Thư ngỏ của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh gửi Đại sứ TQ ở VN

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Thư ngỏ gửi Đại sứ Tề Kiến Quốc

Đọc được những lời nói của ông Tề Kiến Quốc với nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan thấy ông “nói lấy được”, nói sai nhiều quá!

Trước hết nói về quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, Việt Nam có đủ cứ liệu lịch sử, từ Vua Minh Mạng đã có các đội công tác ra tuần tra khai thác, thực tế là Việt Nam đã quản lí. Trong bức bản đồ do tướng Đặng Chung, Phó Tổng binh trấn thủ đảo Quỳnh Châu (đảo Hải Nam ngày nay) vẽ cũng ghi Hoàng Sa thuộc về An Nam (Việt Nam); còn thư tịch Trung Quốc thì không tìm thấy một cứ liệu nào. Về thực tế, thời thực dân Pháp cai trị Việt Nam, thì quân Pháp đóng giữ Hoàng Sa, thời Việt Nam Cộng hòa cai trị thì quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ (Việt Nam Cộng hòa dù là Ngụy quyền cũng vẫn là Việt Nam). Năm 1974, Trung Quốc huy động lực lượng mạnh hơn bất ngờ đánh chiếm Hoàng Sa, từ đó đến nay luôn rêu rao là của Trung Quốc. Theo luật biển quốc tế thì hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều nằm trong hải lãnh Việt Nam.

Ông nói lãnh đạo Trung Quốc đã đề ra phương châm “16 chữ vàng”, ông nói rất nhiều về hữu nghị Trung – Việt. Có thật không? Hữu nghị, sao năm 1979 lại đem quân đánh Việt Nam, tàn phá 3 tỉnh biên giới Việt Nam, giết hại nhân dân vô tội? Sao lại dùng lực lượng mạnh liên tục tấn công chiếm bằng được cao điểm 1509 trong huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang của Việt Nam? Hữu nghị, sao lại dùng lực lượng lớn hơn bắn đắm tàu hải quân và giết hại 74 thủy thủ ra tiếp tế cho Trường Sa của Việt Nam ngày 14/4/1988? Hữu nghị, sao không trả lại Hoàng Sa cho Việt Nam? Hữu nghị, sao lại ngăn cản Việt Nam liên doanh với công ty Anh, Mỹ thăm dò dầu khí thuộc lãnh hải Việt Nam trong vùng Trường Sa? Hữu nghị, sao lại vạch một vùng trong lãnh hải Việt Nam, cấm ngư dân Việt Nam ra đánh cá, hễ gặp thì bắn, thì bắt? Hữu nghị, sao lại tịch thu ngư cụ, đánh đập ngư dân Việt Nam vào tránh bão ở Hoàng Sa vốn là của Việt Nam, sao Việt Nam lại mất một nửa thác Bản Giốc? Biên giới Trung – Việt xưa nay từ ải Nam Quan, nay sao lại tụt xuống tận Tân Thanh? Tất cả những điều trên đây là sự thật 100%. Hữu nghị , sao lại để dành khoảng 100 mỏ bốc-xít của Trung Quốc, mà vào khai thác bốc-xít Tây Nguyên của Việt Nam để kiếm lợi và để chất độc trong “bùn đỏ” di hại lâu dài cho nhân dân Nam Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam chịu nguy hiểm như vậy? ông lại cho rằng nhân dân Việt Nam không phản ứng. Một làn sóng bất bình nổi lên từ Bắc chí Nam, hàng ngàn trí thức, lão thành cách mạng, cựu chiến binh có kiến nghị phản đối. Vậy mà ông nói bừa là không đại diện cho dân chúng. Ông còn nói Chính phủ Việt Nam không toàn tâm kiểm soát, ý ông cho rằng Chính phủ Việt Nam bịt miệng dân chưa đủ, muốn kích Chính phủ Việt Nam đàn áp mạnh hơn nữa chăng?!

Cuối cùng ông nói không có khả năng xảy ra chiến tranh. Đúng! Trong tình hình thế giới hiện nay, các nước lớn không dễ gì tùy tiện gây ra chiến tranh, nếu gây ra họ cũng không tránh khỏi thiệt hại. Đã đánh nhau thì bên kia “sứt đầu”, bên này cũng “mẻ trán”, chưa kể là hao tiền tốn của (Mỹ hết sa lầy ở Việt Nam nay lại đang sa lầy ở I-rắc). Còn Việt Nam thì không hề muốn có chiến tranh và chưa hề chủ động gây ra chiến tranh. Ông cho rằng Trung Quốc không muốn đánh, Việt Nam không dám đánh. Ông nói thế đúng được một nửa. Từ xa xưa cũng như cận đại, Việt Nam không dám gây chiến với Trung Quốc mà luôn bị bắt buộc phải đánh trả để bảo vệ độc lập, tự do của mình. Ông nói “Trung Quốc muốn làm nước lớn có hình ảnh đẹp. không thể dùng thủ đoạn chiến tranh đối với láng giềng”. Vậy năm 1979, Trung Quốc huy động mấy quân đoàn đánh Việt Nam là gì? Lại nói là “dạy cho Việt Nam một bài học”. Việt Nam có xâm phạm Trung Quốc đâu? Việt Nam phạm tội gì mà phải dạy, có chăng là tội không tuân phục Trung Quốc, không đáp ứng những yêu cầu vị kỉ của Trung Quốc?! Thật đúng như người ta từng nói “Đừng chỉ nghe lời người Trung Quốc nói, hãy xem việc họ làm”.

Suốt 10 thế kỷ, Việt Nam luôn là nạn nhân của chiến tranh xâm lược của nước ngoài, đã tốn bao xương máu để giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc của mình. Việt Nam tha thiết với hòa bình hơn ai hết. Việt Nam không có lợi ích gì gây hấn với nước láng giềng lớn Trung Quốc, luôn muốn chung sống hòa bình hữu nghị với Trung Quốc, tôn trọng bạn láng giềng, hợp tác kinh tế trên tinh thần bình đẳng cùng có lợi, giao lưu với nhau về nhiều mặt. Việt Nam cũng yêu cầu Trung Quốc chung sống hữu nghị thật lòng với mình không chỉ trên lời nói mà thể hiện trên việc làm, tôn trọng độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia của Việt Nam. Hai bên đều hành xử đúng thì mới xây dựng được thành láng giềng hữu nghị thật sự, lâu dài.

Kính chào

Nguyễn Trọng Vĩnh

Bản ông NTV gửi cho BauxiteVN

Tiểu sử Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (1916), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chính ủy Quân khu 4, Cục trưởng Cục Tổ chức trực thuộc Tổng cục Chính trị.

Thiếu tướng (1959).

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất…

Ông quê ở xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, tham gia Cách mạng năm 1937, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (ĐCSVN) năm 1939, nhập ngũ năm 1947.

Năm 1940 ông bị thực dân Pháp bắt giam. Sau khi được trả tự do (2.8.1945) ông được phân công về hoạt động tại huyện Đông Anh là Bí thư huyện ủy, kiêm Phó Chủ tịch huyện chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8.1945. Sau cách mạng tháng 8, tháng 11 năm 1945, ông được điều về làm Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Phúc Yên rồi tháng 10 năm 1946, là Bí thư tỉnh ủy kiêm Phó Chủ tịch tỉnh Thái Bình.

Tháng 2 năm 1947, trước yêu cầu của của cuộc kháng chiến chống Pháp, ông được điều vào quân đội là Chính ủy, Thường vụ khu ủy Khu 1. Từ 2.1948 đến 1950, ông là Trưởng phòng cán bộ và đảng vụ, Cục phó Cục Chính trị Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam, Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị.

Năm 1958, ông được cử vào làm Chính ủy Quân khu 4. Tháng 6.1961 ông ra Trung ương và giữ chức vụ Phó Tổng thanh tra Ban Thanh tra Chính phủ.

Tháng 8 năm 1961, ông là Bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa. Từ tháng 3 năm 1964 đến năm 1974, ông là Đoàn ủy Đoàn 959, kiêm Phó ban công tác miền Tây của Chính phủ (CP–38), Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Từ năm 1974 đến năm 1989, ông là Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, là vị đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc lâu năm nhất đồng thời lại là thời kì căng thẳng, xung đột giữa hai nước.

Ông là ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 3. Năm 1993, ông là Phó Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Việt Nam.

Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam.

Chú ý: Trong từ điển không ghi Thiếu tướng Nguyễn Văn Vĩnh từng giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nhưng theo một bài viết của Trung tướng Đặng Kinh thì tại thời điểm 1968 ông là Thứ trưởng Bộ quốc phòng.
Nội dung nay có nhầm lẫn. Ông Nguyễn Trọng Vĩnh chưa bao giờ giữ chức vụ Thứ trưởng BQP.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: