt người.
Lịch đã ăn gần hết bát cháo, nhỏ nhẹ:
– Cảm thấy đỡ rồi A trưởng ạ!
– Đưa bát đây tớ lấy nữa cho!
– Bác lấy cho em nửa bát thôi, kẻo không ăn hết nó phí.
– Không được, kinh nghiệm của tớ là cứ phải ba bát, ra mồ hôi đầm đìa mới được – Ban nói dứt khoát và đỡ lấy bát từ Lịch. Rồi nhanh nhẹn đi ra bếp múc bát cháo khác.
Lịch lúc này lấy khăn lau mồ hôi, cảm thấy người nhẹ nhõm hơn.

***

6 chiến sĩ của tiểu đội mà Ban phụ trách chia làm 2 tốp đang lúi húi đi trên đường mòn. Bước chân của họ sải gấp gáp. Ba lô nặng vai. Theo nhiệm vụ, họ tải gạo và một số quân tư trang, đạn, lựu đạn…cho công việc chuẩn bị chiến dịch. Chỉ thấy những bước chân nhấp nhô với khẩu súng AK được cầm nòng gác trên vai.
Rồi họ bước lên một dốc của rừng miền Đông không cao nhưng khá dài. Lưng áo với ba lô nhấp nhô khó nhọc bước lên dốc. Đến đỉnh dốc chiến sĩ đi đầu tiên tên Sơn – ngoài 20 tuổi quay lại và hồ hởi, giọng miền Trung nằng nặng:
– A ha! Ta giải lao chút các đồng chí!
Sơn gỡ ba lô ngồi xuống một thân cây đổ ven dốc. Khẩu AK được anh dựng cạnh chiếc ba lô nặng. Hai người khác cũng lần lượt làm như anh. Áo ba người đẫm mồ hôi. Sơn đứng dậy nhìn về phía chân dốc, 3 người còn lại đang ì ạch leo dốc.
Sơn cười tinh nghịch và nói:
– Ba thằng kia mới nếm mùi dốc dài, tớ đi lối nầy nhiều lần rồi nên không đến nỗi nào, đến đây còn vui ca được. Lối này có dốc nhưng đỡ được vài cây số đường vòng, lại tránh được khu vực hay có thám báo .
Sơn ngồi xuống và lấy bi đông nước ra, mở nút bi đông và tu một ngụm lớn. Hai chiến sĩ cùng tổ Sơn vì quá mệt nên chẳng nói năng gì, chỉ thấy họ thở phì phò và phanh ngực cho mát. Những chiếc mũ tai bèo cũng được nhấc ra khỏi đầu và làm quạt.
Một lúc sau, đỡ cơn mệt một người mới nói:
– Ba tháng vượt Trường Sơn mới vào đến đây, tiểu đội có mười hai người, rơi rụng do sốt rét, bị thương giờ còn tám, A trưởng cũ được ra Bắc học, A trưởng mới, cụ Ban vừa về là chín. Con số chín có gì đặc biệt không nhỉ tổ trưởng?
Sơn đủng đỉnh đáp:
– Số chín là số may mắn, tớ nghe nói vậy còn muốn biết vì sao nên hỏi thằng Lịch, nó có chữ vì là học sinh giỏi văn nhập ngũ khi vừa tốt nghiệp cấp ba.
– A trưởng cũ không ưa nó lắm đâu, ai đời lúc rỗi vẫn giở sách giáo khoa mang theo ra đọc.
– Cả cậu nữa, ai đời cứ ghi ghi chép chép, tưởng là viết thư, hóa ra nhật kí chiến trường.
– Thì cậu cũng chả kém, ai đời mang vào đây được mấy cuốn truyện và vẫn đọc kể cả ở trên võng ở rừng
– Thôi! Cũng phải thông cảm cho, quản quân cả về mặt tư tưởng cũng là nhiệm vụ của bất kỳ A hay B, C … trưởng phó nào – Sơn giải thích.
Ba người nhóm sau cũng đã lên tới đỉnh dốc. Sơn đứng dậy và trêu họ:
– Thấy ông bà ông vải chưa các bố! Chả kém dốc Trường Sơn. Mau lại đây tớ chia thuốc lá cho! Còn bao Ruby quê em đây – Sơn móc bao thuốc nhãn hiệu Ruby Queen của Mỹ tầm được lúc nào và chìa ra mời mọc. Chữ Queen được lính ta thường đọc chệch là quê em.
Rừng sâu khá yên tĩnh, Chỉ thỉnh thoảng có tiếng Tắc Kè kêu. Mặt trời đang xuống phía chân trời, nơi ì ầm tiếng máy bay hoặc phi pháo

***

Sau giờ họp tiểu đội nghe đồng chí tiểu đội trưởng phổ biến kế hoạch nhiệm vụ đặc biệt mà tiểu đội được giao, tất cả các chiến sĩ được nghỉ trừ một vài người được phân công đi nấu ăn.
Ngoài giếng vài chiến sĩ trẻ đang tắm. Giếng ở gần con suối cạn. Họ giội nước ào ào. Sơn đang được một người khác dùng sỏi kì lưng cho.
Ở bếp Hoàng Cầm, một người đang nấu cơm, ngươi nhặt rau rừng.
Trong lán những người còn lại đang sắp xếp quân tư trang. Ban tiểu đội trưởng thì đang chăm chú dò sóng chiếc đài National nhỏ để bắt sóng Đài Tiếng nói Việt Nam.
Tiếng người phát thanh viên nam dõng dạc vang lên:
“Thời cơ mới đã đến, cả nước đang dồn sức, cho trận đánh cuối cùng. Trên khắp các chiến trường tiền phương, các lực lượng vũ trang ta đang giáng cho địch những đòn tơi tả. Hoan hô quân và dân Tây Nguyên đánh giỏi thắng lớn, hoan hô quân dân Trị – Thiên đang phối hợp tuyệt vời với mặt trận Tây Nguyên, hoan hô, quân dân Nam Bộ – miền Tây và miền Đông cũng đang mở rộng mặt trận về phía các đô thành. Tất cả quân dân cả nước đang hướng đến ngày toàn thắng ‘đánh cho ngụy nhào’ giải phóng hoàn toàn miên Nam, thống nhất Tổ Quốc…”
Bài xã luận của Đài Tiếng nói Việt Nam thật hào sảng. Ban vặn to hết cỡ cho các chién sĩ cùng nghe. Sau đó anh tắt đài và nói:
– Tiết kiệm pin, ta chỉ nghe thời sự thôi! Các cậu thấy chưa? Vì nhiệm vụ đặc biệt chúng ta con phải ém quân chờ lệnh. Chứ trên mạn Tây Nguyên và miền Trung, tất cả đang sôi sục.
Một chiến sĩ trẻ ngồi cạnh Ban góp lời:
– Nhất định ngày mai thôi, A trưởng ạ!Anh em mình sẽ vào cuộc!
Người chiến sĩ khác cũng ngồi gần đó:
– Là cái chắc, hai tuần nay đại đội ta đã chuẩn bị đủ đạn, gạo, quân nhu cho cả tháng trời hành quân chiến đấu là gì. Nói thực, vào chiến trường gần hai năm rồi, chỉ mới cọ xát sơ sơ với bọn thám báo biệt kích, đánh vài trận nhỏ xua bọn địch nống vào vùng giải phóng, tớ thấy ngứa ngáy lắm.
Ban cười:
– Tớ ở chiến trường gần mười năm rồi, tớ chẳng thấy sốt ruột gì cả. Hồi mậu thân sáu tám cũng sôi sùng sục như hồi này nhưng còn phải đánh dài dài. Tất nhiên lần này có khác, chắc sẽ là một đòn dứt điểm.
– Chắc sẽ xả đạn cho đã đấy thủ trưởng nhỉ? Lo nhất là vào thành phố, chứ đánh địa hình rừng núi thì chúng em không ngại.
– Không lo, cứ bám lấy mũi của tớ, hồi sáu tám tớ đã có kinh nghiệm đánh và di chuyển trong thành phố rồi. Nó có cái khó nhưng cũng có cái dễ – Ban giải thích, tần ngần một lúc rồi nói thêm: – Về chiến thuật, trung đoàn sẽ phổ biến kĩ và sẽ có diễn tập thử cho đại đội trên sa bàn, các cậu cứ theo hiệu lệnh của tớ mà tiến lùi. Ngại nhất là vào các nơi phố xá mới lạ, lính trẻ dễ bị phân tán đầu óc vào cái mới lạ. Tớ nhắc trước, dù chiếm được đồn địch rồi cũng chớ chủ quan đi ngó nghiêng, lục lọi vì tò mò. Lắm oái oăm lắm đấy, lớ xớ là mắc ngay đấy. Tớ nhớ hồi sáu tám, chỉ vì cái ảnh khỏa thân nó treo phơi mình trước khi rút, tớ định lột xuống, may mà đại đội trưởng đi sau nhắc, thì ra nó nối vào quả lựu đạn gài gần đó. Thật hú hồn!
Người chiến sĩ trẻ tò mò:
– Nó khỏa…khỏa thế nào mà anh ngứa tiết?
– Thì nó treo lủng lẳng ngay lối vào nhà ăn, chưa chạm đầu mà cái của kia cứ nổn nổn,…khà khà… Ban cười – sau đó chỉ có cách hô tất cả mọi người tránh thật xa rồi đại đội trưởng rút Ka năm chín tỉa rụng, vô hiệu hóa nó.
Hai chiến sĩ trẻ trạc tuổi Lịch cười khoái chí. Họ mới chỉ dự ít trận nhỏ trong rừng. phía trước họ, trận mạc quy mô và phức tạp vẫn còn chưa diễn ra.
Một người cười xong thì nói:
– Phải em, em cho nó tràng A ka!
– Không được! tớ đã nói là phải làm theo mệnh lệnh khi đang chiến đấu. Ít nhất là khỏi phí đạn, hơn nữa là người lính quân đội nhân dân Việt Nam. Chúng ta không nên xả đạn bừa vào những vật vô tri dù nó xấu. Đạn chỉ để trừng phạt kẻ địch đang đánh lại ta, không cho chúng tiêu diệt được ta.
– A trưởng lính cựu mà nói thì chỉ có đúng – người lính trẻ còn lại góp lời – à mà sao ở chiến trường lâu, anh chậm lên vậy.
– Có cái gì đâu! Lên lúc nào thì lên, cái chính là hoàn thành tốt nhiệm vụ, được anh em quý mến! Trông thấy nhau quý là được. Hết chiến tranh về đời thương còn nhớ nhau là nhất.
– Anh mới về thay A trưởng cũ được vài tháng mà chúng em thấy tiểu đội ta khí thế khác hẳn. Lại vui vì anh luôn kể chuyện đời, chuyện nhà, chuyện chiến trường hồi trước. Nhớ nhất là chuyện anh kể đêm tân hôn, hồi hộp quá, pháo anh toàn bắn trượt – người chiến sỹ trẻ măng cười khe khe và nói tiếp – ông Thầm A trưởng cũ thì lúc nào cũng khó đăm đăm, quy lát đến máy móc. Ai đời có đêm vẫn giở bài báo động để thử xem anh em có còn sẵn sàng chiến đấu không! Sáng thứ hai thì xếp hàng điểm danh và nhắc nhở cứ như lúc còn tân binh. Chúng em có vui tếu một tý thì lườm nguýt. Còn đọc tiểu thuyết, ghi nhật ký, làm thơ thì ông ấy chẳng cấm được nhưng cũng không khoái, thái độ chẳng vui…
– Chuyện cũ cho qua đi – người lình trẻ khác chen vào – có thế ông ấy mới được trên khen và cất nhắc cho ra Bắc đi học.
Ban nhỏ giọng:
– Chẳng phải vậy đâu! Tớ biết cậu Thầm được trên lấy đi học là lý do khác. Trước khi vào chiến trường, đơn vị cậu ấy ngoài Bắc đã hứa chỉ cho vào ba năm rồi trở ra học tiếp, nếu tình hình cho phép. Vừa rồi cậu ấy được ra, cậu ấy cũng tiếc muốn ở lại nhưng không được vì côngvăn xin người đã duyệt, chẳng qua các cụ đã nói: mười người mười tính ấy mà. Tính cậu ấy thế chứ chẳng phải lí do gì. Tớ còn gặp nhiều thủ trưởng hắc xì hơn nhiều, nhưng tớ thông cảm hết là bởi trước cái sống chết mọi việc đều bé – có phải không hai cậu? khà…khà…- Ban cười vui vẻ, cái cười của người từng trải chiến trường và cuộc đời.

***

Toàn tiểu đội đang nghỉ trưa. Các chiến sĩ nằm trên sàn lán. Tiếng ve rừng chói tai thỉnh thoảng ré lên. Mùa khô trời nóng nhưng tán cây dày nhiệt độ không đến nỗi nào. Có vài tiêng ngáy của ai đó.
Lịch trực gác cho anh em nghỉ. Anh mắc võng dù dưới đám cây rậm rạp và khẩu AK đặt trên võng. Anh vừa ngồi trên võng vừa nhìn cảnh giác về phía mấy ngả đường mòn quanh lán. Cảm thấy yên tâm, chẳng có động tĩnh gì đặc biệt như mọi khi vì vùng này còn xa địch, Anh rút bức thư từ túi áo ra thầm đọc lại. Đây là lá thư của Mận, cô bạn gái hồi học phổ thông dưới hai lớp và cùng xóm. Giữa Mận và Lịch đã có những tình cảm yêu đương. Sau khi Lịch tốt nghiệp phổ thông và nhập ngũ, tình cảm ấy càng sâu đậm hơn.
Những dòng thư của Mận vang lên thành từng lời nhỏ nhẹ và tha thiết như tình cảm của cô với Lịch:
“…Hai bác bên nhà vẫn khỏe và vẫn đi làm đồng, cấy gặt, cầy bừa. Vậy nên em chẳng có cớ nào mà đến thăm hỏi hai bác như anh dặn đâu, ngại lắm!” – Lịch cười một mình khi đọc đến đây. Rồi đọc tiếp: “Bao giờ hết chiến tranh, anh về có lẽ em mới dám theo anh ra mắt các cụ. Anh ạ, em có giấy gọi vào Đại học rồi, vãn vãn việc và vào học ổn định em mới viết thư đều đều cho anh. Ngoài này cũng đang náo nức với chiến thắng ở trong đó lắm. Em rất tự hào vì có anh đang chiến đấu và nguyện chờ anh…”
Lịch xúc động ngừng đọc, mắt anh rơm rớm rồi Lịch trấn tĩnh lại. Anh vụt nhớ tới ngày hai người đã khá là thân nhau khi đi học cấp 3 ở trường huyện. Lúc đó Lịch lớp 10 và Mận mới chỉ lớp 8. Lịch thường cho Mận đi nhờ xe đạp đến trường – Hình ảnh Lịch và Mận đội mũ rơm. Lịch đèo Mận trên chiếc xe Thống Nhất, hai người trò chuyện trên con đường có những cây phi lao chạy giữa cánh đồng. Ngày ấy giữa họ mới chỉ là những tình cảm trong sáng của học sinh. Sau vài năm tình cảm đó lớn dần. Đén lúc Lịch nhập ngũ, thỉnh thoảng anh được về thăm nhà và giữa anh với Mận nảy nở tình yêu, ngày Lịch đi B Mận nhận lời hẹn ước của Lịch. Hồi ức ngắn của Lịch ngừng lại khi gió thổi suýt bay lá thư ra khỏi bàn tay anh. Lịch lấy tiêp lá thư tấm ảnh Mận và nhìn ngắm cho đỡ nhớ. Tấm ảnh đen trắng cỡ 6×9 cho thấy khuôn mặt bầu bĩnh, tóc ngang vai trong sáng có phần thơ ngây của một thiếu nữ khoảng 16, 17 tuổi. Nhìn ảnh Mận, trong đầu Lịch có một liên tưởng. Anh lẩm nhẩm đọc một đoạn thơ của Ximônốp trong bài “Anh sẽ về” :
“Em ơi đợi anh về
Đợi anh hoài em nhé
Mưa rơi có dầm dề
Ngày có dài lê thê
Thì em ơi cứ đợi
Tan giặc bước đường quê
Anh của em lại về
Trong chiếc cười ngạo nghễ”
Gió rừng thổi mạnh . Lịch cẩn thận cất ảnh và thư vào túi áo ngực, rồi xách sung đứng dậy

***

Đơn vị – trung đoàn của Ban và Lịch mới nhận được lệnh đi chiến đấu. Họ là trung đoàn chủ công của sư đoàn. Họ đã quán triệt đầy đủ nhiệm vụ đặc biệt: đánh một căn cứ quan trọng của địch nhằm bóc phá vị trí phòng ngự – tử thủ ngoại vi của chúng, mở đường cho sư đoàn tràn lên giải phóng một vùng quan trọng cách Sài Gòn hơn một trăm cây số. Và từ đó sư đoàn sẽ tiếp tục phát triển tiến về giải phóng Sài Gòn.
Sáng hôm nay trong không khí rạo rực xuất quân rời căn cứ, tất cả đã dậy sớm và chuẩn bị sẵn sàng. Quân tư trang gọn ghẽ trong ba lô. Lần lượt từng người nai nịt khá chắc chắn, giầy vải cao cổ mới được đưa ra dùng. Những khẩu sung AK xanh ánh thép vì được lau chùi kĩ. Những thứ nặng hơn hoặc dự trữ hành tiến đã được tập kết về ban hậu cần trung đoàn. Mỗi người chỉ còn ba lô, súng đạn đủ cơ số chiến đấu. Một dãy ba lô ở mép lán – tất cả có 9 chiếc – cũ mới đủ loại tùy theo tuổi quân. Trong khi chờ mệnh lệnh đến nơi tập kết, từng người một làm các việc khác nhau . Người thì thắt lại dây giầy, người thì chỉnh đốn trang phục. Có người soi gương chải đầu… Nét mặt ai cũng nghiêm trang trước sự kiện trọng đại mà họ đã mong chờ mấy tháng nay.
Ban đi quan sát kiểm tra lại một lượt quân tư trang – anh ngắm nhìn dãy ba lô, nhìn các vật dung mang theo, nhìn căn lán mà họ sẽ rời xa. Thấy lọ thuốc chống vắt của Mỹ, ai đó còn bỏ quên trên vách lán, anh tiến lại rút ra xịt thử và bảo một chiến sỹ:
– Cầm lấy, của quý đấy suýt quên! Thuốc chống vắt của thằng nào đây?
– Của ai thì em cũng dùng, dự trữ thôi chứ mùa khô này chẳng lo vắt! Nhỡ còn đánh dài đến mùa mưa thì sao thủ trưởng nhỉ?
Ban cười. Sơn hí hoáy lấy than củi ghi lên một mảnh gỗ lời chào căn lán nhỏ mà tiểu đội đã từng sống mấy năm – “Tạm biệt – rời căn cứ đi chiến dịch ngày 20 – 3 – 1975 nhớ mãi, tiểu đội 3, C2, E5, B2 Ban, Sơn, Lịch, Thanh, Mão, Hùng, Lữ, Luyến, Thạch”.
Ghi xong nét chữ đậm rõ ràng nhưng có phần nguệch ngoạc, Sơn cười nhăn nhở như bản tính của anh rồi với vẻ hài lòng và trịnh trọng cài tấm gỗ vào vách lán, Lịch vừa chỉnh đốn xong quân tư trang, ngẩng lên nhìn thấy Sơn cài tấm gỗ kỉ niệm vào lán thì trêu:
– Vẫn còn thiếu, phải ghi rõ: Người viết đề tặng lại mấy dòng này là ai chứ! Viết thêm đi: A phó Nguyễn Văn Sơn 20 tuổi quê bọ Quảng Bình chưa người yêu. Địa chỉ liên lạc: Sài Gòn sau ngày chiến thắng.
Cánh lính trẻ cũng bỏ dở việc cười nói ồn ào góp vào:
– Đúng thế! Tác phẩm phải có tác giả, đề nghị đồng chí Sơn kí vào!
– Tấm gỗ quá đẹp, chỉ tiếc người viết viết vội, giá để nhà thơ Lịch viết cho thì tốt hơn. Nhưng Lịch phải ghi vào: Lịch Ninh buồn, tiếp đó là Ban lính già quê Bầm Bủ, Luyến rau má phá đường tàu dô tá, dô tà…, Hùng Hà Tây gọi tép bằng tôm, Lữ xích lô gầm cầu Long Biên Hà Nội, Mão Nghệ Tĩnh mình ơi thiếu gạo đói dài, Sơn quê bọ gọi ông nội là dòi, Thạch Thái lọ, Thành quê thành phố tháng năm rợp trời hoa đỏ, luôn hiên ngang đầu ngẩng cổ cò…- người chiến sĩ vừa nói câu này vừa diễn trò làm cho tất cả đều không nhịn được cười.
– Không sao, quan trọng là có cái để lại kỉ niệm. Nhất là trong lúc gấp gáp thế này còn kịp – Lịch cười và nói
Ban nãy giờ có ý chờ các đồng đội, biết sắp đến giờ, anh nhìn đồng hồ và nói to:
– Nào! Toàn tiểu đội một hàng dọc! Đi đều bước! Tất cả đi theo tôi về địa điểm tập kết.
Các chiến sĩ nhanh nhẹn xốc ba lô lên vai, xách súng bước vào hàng. Ban nhìn một lượt toàn tiểu đội. Anh hài lòng vì tất cả đều rất gọn gàng chính quy và phấn chấn. Sau đó bằng một động tác chém tay vào không khí quả quyết, anh dẫn đầu tiểu đội bước về phía trước. Tốp chiến sĩ nối nhau đi. Chẳng ai ngoái lại nhìn căn lán bởi họ biết không còn thời gian cho việc lưu luyến chốn thân thương.
Trên những con đường mòn từ các hướng khác các tiểu đội khác cũng đang nối nhau đi về nơi tập kết của đại đội. Những chiếc ba lô và mũi súng nhấp nhô nhòa trong lá cây rừng.

TG: Đặng Minh Liên
Kỳ sau đăng tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: